1
BỘ XÂY DỰNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
TRẦN ANH TUẤN
MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CÁC CÔNG TRÌNH DI SẢNKIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
THUỘC ĐỊA PHÁPTẠI QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨQUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
HÀ NỘI, 2017
1
2
TRẦN ANH TUẤN
MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CÁC CÔNG TRÌNH DI SẢN KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
THUỘC ĐỊA PHÁPTẠI QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
MÃ SỐ : 62.58.01.06
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
trường. Tôi xin trân trọng cảm ơn về sự giúp đỡ đó.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã
động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận án.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. NGUYỄN TỐ
LĂNG, PGS.TS. NGUYỄN TUẤN ANH-những người Thầy đã trực tiếp hướng
dẫn và đưa ra những định hướng và nhiều ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi
hoàn thành luận án này.
TRẦN ANH TUẤN
4
5
MỤC LỤC
6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên đầy đủ
CTDS
Công trình di sản
DS
Di sản
QHĐT
Quy hoạch đô thị
QLDS
Quản lý di sản
QLNN
Quản lý nhà nước
QLĐT
Quản lý đô thị
PADDI
Trung tâm Dự báo và Nghiên cứu đô thị2
TĐP
Thuộc địa Pháp
Tp. / TP.
Thành phố
HCM
chung, thành phố khá năng động, quy mô lớn, nhưng lại hỗn độn, có một cái gì đó
chưa hoàn chỉnh, như mới là bản nháp của một tương lai phát triển” [42].Với lịch
sử hình thành và phát triển hơn ba thế kỷ, chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa
khác nhau, Tp.HCMcó hệ thống DSKTĐT khá đa dạng và phong phú. Từ hai
thập niên trở lại đây, công tác QLDSchịu thách thức ngày càng lớn phát sinh
trong quá trình phát triển đô thị và trong mối quan hệ phức tạp giữa quyền lợi và
nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến DSKTĐT (nhà nước, chủ sở hữu, nhà đầu
tư, người dân).
Trên thực tế, số lượng DSKTĐTđang có xu hướng hao hụt, bị ảnh hưởng từ
môi trường, từ ngoại cảnh đã nghiêm trọng đến mức có thể liên tưởng tới giới hạn
về thời gian tồn tại. Nhìn qua bức tranh toàn cảnh, như những thành phố lớn khác
của Việt Nam, những DSKTĐTở Tp.HCMluôn ở trong tình trạng bị đe doạ, thậm
chí bị phá bỏ để xây mới. Hình ảnh điển hình nhất là các công trình kiến trúc tiêu
biểu ở trung tâm thành phốđã và đang bị “đè bẹp” bởi vô số cao ốc mới xây,
nhiều con đường vốn có không gian thoáng đẹp trước đây trong lõi đô thị nay trở
nên ngột ngạt vì sự chen chúc của rất nhiều khối nhà cao tầng đồ sộ.
“Các DS kiến trúc không chỉ là những sáng tạo của nghệ thuật và khoa học,
mà còn mang trong nó dấu ấn lịch sử, dấu ấn thời đại, dấu ấn xã hội mà từ đó nó
được hình thành. Từ hướng tiếp cận lịch sử, DS kiến trúc là những pho sách mà
qua đó chúng ta có thể “đọc” được nhiều thông tin xã hội mà nó sinh ra. Hay cũng
có thể cho rằng, DS kiến trúc là một dạng hiện vật khảo cổ nổi trên mặt đất, mà
những thông tin cũng dồi dào hoặc không nói là hơn các hiện vật khảo cổ học. Đó
10
là những thông tin cho biết công trình kiến trúc ấy thuộc thời đại nào, về quan
điểm, về giá trị của cuộc sống” [71].Như vậy, bảo tồn và quản lý hiệu quả di sản
không chỉ vì lợi ích kinh tế trước mắt, mà còn phục vụ cho khai thác lâu dài về
sau, phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của cả cộng đồng, từ đó tạo cơ hội cho
PTĐT bền vững, nâng cao chất lượng sống của người dân thành phố.
Vì thế, một chiến lược, chính sách quản lý quỹ DSKTĐT một cách hiệu quả, lâu
dài, tìm ra được những phương cách can thiệp và đối xử hợp lý, mềm dẻo cho
chính từng DS hay các nhóm DSKTĐTđang trở thành đòi hỏi cấp bách. Đó không
phải là công việc riêng của ngành văn hóa hay các chuyên giaDS, mà là công việc
của nhiều cấp, ngành, của mỗi cộng đồng dân cư và rộng hơn là cả xã hội, để việc
bảo tồn DS kiến trúc giữ được quan hệ hài hòa với phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm mục tiêu tăng trưởng, giữ được bản sắc riêng của mỗi đô thị.
Tp. HCMhiện nay đang thừa hưởng nhiều DSKTĐTTĐP gắn với quá trình
tạo thị của thành phố khi được chuyển hoá từ những điểm dân cư đô thị kiểu
phương Đông truyền thống sang hình thái một thành phố kiểu phương Tây hiện
đại. Q1, nơi được xem là tập hợp nhiều DS trong quỹ DSKTĐT nói chung và quỹ
DSKTĐTTĐP nói riêng, phản ánh rõ ràng nhất những biến chuyển và đổi thay
theo từng hoàn cảnh lịch sử của thành phố. Đây cũng là nơi đón nhận đầu tiên,
trên phương diện vật chất là những làn sóng đầu tư từ nước ngoài và trên phương
diện tinh thần là những ảnh hưởng tư tưởng năng động từ một thế giới ngày càng
mở hơn bởi quá trình toàn cầu hoá. Chính vì vậy, có thể thấy Q1 phải chịu nhiều
áp lực ngoại sinh và mâu thuẫn trong nội tại việc gìn giữ những cái cũ, mà cụ thể
hơn ở đây là các DSKTĐT (trở thành phần hồn, phần “gốc”, tạo nên bản sắc riêng
không chỉ cho mình mà còn cho toàn thành phố khi nó đóng vai trò của một lõi
trung tâm đô thị lịch sử) với việc đón nhận những cái mới (trở thành những động
lực thể hiện tính năng động kích thích tăng trưởng đô thị).Trong bối cảnh như
trên, việc tiếp cận, nghiên cứu và hiểu các CTDS KTĐTTĐPnói riêng và các
CTDS KTĐT nói chung, ởQ1 nói riêng và tại Tp. HCMnói chung, để từ đó có
được những giải pháp quản lý bền vững sẽ làm tiền đề để các DStiếp tục được gìn
giữ một cách khoa học và có thể phát huy vai trò hướng đến một sự PTĐT bền
vững chung.
12
13
thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về quỹ DS KTĐT TĐP; đồng thời đối chiếu với
phương thức thực tế về quản lý quỹ DSKTĐT hiện tại để rút ra kết luận bổ ích
cho thực tiễn và khoa học.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn, tham khảo các chuyên
gia đang hoạt động trong các ngành có liên quan trực tiếp và gián tiếp DSđể xem
xét nhận định bản chất của việc QLDS và PTĐT, tìm ra những mô hình và giải
pháp tối ưu.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Tổng kết nhận dạng những giá trị của các CTDS KTĐT TĐP tại Q1 gắn
liền với quá trình tạo thị của Tp. HCM thông qua việc khảo sát, tổng kết và đánh
giá toàn bộ các công trình thuộc quỹ DS này dưới góc độ QLDS.
- Hệ thống hoá những khái niệm, quan điểm mới liên quan đến DS và
QLDS, đặc biệt là DS KTĐT thuộc địa để làm cơ sở cho những thay đổi trong
tương lai nhằm đáp ứng những nhu cầu mới của các đô thị Việt Nam nói chung và
TP. HCM nói riêng, nơi giao thoa rõ nét của phát triển các yếu tố mới và bảo tồn
các yếu tố cũ gắn với ký ức đô thị, nơi chịu ảnh hưởng của toàn cầu hoá và vấn đề
gìn giữ những giá trị truyền thống ðể tạo ra những ðô thị có bản sắc và cá tính
riêng thông qua lịch sử, văn hoá.
- Tạo cơ sở cho việc thống nhất hoá và chuẩn hoá các công tác liên quan
đến DS ở nhiều cấp độ quản lý khác nhau theo chiều dọc và có thể liên kết nhiều
cơ quan quản lý của các địa phương khác nhau theo chiều ngang.
- Đóng góp cho chính sách phát triển DS gắn liền với việc pháp lý hoá sự
tồn tại của DS, khai thác bền vững các giá trị DS trong cuộc sống đô thị đương
đại thông qua những ngành kinh tế có thể phát huy giá trị DS ở nhiều cấp độ khác
nhau.
- Gợi ý những cơ chế QLDS năng động và chủ động hơn dựa trên sự tận
dụng các nguồn lực từ cộng đồng, tích hợp khu vực kinh tế tư nhân, đơn giản hoá
15
Các khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong luận án
- Di sản kiến trúc đô thị: DSKTĐT được hiểu một cách chung nhất là các
sản phẩm kiến trúc vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật nằm
trong khu vực đô thị.Công trình kiến trúc được coi là DSKTĐT khi nó mang
những giá trị tiêu biểu đặc trưng về các khía cạnh lịch sử, văn hóa, nghệ thuật đối
với dân cư địa phương, quốc gia, hoặc cộng đồng quốc tế được đặt trong bối cảnh
vận động và phát triển chung của đô thị.Việc đánh giá giá trị, phân loại, xếp hạng
hay đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác giá trị DSKTĐT thường hay gây ra
mâu thuẫn xã hội giống như đối với nhiều loại DSVH khác. Nguyên nhân chính
là do các tổ chức cá nhân thường có mối quan tâm khác nhau và cách hiểu khác
nhau về giá trị tiêu biểu đặc trưng của DSKTĐT cũng như các giải pháp hợp lý để
duy trì các giá trị này. Ngoài ra, do các DSKTĐT đôi khi không còn nguyên vẹn
hoặc bị biến dạng, thay thế nhưng lại liên quan đến nhiều sự kiện lịch sử, văn hóa,
chính trị,xã hội khác nhau,có khả năng làm thay đổi quan niệm về giá trị của toàn
bộ DS.
- Thuộc địa Pháp: [1] Thời kỳ thuộc địa Pháp hay thời kỳ Pháp thuộc được
tính từ thời điểm năm 1858 khi hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng,
sau đó tiến vào xâm chiếm Sài Gòn, cho đến năm 1954 khi quân đội Pháp chính
thức rút khỏi (miền Bắc) Việt Nam. Thời kỳ này chia làm 3 giai đoạn: (1) giai
đoạn 1862-1887 có thể gọi là thời kỳ bán thuộc địa, (2) giai đoạn 1887-1945 là
thời kỳ thuộc địa thực sự của người Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam, (3) giai
đoạn 1945-1954 là thời kỳ Kháng chiến chống Pháp (hay chiến tranh Đông
Dương) nhằm chống lại chế độ thuộc địa của người Pháp tại Việt Nam.
- Kiến trúc thuộc địa: KTTĐ là kiến trúc được hình thành tại các xứ thuộc
địa của các nước đế quốc, chủ yếu là các cường quốc Châu Âu như Anh, Pháp,
Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan… Sự tiếp xúc với văn hoá Châu Âu do quá
trình mở rộng thuộc địa mang tới những ảnh hưởng khác nhau theo những không
vậy, có thể hiểu, QLDS là thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa cơ quan QLNN về
DS và cộng đồng dân cư địa phương nơi có DS cần được quản lý. Người ta
thường đề cập những dạng hoạt động chính trong QLDS: (1) QLDS về mặt pháp
lý và khoa học (nghiên cứu, xây dựng hồ sơ khoa học và pháp lý DS);(2) QLDS
17
về mặt khoa học - kỹ thuật (quản lý các hoạt động khai thác, can thiệp, phát triển
DS); (3) QLDS gắn với các chính sách, chiến lược kinh tế, xã hội địa phương.Về
mặt chiến lược, QLDS đặt ra những nhiệm vụ chính phải thực hiện là:(1) Nhận
dạng các giá trị tiêu biểu của DS và tình trạng kỹ thuật, hiện trạng môi trường
thiên nhiên và xã hội xung quanh DS; (2) Làm rõ các yếu tố tác động tới DS theo
cả hai chiều thuận và nghịch để có định hướng kiểm soát được những tác động
tiêu cực làm ảnh hưởng tới sự toàn vẹn và suy giảm giá trị của DS; (3) Nghiên
cứu đề xuất các giải pháp giảm thiểu những xung đột có thể xảy ra trong quá trình
bảo tồn và phát triển DS, tức là tạo lập sự cân bằng động giữa bảo tồn DS và phát
triển kinh tế xã hội; (4) Phát huy giá trị, truyền thống giáo dục, hình thành thái độ
ứng xử văn hóa cho các cộng đồng có hoạt động liên quan tới DS; (5) Huy động
các nguồn lực xã hội, nguồn lực tài chính cho các hoạt động QLDS.
- Quản lý các công trình di sản kiến trúc đô thị:là tổng thể các hoạt động
nhằm mục đích phát huy bền vững nhất những lợi ích mà các CTDS KTĐT có thể
mang lại cho đời sống cộng đồng đô thị như lợi ích về văn hóa - tinh thần, lợi ích
về kinh tế, nghĩa là một đô thị với nhiều DSKTĐT có bản sắc, có ý nghĩa lớn đến
sức hấp dẫn cho các hoạt động kinh tế, văn hóa chính trị và trực tiếp sinh ra các
nguồn lợi vật chất.Sự biến dạng, phá hủy các giá trị DSKTĐT sẽ làm thiệt hại cấu
trúc không gian và kinh tế đô thị, đôi khi nguy hiểm đến mức làm lụi tàn đô thị do
đánh mất bản sắc riêng, giống như “tự sát về văn hóa” (culturalsuicide).
-Nhà nước: trong QLDS thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án,Nhà nước
được hiểu là các cơ quan công quyền đại diện quản lý các CTDS. Các cơ quan
này bao gồm các cơ quan hành chính địa phương (UBND cấp tỉnh/thành phố,
CHƯƠNG I.
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH DI SẢN
KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ THUỘC ĐỊA PHÁP TẠI QUẬN 1
VÀ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
1.1. Quản lý công trình di sản kiến trúc đô thị trên thế giới
Nhiệm vụ quản lý cácCTDS nói chung và CTDS KTĐT nói riêng ngày
càng đặt ra nhiều vấn đề cho các quốc gia trên thế giới, khi mà:
- Khái niệm “di sản” ngày càng được khẳng định là một đối tượng đô thị
mà sự “xâm nhập” của chúng vào đời sống đô thị hiên tại ngày càng toàn diện
hơn và khoa học QLDS ngày càng gắn kết hơn với khoa học QLĐT;
- Việc chuyển đổi chức năng QLDS đô thị, từ độc quyền của Nhà nước đến
chia sẻ với các khu vực phi Nhà nước, cộng đồng địa phương, từ đó dẫn đến
những thay đổi về quan điểm: trong suốt một thời gian dài, DS vốnđược coi là
một “chất men” của các quốc gia, thì bây giờ đã trở thành những thách thức và
khẳng định bản sắc địa phương; việc tổ chức, QLDS có thể dẫn đến việc tái cấu
trúccác quyền hạn và phân cấpQLĐT;
- Có nhiều thay đổi trong quan niệm về tăng trưởng và PTĐT, với cách
thức quy hoạch phổ biến dựa trên chủ nghĩa công năng và chủ nghĩa duy lý,
khẳng định bằng những “đổi mới đô thị” mà đôi lúc trong quá trình này các giá trị
truyền thống “cổ điển” của đô thị bị xem nhẹ.
DSVH nói chung và DS KTĐT nói riêng, cho dù ở cấp độ ảnh hưởng nào,
địa phương, quốc gia hay quốc tế, đều là một phần của kho báu nhân loại. Do đó
trên thế giới hiện đang có trào lưu đẩy mạnh và phát triển các giá trị DS KTĐT
nhằm tạo ra những tăng trưởng mới cho đô thị trong khi các ngành kinh tế đô thị
20
truyền thống bắt đầu bước vào ngưỡng tới hạn. Ở một chừng mực nào đó, thế giới
cũng có nhiều bài học thành công hoặc thất bại liên quan đến vấn đề DS do những
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Các khái niệm về DS KTĐT có vẻ đơn giản khi mới tiếp cận, nhưng lại
phức tạp hơn nhiều nếu muốn hiểu trọn vẹn, khi tiếp tục phát triển các khái niệm
theo chiều hướng mở rộng ra trong những mối liên hệ đa ngành như xã hội, kinh
tế, đô thị, du lịch, văn hóa… Quản lý và tổ chức các hoạt động cần thiết cho sự
phát triển DSKTĐT là công việc có khối lượng lớn và chịu sự thay đổi tùy theo
bối cảnh, phụ thuộc vào: (1) lịch sử và các tổ chức hành chính của một quốc gia,
bao gồm cả việc phân quyền, tản quyền giữa TW và địa phương;(2) các công cụ
pháp lý, tài chính, kiểm soát… cũng như các dự án về DS.Những yếu tố này
không được đề cập cụ thể trong Luật DSVH nhưng lại được tiếp cận dưới nhiều
21
cách hiểu, quan niệm khác nhau, trong các bộ luật khác liên quan đến đô thị như
Luật QHĐT, Luật môi trường, Luật thuế…
Hiện nay ở nhiều nước, QLDS đang tiếp tục được nghiên cứu để tìm ra các
phương cách hiệu quả phát triển bền vững DS. Đây được xem là một lĩnh vực
quản lý đa chiều, đa chủ thể với các công việc mang tính đặc thù cao như:
- Theo dõi sự phát triển lịch sử của các DS, để hiểu được cách chúng gắn
kết vào đô thị, kể từ khi được xây dựng cho đến nay, để minh họa cho lý do tại
sao DS đô thị luôn gắn kết với đô thị vào những giai đoạn khác nhau, tùy thuộc
vào bối cảnh, thể chế, lịch sử, địa lý của mỗi đô thị;
- Nghiên cứu tính hệ thống trong cách tiếp cận cơ quan quản lý để bảo vệ
các DS đô thị, để hiểu cách bảo vệ và tăng cường các hoạt động phát triển DS,
đặc biệt là khi chúng được quan niệm và đối xử bởi việc gán cho những vai trò
chức năng, giá trị khác nhau trong các luật khác nhau, làm thế nào để có thể tạo ra
các nguồn tài chính chủ động và phối hợp những tác nhân khác nhau, trong đó
nhà quản lý đóng vai trò điều phối và kiểm soát thực hiện;
- Phân chia cụ thể vai trò và chức năng của từng chủ thể liên quan tham gia
dân cư. Sài Gòn - Gia Định vẫn là địa bàn của vài nhóm dân cư cổ cho tới khi
người Việt xuất hiện.
(2) Thời kỳ khai phá: Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lý miền Nam
và lập phủ Gia Định, hai huyện Phước Long, Tân Bình. Vùng Nam Bộ được
sápnhập vào cương vực Việt Nam. Công cuộc khai hoang được tiến hành theo
những phương thức mới, hiệu quả hơn.
(3) Thời kỳ Gia Định - Sài Gòn: Năm 1790, Nguyễn Ánh xây dựng thành
Bát Quái (thành Quy) làm trụ sở của chính quyền mới. “Gia Định thành”được đổi
thành “Gia Định kinh”. Năm 1835, Minh Mạng xây dựng thành Phụng để thay
thế thành Bát Quái. Năm 1859, Pháp chiếm được thành Gia Định và xây dựng
“Thành phố Sài Gòn”.
Ngày 08/01/1877, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh chính thức thành lập Thành
phố Sài Gòn. Thành phố Sài Gòn được xếp vào loại “Thành phố lớn” (Grande
Municipalité) hay là “Thành phố cấp I” (Municipalité de première classe). Sài
23
Gòn trở thành trung tâm quan trọng, không chỉ về hành chính mà cònvề kinh tế,
văn hóa, giáo dục của cả Liên bang Đông Dương, được Pháp mệnh danh là “Hòn
ngọc Viễn Đông” (“La Perle de l'Extrême-Orient”) hoặc một “Paris nhỏ ở Viễn
Đông” (“Le petit Paris de l'Extrême-Orient”).
Hình 1.1: Bản đồ Sài Gòn do Trần Văn Học vẽ năm 1815 (Nguyễn Đình Đầu
sưu tập và vẽ lại)
Nguồn: [7]
(4) Thời kỳ “Thủ đô Sài Gòn”: Giai đoạn 1949-1954, Sài Gòn là thủ đô
của Quốc gia Việt Nam (do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu). Năm 1954, sau
Hiệp định Genève, Việt Nam bị chia cắt thành 2 miền. Đến năm 1955, Việt Nam
Cộng hòa được thành lập, Sài Gòn khi đó là thành phố lớn nhất tại miền Nam
Việt Nam đã được chọn làm thủ đô với tên gọi chính thức “Đô thành Sài Gòn”.
Xây dựng
thành phố
186
2
Mốc 1
Hình thành
đô thị
Phương án quy hoạch Coffyn xây dựng thành phố Sài Gòn
24
Sài Gòn(Chợ Lớn)
Mốc 3
Sài Gòn Tp. HCM
phát triển
186
8
Xây Dinh Thống soái Nam Kỳ
192
3
KTS Hébrard chỉnh lý quy hoạch Sài Gòn
Với sự xuất hiện của người Pháp, cuối thế kỷ XIX, các đô thị Việt Nam từ
mô hình cổ truyền với chức năng là trung tâm chính trị đã chuyển sang phát triển
theo mô hình đô thị công-thương nghiệp phương Tây, chú trọng đến chức năng
kinh tế hơn. Năm 1859, sau khi chiếm thành Gia Định, người Pháp gấp rút quy
hoạch lại Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ mục đích khai thác thuộc địa. Gắn
với quá trình tạo thị thành phố Sài Gòn theo hướng hiện đại kiểu phương Tây,
người Pháp xây dựng nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị và kiến trúc lớn chủ
yếu tại khu vực Q1 ngày nay, mà cho đến bây giờ chúng vẫn còn tồn tại và trở
thành những yếu tố đô thị quan trọng của Q1 nói riêng và của Tp.HCM nói
chung. Tương ứng với thời kỳ TĐP 1859-1954, các dấu ấn hình thái KTĐT có thể
chia ra 3 giai đoạn như sau:
(1) Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn các Đô đốc - từ 1860 đến cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX: Cả công trình kỹ thuật đô thị lẫn kiến trúc lúc đó đều còn
mang tính cách quân sự, đường sá và nhà cửa được chia lô ngay ngắn, vuông vức.
25
Phương án quy hoạch đầu tiên cho Sài Gòn của Đại tá công binh Coffyn làm theo
dạng quy hoạch Paris của thị trưởng Haussmann, ô vuông bàn cờ và đại lộ, quảng
trường, rất thời thượng ở châu Âu cuối thế kỷ 19. Theo [42], nói về quy hoạch Sài
Gòn giai đoạn này, người Pháp nặng về phần phô trương quyền lực thực dân với
trục đường hoành tráng, cửa nhà khang trang nhưng lại chưa xây dựng được hạ
tầng kỹ thuật đô thị và nhất là đẩy người bản xứ vào các khu ở chật chội, lầy lội,
thiếu vệ sinh. Đó là lối “quy hoạch giả tạo”, không giải quyết được các vấn đề cơ
bản đô thị và mang tính phân biệt đối xử.
Hình 1.2 : Quy hoạch Sài Gòn của Coffyn năm 1862
Nguồn: [52]
Được xây dựng trong thời kỳ này là một số công trình kiến trúc hoành
tráng nhằm phô trương thanh thế đế quốc Pháp, ví như Dinh Norodom, Nhà thờ,