BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾTP HỒCHÍ MINH
NGUYỄN THỊKIỀU THÚY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀCHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔNCỦA HUYỆN CHÂU
THÀNHTỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phốHồChí Minh –2016
BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾTPHỒCHÍ MINH
NGUYỄN THỊKIỀU THÚY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀCHO LAO ĐỘNG NÔNG
THÔNCỦA HUYỆN CHÂU THÀNHTỈNH HẬU GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hướng dẫnkhoa học: PGS.TS ĐINH PHI HỔ
Thành phốHồChí Minh –2016
quan như UBND huyện, phòng Lao động –Thương binh & XH, phòng Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn, Trung tâm dạy nghề, UBND các xã, thịtrấn đã
quan tâm giúp đỡtôi trong quá trình thu thập sốliệu.Xin chân thành cám ơn tập
thểlãnhđạo, cũng toàn thểcán bộcông chức nhân viên Văn phòng HĐND&UBND
huyện đã tạo điều kiện cho tôi tham gia khóa học và giúp đởtôi khi thực hiện
nghiên cứu đềtài.Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến gia đình, người thân
và bạn bè luôn động viên, chia sẽ, giúp đỡtôi trong quá trình thực hiện đềtài. Trong
quá trình viết luận văn không tránh khỏi những sai sót, rất mong được sựgóp ý của
quý thầy cô và toàn thểcác bạn.Nguyễn ThịKiều Thúy
MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiCùng chung quá trình công nghiệp hóa, đô thịhóa đất
nước, lại là một trong những huyện được tỉnh Hậu Giang xác định là địa bàn phát
triển công nghiệp trọng điểm của tỉnh, vì vậy từnăm 2005 đến năm 2014, huyện
Châu Thành đã sửdụng khoảng 647,8ha diện tích đất nông nghiệp đểxây dựng
các khu cụm công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư và cơ sởhạtầng, làm cho diện
tích đất canh tác bịthu hẹp đáng kể, dẫn đến sốlượng lao động bình quân trên một
diện tích đất canh tác tăng lên, làm dư thừa một lực lượng lao động nông nghiệp và
đã tạo ra cầu vềlao động phi nông nghiệp, một bộphận lao động phải chuyển
sang các nghềkhác tại nông thôn hoặc trởthành lao động công nghiệp và dịch vụ.
Tuy nhiên, huyện Châu Thành vẫn là huyện nông nghiệp với các hoạt động sản
xuất nông nghiệp giữvai trò chủđạo đối với sựphát triển kinh tế-xã hội của
huyện, điều kiện khí hậu và thổnhưỡng của huyện Châu Thành thích hợp
trồng các loạicây ăn trái (cam, chanh, bưởi, mít...) và cây lúa, nên đểnhững mặc
hàng nông sản đặc trưng của huyện có đủđiều kiện bán cho thịtrường trong nước
và xuất khẩu sang thịtrường thếgiới, đòi hỏi huyện Châu Thành phải áp
dụng mạnh mẽtiến bộcủa Khoa học và Công nghệvào sản xuất nông nghiệp
đểtăng năng sức lao động và năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa. Điều này
đòi hỏi cao vềtrình độtay nghềcủa người lao động. Chính phủđã Ban hành Quyết
định số1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 vềviệcphê duyệt Đềán “Đào tạo
động nông thôn của huyện trong thời gian tới.3.Câu hỏi nghiên cứuNhững
yếutốnào ảnh hưởngvà mức độảnh hưởng từng yếu tốđến chất lượng đào tạo
nghề?
3Giải pháp nào góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghềcho lao động nông thôn
của huyện trong thời gian tới?4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu4.1 Đối tượng
nghiên cứuChất lượng đào tạo nghềcho lao động nông thôn củahuyện Châu
Thành –tỉnh Hậu Giang.4.2 Phạm vi nghiên cứu4.2.1Về nội dung nghiên cứuĐềtài
nghiên cứu xácđịnh các yếutốvà mức độảnh hưởngcủa các yếutốđến chất lượng
đào tạo nghềcho lao động nông thôn.Đềtài chỉnghiên cứu đào tạo nghềngắn hạn
(trình độsơ cấp nghềvà dạy nghềdưới 3 tháng) cho lao động nông thôn.4.2.2Về
không gianĐềtài nghiên cứu trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang. 4.2.3
Về thời gian+ Tài liệu, sốliệu thứcấp trong 4 năm 2011 –2014+ Thông tin sốliệu sơ
cấp tìm hiểu nghiên cứu trong năm 20155.Ý nghĩa thực tiễn của đề tàiKết
quảnghiên cứu sẽlà cơ sởgiúp các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương
(huyện Châu Thành –tỉnh Hậu Giang và các xã, thịtrấn thuộc huyện Châu Thành –
tỉnh Hậu Giang) có sựnhìn nhận tổng quan vềchất lượng đào tạo thông qua
sựđánh giá từphía laođộng nông thôn đã quahọc nghềvà đồng thời giúp cho Trung
tâm dạy nghềcủa huyện trong việc xác định các yếu tốquan trọng ảnh hưởng nhiều
đến chất lượng đào tạo nghề.Các địa phương khác có thểtham khảo kết
quảnghiên cứu đểđịnh hướng xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng đào tạo
nghề.
4Chương 1. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN1.1 Một số khái
niệm1.1.1 Khái niệm về nghềTheo Nguyễn Hùng (2008, p.11): “Những chuyên
môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên
môn và được gọi là nghề. Nghềlà tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại,
gần giống nhau. Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người
dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình đểtác động vào những
đối tượng cụthểnhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụmục đích,
chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn từhoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp chuyển lao động lĩnh vực phi nông nghiệp.Phạm Bảo Dương (2011,
p.674):” Đào tạo nghềcho lao động nông thôn, đặc biệtcho người nghèo, đồng bào
dân tộc thiểu sốđược xem là chìa khóa đểđa dạng hóa sinh kế, giúp họthoát
được ‘bẫy đói nghèo –poverty trap’ đểgiảm nghèo bền vững. Kinh nghiệm phát
triển nông thôn ởcác nước trên thếgiới cũng đã chỉrõ đào tạo nghềcũng là
phương thức hữu hiệu đểngười lao động có thểchuyển đổi nghềnghiệp sang
những ngành nghềđem lại cho họthu nhập cao hơn, tránh được ‘bẫy thu nhập trung
bình”.Theo điều 5, luật dạy nghề(2006), thì đào tạo nghề(dạy nghề) là: Hoạt động
dạy nghềvà học nhằm trang bịkiến thức, kỹnăng và thái độnghềnghiệp cần thiết
cho người học nghềđểcó thểtìm được việc làm hoặc tựtạo việc làm sau khi hoàn
thành khóa học.1.2 Chất lượng và chất lượng đào tạo nghề1.2.1 Chất lượngTheo
từđiển tiếng Việt, NXB Văn hóa –Thông tin (1999), chất lượng là phạm trù
triết học biểu thịnhững thuộc tính bản chất của sựvật, chỉrõ nó là cái gì,
6tính ổn định tương đối của sựvật phân biệt nó với sựvật khác, chất lượng là
đặc tính khách quan của sựvật. Chất lượng biểu thịra bên ngoài qua các thuộc tính.
Nó là cái liên kết các thuộc tính của sựvật lại làm một, gắn bó với sựvật như một
tổng thểbao quát toàn bộsựvật và không tách rời khỏi sựvật. Sựvật khi vẫn còn là
bản thân nó thì không thểmất đi chất lượng của nó. Sựthay đổi chất lượng kéo theo
sựthay đổi của sựvật. Vềcăn bản, chất lượng của sựvật bao giờcũng gắn với
tính quy định vềsốlượng của nó và không thểtồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi
sựvật bao giờcũng là sựthống nhất giữa sốlượng và chất lượng”.Theo Iso 9000
(2000), chất lượng là mức độmà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứng
được các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm.Chất
lượng sẽđược đánh giá bằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của
các đặc trưng phẩm chấtđối nghịch với tính nhất quán và giá trịbằng tiền. Đào tạo
nghềsẽđảm bảo nâng cao chất lượng nếu thực hiện tốt các nhân tốnhư: Đáp
ứng yêu cầu của khách hàng, tập trung vào con người và mọi đóng góp xây dựng
ThịThuận và Đồng ThịVân Hồng (2014), các yếu tốảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo nghềlà: Độingũ cán bộgiảng dạy, chương trình đào tạo, cơ sởvật
chất.Cụthểlà nâng cao trình độđội ngũ giáo viên và cán bộquản lý;phát triển
chương trình, giáo trình đào tạo;tăng cường đầu tư trang thiết bịdạy nghề.Nguyễn
Văn Hùng (2015), các yếu tốtác động đến đảm bảo chất lượng đào tạo nghềbao
gồm các yếu tốkhách quan như: luật pháp, chính sách giáo dục và chính sách
giáo dục đào tạo nghề; cơ chếquản lý giáo dục; khoa học công nghệ; nhu cầu
của nền kinh tếhay nhu cầu của thịtrường lao độngvà các yếu tốchủquan bên trong
nhà trường nhưmục tiêu đào tạo của nhà trường; chương trình đào tạo; cơ sởvật
chất; đội ngũ giáo viên và cán bộquản lý.Thông tư số19/2010/TT-BLĐTBXHngày
7 tháng 7 năm 2010 của BộLao động –Thương binh & Xã hội tại chương I điều 4,
có Quy định hệthống tiêu chí,
8tiêu chuẩn kiểm định chất lượng Trung tâm dạy nghề, các tiêu chí đánh giá
bao gồm: Mục tiêu và nhiệm vụ; tổchức và quản lý; hoạt động dạy và học; giáo
viên và cán bộquản lý; chương trình và giáo trình; thư viện; cơ sởvật chất, thiết
bịvà đồdùng dạy học; quản lý tài chính; các dịch vụcho người học nghề.Mô hình
các nhân tốảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghềcủa Đặng Quốc Bảo (2004):
Theo Đặng Quốc Bảo, chất lượng đào tạo là kết quảcuối cùng đạt được bởi sựtác
động tích cực của các yếu tốcấu thành quá trình đào tạo. Có thểkhái quát quan
niệm trên qua mô hình sau:Hình 1.1.Các nhân tốảnh hưởng đến chất lượng đào
tạoTrong đó:Q: Là chất lượng đào tạo, chịu ảnh hưởng của các nhân tố: Môi
trường đào tạo; Đội ngũ giáo viên; Nội dung đào tạo; Cơ sởvật chất, tài chính;
Phương pháp và phương tiện đào tạo; Sinh viên.QMôi trườngSinh viênGiáo
viênNội dung đào tạoCơ sởvật chất, tài chínhĐào tạoPhương pháp và phương tiện
đào tạoĐào tạo
91.2.4Phân loại và các hình thức đào tạo nghềĐào tạonghềcó nhiều hình thức
phong phú và đa dạng, bao gồm: Đào tạo nghềdài hạn;đào tạo nghềngắn hạn;đào
tạo nghềtheo module; đào tạo nghềkèm cặp; đào tạo nghềlưu động. (Bùi Đức Tùng,
gồm kiến thức cơ bản của nghềvà sựcạnh tranh cần thiết. Việc đào tạo nghềvà nâng
cao tay nghềphảitheo nhu cầu thịtrường lao động và đào tạo kỹnăng dướinhiều
hình thức như tổchức tập huấn tại nhà kết hợp với tập huấn tại trường, vừa làm vừa
học tại công ty kết hợp với 100% thời gian học, tựhọc nhóm với nhau có
sựhỗtrợcủa công ty và xã hội (ILO, 2006). 1.3.1.3Ở ĐứcTheo Wilhelm Wehren
(2010) cho rằng,ởĐức có khá nhiều lao độngtrẻhọc nghềnông. Gia đình của học
viên nào có xí nghiệp, trang trại, họkhông học nghềtại xí nghiệp của gia đình
mà họcởxí nghiệp khác. HV học lý thuyết rất ít, chủyếulà thực hành. Giáo dục Đức
gọi đó là hệthống đào tạo "kép". HVphải làm bài thi và có nhiều bối cảnh được đưa
ra đểHV phải tìm hướng giải quyết. Sau tốt nghiệp, học viênmới được xem là
"nhà nông". Saumột năm làm việc thực tế, HV tốt nghiệp hệtrung cấp mới
được học tiếp lên hệcao đẳng.Theo TS Horst Sommer (2013) một trong những
nguyên nhân tạo nên tính hấp dẫn trong đào tạo nghềtheo mô hình nước Đức là
sựtương hợp cao giữa yêu cầu thịtrường lao động và bức tranh dạy nghề; sựkết
hợp tương đối chặt chẽgiữa lý thuyết, đào tạo trong trường và đào tạo thực hành
tại xí nghiệp. Và theo TS Horst Sommer (2013) cũng nhấn mạnh “ỞĐức, tiêu
chuẩn nghềnghiệp do các khối đại diện doanh nghiệp, nghề
11nghiệp quy định. Thời gian qua chúng ta đã mất nhiều thời gian đểchỉnghỉrằng
cần chỉtăng cường cơ sởvật chất, nâng cao trang thiết bịdạy nghềthì sẽcải thiện
được bức tranh của các trường nghềmà quên rằng còn cần nhiều yếu tốkhác, như
thay chất đội ngũ giáo viên, tăng cường thời gian thực hành cho người học tại các
doanh nghiệp, thực hành ởcác vịtrí sẽlàm việc trong tương lai...”Tóm lại, Quá
trình ĐTN cho LĐNT cần có sựliên kết chặt chẽgiữa cơ sởDN và doanh nghiệp
tuyển dụng lao động, cơ sởDN và doanh nghiệp cần xây dựng chương trình DN
cụthể. Ngoài việc dạy lý thuyết ởtrường còn kết hợp cho HV thựchành tại
xưởng, từđó giúp HV làm quen với môi trường việc làm sau khi kết thúc khóa
học.1.3.2 Công trình nghiên cứu trong nướcĐến thời điểm 31/12/2014, dân
sốcảnước là 90,7 triệu người. Sốngười từ15 tuổi trởlên 70,06 triệu (chiếm
mang nặng tính hình thức, tính khoa học. Vấn đềkỷluật lao động, tác phong
lao động công nghiệp chưa được quan tâm trong dạy nghề. Vấn đềđào tạo nghềcho
lao động nông thôn cần phải được xã hội hoá và có sựtham gia đầy đủcủa các cấp
chính quyền, doanh nghiệp, có sựhỗtrợcủa các tổchức quốc tế(Song Nhi, 2007).
Chất lượng nguồn nhân lực ởĐBSCL thấp, thấphơn mức trungbình cảnước và các
vùng trong nước. Nguồn nhân lực phục vụcho các doanh nghiệp hiện nay ởĐBSCL
chủyếu là nguồn lao động phổthông, so với nhu cầu thịtrường lao động thì còn
thiếu và yếu; đểđáp ứng nhu cầu lao động ngày càng cao vềchất lượng của các
doanh nghiệpthìcần có chiến lược phát triển nguồn lực trong đó ưu tiên phát
triển trình độchuyên môn,kỹnăngnghềvà cơ cấu lao động hợp lý (Võ Hùng Dũng,
2003). Yếu tốquan trọng đểnâng cao khảnăng cạnh tranh của các doanh
nghiệp vừa và nhỏởĐBSCLlà chất lượng lao động, tuyển dụng và sửdụng lao động
hợp lý.NguyễnVăn Hùng (2005), sựmất cân đối vềtỉlệlao động một phần là do
nhận thức của đa sốngười dânluôn muốn học làm thầymà ít ai chịu họclàm thợ.
Trong khi đó tỷlệcửnhân, kỹsư ra trường thất nghiệp ngày càng nhiều. Bên cạnh,
một bộphận lao động chưa xác định được vai tròcủa việc đào tạonghềnênhọchấp
13nhận những công việc giản đơn với mức lương thấp. Chất lượng đào tạo tại các
cơ sởđào tạo còn thấp, khoảng cách giữa đào tạo với việc làm sau còn khá xa,
những kiến thức được học ởtrường hầu như chỉphục vụrất ít trong quá trình
làm việc hoặcphải được đào tạo lại từđầu. Máy móc, thiết bịphục vụcho đào tạotại
các cơ sởdạy nghềhầu hết là cũ kỹ, lạc hậu.Mối liên kếtgiữa cơ sởđào tạo với
doanh nghiệp chưa được quan tâm nên dẫn đến thừa lao động trong lĩnh vực này
nhưng lại thiếu lao động ởlĩnh vực khác, hoặc lao động thiếu kỹnăng làm một công
việc nhất định theo yêu cầu của người sửdụng lao động.Theo con sốthống kê của
Tổng cục Dạy nghề(BộLao động –Thương binh và Xã hội), năm 2015nước ta có
170 trường cao đẳng nghề, 342 trường trung cấp nghềvà 870 trung tâm dạy nghề.
Hệthống trường nghềphát triển sâu rộng trong cảnước, tuy nhiên chất lượng đào
tạo chưa tương xứng.Ông Phạm Vũ Quốc Bình, Cục trưởng Cục Kiểm định chất
doanh nghiệp vềcơ cấu ngành nghềvà cơ cấu trình độlao động; tăng cường năng
lực đội ngũ giáo viên dạy nghề; đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo
theo nhu cầu của doanh nghiệp; tăng cường cơ sởvật chất, trang thiết bịdạy học;
xây dựng tiêu chuẩn kỹnăng nghềphù hợp với yêu cầu sản xuất; hoàn thiện cơ
chế, chính sách liên kết giữa đào tạo với sửdụng.Trịnh Thành (2011), xác định chất
lượng đào tạo chịu ảnhhưởng bởi 3 yếu tốđó là: Cơ sởvật chất, đội ngũ giáo viên,
tổchức và quản lý đào tạo với mức độtác động khác nhau. Kết quảnghiên cứu đã
xác định yếu tốđội ngũ giáo viên có tác động mạnh nhất, tiếp theo là yếu tốtổchức
và quản lý đào tạo và sau cùng là yếu tốcơ sởvật chất.Nguyễn ThịKim Thu (2012),
công tác đào tạo nghềtại các trường dạy nghềtrên thành phốHà Nội còn nhiều tồn
tại và bất cập như: Nội dung, chương trình đào tạo chưa đổi mới kịp thời, nội
dung còn nặng vềlý thuyết chưa chú trọngđến kỹnăng thực hành; phương pháp
đào tạo còn lạc hậu, chưa phát huy tính chủđộng, sáng tạo của người học; đội ngũ
giáo viên dạy nghềmột sốchưa đạt chuẩn, chưa có nghiệp vụsư phạm còn cao; cơ
sởvật chất và trang thiết bịthực hành còn thiếu, máy móchỏng, lạc hậu.
15Như vậy, chất lượng đào tạo nghềbịảnh hưởng bởi các nhân tố: Đội ngũ giáo
viên, chương trình đào tạo, cơ sởvật chất, dịch vụhỗtrợ, người học nghề, môi
trường học tập.Chương trình đào tạo nghề:CTĐTvừa là chuẩn mực đào tạo, vừa là
chuẩn mực đểđánh giá chất lượng đào tạo. Chất lượng đào tạo được đánh giá qua
khảnăng của học viênsau khi tốt nghiệp có đáp ứng được yêu cầu thịtrường lao
động hay không, do đó chương trình đào tạo phải đạt được mục tiêu ĐTN như
trong điều 33 Luật Giáo dục năm 2005 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục
nghềnghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹnăng nghềnghiệp ởcác trình
độkhác nhau, có đạo đức, lương tâm nghềnghiệp, ý thức kỷluật, tác phong CN, có
sức khỏe, nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khảnăng tìm kiếm việc làm,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế–xã hội, củng cốquốc phòng, an ninh”,
chương trình dạy nghềđược đào tạo theo các trình độ: dưới 3 tháng, sơ cấp nghề,
trung cấp nghềvà cao đẳng nghề.Theo Wentling: “CTĐT là một bản thiết kếtổng
thểcho một hoạt động đào tạo (đó có thểlà một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày,
một tuần hoặc một vài năm) bản thiết kếtổng thểđó cho biết toàn bộnội dung
người học cần được tạo điều kiện tốt nhất vềcơ sởvật chất cho học tập và thực
hành.Dịch vụhỗtrợ:Chất lượng dịch vụhỗtrợtrong hoạt động đào tạo nghềlà dựa
vào thái độphục vụcủa đội ngũ nhân viên trong trường, cán bộquản lý công tác đào
tạo nghề, sựquan tâm của lãnh đạo địa phương, của nhà trường trong việc định
hướng nghềnghiệp, dịch vụsinh hoạt. Sựthân thiện phục vụtận tình sẽgóp
phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề.Người học nghề:Là mục tiêu trọng tâm của
quá trình đào tạo nghề. Cho dù cơ sởvật chất đầy đủ, hiện đại; đội ngũ giáo viên
có trình độchuyên môn và kỹnăng nghềcao đến đâu mà thái độ, ý thức, khảnăng
của người học không cao cũng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề.
17Môi trường học tập:Cũng là một trong những nhân tốảnh hưởng không
nhỏđến chất lượng dạy và học. Khi môi trường học tập tốt, thân thiện, cơ sởđào tạo
thểhiện đúng trách nhiệm của mình thì chất lượng đào tạo nghềsẽđạt hiệu quả.1.4
Hạn chế của đào tạo nghề nông thônCả nước hiện có(năm 2015) 170 trường cao
đẳng nghề, 342 trường trung cấp nghề và 870 trung tâm dạy nghề. Nhiều trường
thuộc ngành Lao động-Thương binh và Xã hội được xây dựng bềthế. Thế nhưng
việc dạy nghề trong nhiều trường công lập chưa đạt yêu cầu, do chưa gắn với nhu
cầu của sản xuất, kinh doanh, của thị trường lao động nhiều người học xong không
tìm được việc làm hoặc tìm được việc nhưng nơi tuyển dụnghọ phải tốn thêm thời
gian và kinh phí để đào tạo lại. Cũng có nguyên nhân do các trường này thiếu trang
thiết bị cần thiết cho việc dạy và học,thiếu giáo viêngiỏi, địa điểm tổ chức lớp đôi
khi không thuận tiện cho việc đi lại của học viên .Sau5 năm triển khai Đề án 1956,
tỉnh Hậu Giang đạt được những kết quả tích cực nhưngcũng còn nhiều hạn chế, bất
cập như: Công tác dạy nghề vẫn chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn. Việc triển khai công tác dạy nghề còn chậm, thiếu
đồng bộ, chưa phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương. Một số nơi dạy
nghề còn chạy theo số lượng, chất lượng thấp, chưa phù hợp với nhu cầu của người
học và người sử dụng lao động. Trên thực tế, một số nghề như: Sửa chữa, cài đặt
máy vi tính; sửa xe gắn máy; sửa chữa điện thoại di động... được chính người học
quen với cách sản xuất truyền thống, nên dù được đào tạo tận tình, nhưng sau khi
họcxong, rất nhiều lao động nông thônlại quay về với cách làm cũ hoặc vẫn duy trì
thói quenỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Lao động nông thôn tham gia học nghề
hầu hết tuổi cao, trình độ học vấn thấp, điều kiện giao thông đi lại khó khăn; cùng
với tâm lý lo ngại sau khi đi học không tìm được việc làm, không có vốn... đã làm
hạn chế đáng kể sựtham gia tự giác, nhiệt tình của người có nhu cầu học nghề. Đây
cũng là khó khăn chung của nhiều địa phương trên cả nước trong quá trình triển
khai Chương trình Đào tạonghề cho lao động nông thôn (Tạp chí Cộng Sản, 2012).
19Theo Nguyễn Ngọc Phi (2012) chorằng: Một trong những nguyên nhân chủ yếu
khiến LĐNT không quan tâm tới học nghề là do chương trình học chưa phù hợp
dẫn tới học nghề không đem lại hiệu quả. Có những chương trình học quá chi tiết
về kỹ thuật nghề khiến người dân khó áp dụng vào thực tế. Mặt khác, lại có những
chương trình học thời gian chỉ cần khoảng một tháng lại kéo dài tới ba tháng gây
lãng phí thời gian, tiền bạc.Việc dạy nghề chưa gắn với giải quyết việc làm còn
xuất phát từ nguyên nhân xét chọn các đối tượng chưa thực sự chính xác,dẫn đến
thái độ học tập của học viên không đảm bảo theo thời gian quy định, còn ỷ lại vào
các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Bên cạnh đó, công tác khảo sát nhu cầu học
nghề và đề xuất đào tạo của địa phương chưa phù hợp với hoàn cảnh của người
học và nhucầu, định hướng phát triển của địa phương (Trần Lưu, 2011).Đề án đào
tạo nghề cho lao động nông thôn tại nhiều địa phương còn thiên về chạy theo số
lượng người học để giải ngânnguồn vốn, thiếu sự tính toán trên cơ sởkhoahọc và
kinh tế để xác định nghềcần đào tạo cho người dân; chưa thấy được việc giải
quyết lao động dư thừa trong nông thôn với xác định ngành nghề để
chuyển đổi cơ cấu lao động nhằm phát triển kinh tế là bài toán khó, lâu dài mà
Đảng, Nhà nước đang tậptrung giải quyết (Tạpchí Cộng sản, 2012).1.5Mô hình lý
thuyết nghiên cứuTừcơ sởlý thuyết, mô hình nghiên cứu, các tiêu chí đánh giá chất
lượng đào tạo nghềcủa BộLao động –Thương binh & Xã hội, kếthừa các nghiên
cứu trước và trước thực tiễn của địa phương, tác giảchọn ra một sốnhân tốchính
ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghềcho lao động nông thôn thông qua
sựđánh giá của người học đểthực hiện khảo sát cho nghiên cứu của mình.
23Huyện Châu Thành gồm 9 đơn vịhành chính: Thịtrấn Ngã Sáu, Thịtrấn Mái
Dầm, xã Đông phước, xã Phú An, xã Đông Thạnh, xã Phú Hữu, xã Đông Phước A
và xã Phú Tân.Huyện Châu Thành có vịtrí khá quan trọng vềan ninh quốc
phòng và kếhoạch phát triển sản xuất công nghiệp, sản xuất nông sản hàng hóa và
thương mại dịch vụ. Thếmạnh của huyện là sản xuất lúa, trái cây và nuôi
trồng thủy sản, là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các cơ sởcông
nghiệp chếbiến tại huyện và trong tỉnh.Hiện tại huyện Châu Thành còn rất nhiều
khó khăn trong việc phát triển giao thông đường bộ, cơ sởhạtầng kỹthuật còn
thiếu và chưa đồng bộ, điều kiện đểgiao lưu kinh tếcòn hạn chếvà các yếu
tốbất lợi khác, cũng như việc tiếp nhận những ưu đãi đầu tư và chuyển giao các
tiến bộkhoa học, kỹthuật, công nghệ, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực so với
nhiều địa phương khác còn nhiều khó khăndo hầu hết các xã đều thuộc các vùng
sâu, vùng xa, đơn thuần sản xuất nông nghiệp; qui mô và sốlượng sản xuất công
nghiệp –tiểu thủcông nghiệp, kinh doanh thương mại –dịch vụcòn hạn chế; mức
độtiếp nhận thông tin, khoa học, kỹthuật chưa nhiều, đô thịphát triển chưa
cao.Tuy nhiên, huyện Châu Thành với lợi thếnằm tiếp giáp với Thành phốCần Thơ
(là Trung tâm động lực phát triển kinh tế-xã hội và khoa học, công nghệcủa vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long), có tuyến Quốc lộ1A, quốc lộNam Sông Hậu,
khu công nghiệp Sông Hậu và nhiều tuyến đường tỉnh chạy qua nên huyện có: điều
kiện thuận lợi đểthu hút đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt là
các ngành công nghiệp nặng, chếbiến thủy sản và đã được xác định là địa bàn phát
triển công nghiệp trọng điểm của tỉnh, có triển vọng và cơ hội thuận lợi trong việc
thu hút đầu tư phát triển các độthịmới, chuyển đổi cơ cấu kinh tếtheo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa làm thay đổi bộmặt của huyện. Bên cạnh đó, phần
lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp nằm trong vùng quy hoạch sản xuất
lúa chất lượng cao và cây ăn trái tập trung của tỉnh, có mối quan hệkinh tế-xã hội
khăng khích với thịxã Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp, Châu Thành A, thành
phốCần Thơ
học.Lao động nông thôn học nghềthuộc diện đối tượng khácđược hỗtrợchi phí học
nghềngắn hạn tối đa 2.000.000 đồng/người/khóa học; hỗtrợtiền ăn 10.000
đồng/người/ngày thực học.Người học nghềđược vay vốn học nghềvà đểtựtạo việc
làm với lãi suất ưu đãi; nếu lao động nông thôn sau khi học xong nghềvềlàm ổn
định ởnông thôn còn được hỗtrợ100% lãi suất vốn vay học nghề.Người dạy
nghề(cán bộkỹthuật, kỹsư, người lao động có tay nghềcao tại các doanh nghiệp
và trung tâm khuyến nông –lâm –ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy
nghềcho lao động nông thôn được trảtiền công giảng dạy với mức tối thiểu 25.000
đồng/giờ; người dạy nghềlà các tiến sĩ khoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực nông nghiệp
được trảtiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000
đồng/người/buổi.2.2.3 Số lượng lao động nông thôn được đào tạo nghề trên địa
bàn huyện giai đoạn 2010 -2014Công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn
trên địa bàn huyện Châu Thành thời gian qua được sựquan tâm hướng dẫn của
cấp tỉnh, lãnhchỉđạo của UBND huyện, sựphối hợp giữa các ban ngành huyện,
các xã, thịtrấn, cùng với sựchủđộng của cơ quan chuyên môn (phòng Lao động –
Thương binh & Xã hội, Trung tâm dạy nghề, phòng Nông nghiệp) trong việc
đầu tư cơ sởvật chất, trang thiết bị, mởrộng các ngành nghềđào tạo phù hợp
với nhu cầu học nghềcủa lao động nông thôn và nhu cầu tuyển dụng của
thịtrường lao động, công tác tuyên truyền và tư vấn học nghềđã làm cho người
lao động nông thôn có sựchuyển biến tích cực vềnghềnghiệp nên sốlượng nhu cầu
học nghềcủa lao động nông thôn và chất lượng đào tạo nghềcủa huyện Châu Thành
tăng dần qua các năm. Tuy nhiên, sốlượng lao động nông thôn được đào tạo qua
các năm không đạt so với nhu cầu học nghề, do hàng năm tỉnh giao chỉtiêu
mởlớp vềcho huyện thấp hơn nhu cầu
26học nghềcủa lao động nông thôn và chỉtiêu của huyện giao, sốlượng lao
động được đào tạo dài hạn chưa có; chất lượng đào tạo nghềcho lao động nông
thôn vẫn chưa đáp ứng được cho nhu cầu của thịtrường lao động. Đây là một vấn
đềbất cập cần được sớm xem xét và giải quyết.Bảng 2.1.Lao động nông thôn được
nông thôn. Tuy nhiên, cũng có nhiều ngành nghềlao động nông thôn có nhu
cầu học nhưng không mởlớp được do sốhọc viên đăng ký học không đảm bảo
sốlượng theo quy định đểmởlớp.2.2.5Đội ngũ giáoviên, cán bộ quản lý dạy nghề
của huyệnHiện tại, Trung tâm dạy nghềhuyện Châu Thành có tổng sốgiáo
viên, cán bộquản lý là 42 người(36 giáoviên và6 cán bộquản lý), ký hợp đồng
thỉnh giảng với giảng viên, giáo viên của các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng
nghềvà các trungtâm dạy nghề, cán bộkhoa học của các trung tâm khuyến nông,
khuyến ngư, phòng Nông nghiệp trong và ngoài huyện...cùng tham gia dạy nghề.
Biên chế1 cán bộchuyên trách vềdạy nghềthuộc phòng Lao động –Thương Binh &
XH. Hầu hết giảng viên và cán bộquản lý đều có trình độchuyên môn và tay
nghề.2.2.6 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề của huyệnHiện Huyện Châu
Thành có một trung tâm dạy nghềvới tổng diện tích 3000m2, trong đó: Có
một trụsởlàm việc, một phòng học nghềhàn điện công nghiệp, 4 phòng học
thực hành và đượctrang bịmáy móc cơ sởvật chất một sốngành nghềphục vụcho
công tác giảng dạy như nghềcơ khí, nghềsửa chữa cài đặt máy vi tính, nghềmay
công nghiệp, nghềđiện dân dụng –công nghiệp, nghềkỹthuật xây dựng,
nghềsửa chữa điện thoại di động, nghềlàmtóc. Tuy nhiên, trang thiết bịdạy
nghềcòn thiếu không đáp ứng đủcác ngành nghềcần mởlớp hàng năm. 2.2.7
Chương trình, giáo trình dạy nghềĐến nay, Trung tâm dạy nghềđã ban hành
chương trình, giáo trình 14 nghềtrình độsơ cấp nghềvà dạy nghềthường xuyên
đểtriển khai đào tạo nghềcho lao động nông thôn. Tuy nhiên, sốlượng giáo trình,
tài liệu còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu cho người học nghềcảvềsốlượng
và nội dung
30Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Quy trình nghiên cứuHình 3.1.
Quy trình nghiên cứu3.2Phương pháp nghiên cứuBước điều tra đểxây dựng bảng
câu hỏi:Đặt vấn đềnghiên cứuCơ sởlý thuyếtĐiều tra khảo sátXửlý sốliệu thu
thậpđượcKiểm định thang đoPhân tích nhân tốkhám phá EFAĐiều chỉnh mô
hìnhPhân tích hồi quyKết quảnghiên cứuKết luận, kiến nghịXây dựng thang
giảcòn tiến hành thảo luận nhóm và tham khảo ý kiến của cán bộlãnh đạo
huyện, xã, cán bộquản lý và đội ngũ giáo viên dạy nghềthuộc Trung tâm dạy
nghềhuyện và học viên có tham gia học nghềởhuyện. Các thang đo và các biến
quan sát được mô tảchi tiết trong Bảng 2.3 nhằm xác định những yếu tốchính
ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề.Nhưng đểxác định được trong những
nhân tốnêu trên, nhân tốnào ảnh hưởng chính thức và mức độảnh hưởng của
từng nhân tốtới chất lượng đào tạo nghềcủa huyện thì tác giảlập mô hình nghiên
cứu chính thức Hình2.2và tiến hành phân tích định lượng đểcó được sựđánh giá sát
đáng.Bảng 3.1.Thang đo các yếu tốảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghềThang
đoKý hiệuChương trình đào tạo CTDTThông tin vềCTDTđược thongbáo đầu
đủcho người họcCTDT1Các môn học được phân bổhợp lýCTDT2Các môn học
bổsung kiến thức lẫn nhauCTDT3Thời gian phân bổcho dạy lý thuyết và thực hành
được đảm bảoCTDT4Nội dung lý thuyết được đảm bảo là cơ sởcho việc vận dụng
vào thực hànhCTDT5Các tài liệu học tập của khóa học thích hợp và được cập nhật
kiến thức mớiCTDT6Cơ sởvật chấtCSVCPhòng học, thực hành đảm bảo âm thanh,
ánh sáng và độthông thoángCSVC1Thư viện cung cấp tài liệu học tập phong phú
và dễmượnCSVC2Thiết bịcông nghệthông tin phục vụtốt cho việc học
tậpCSVC3TTB, phương tiện, học liệu phục vụdạy và học đầy đủ, hiện
đạiCSVC4Nguyên Vật liệu thực hànhCSVC5Trang thiết bịthực hànhCSVC6Cơ
sởdạy nghềCSVC7
33Địa điểm họcCSVC8Đội ngũ giáo viên DNGVGiáo viên có sựchuẩn bịbài
tốt.DNGV1Giáo viên có kiến thức chuyên môn và kỹnăng nghềvững chắc
với nghềđược phân công giảng dạyDNGV2Giáo viên quan tâm đến việc học và
tiếp thu bài của người họcDNGV3Giáo viên biết khuyến khích người học học tập
tích cựcDNGV4Giáo viên có phương pháp, kỹnăng giảng dạy tốtDNGV5Giáo viên
luôn sẵn sàng giúp đởngười học trong học tậpDNGV6Môi trường học
tậpMTHTThểhiện sựthân thiện với người họcMTHT1Cơ sởđào tạo luôn có trách
nhiệm với người họcMTHT2Thường xuyên tìm hiểu đáp ứng yêu cầu nguyện vọng
Trung tâm dạy nghềhuyện.Kếhoạch của Ban chỉđạo KH 1956 (2011) “Đào tạo
nghềcho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Châu Thành đến năm 2020”.Điều
chỉnh, bổsung Quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế-xã hội huyện Châu
Thành –tỉnh Hậu Giang đến năm 2020.Kếhoạch phát triển kinh tế-xã hội và
dựtoán ngân sách qua các năm của UBND huyện.Báo cáo tình hình kinh tế-xã
hội, quốc phòng -an ninh năm 2014 và phương hướng nhiệm vụkinh tếxã hội,
quốc phòng –an ninh năm 2015.Báo cáo tình hình công tác đào tạo nghềqua các
năm 2011, 2012, 2013 và năm 2014 của phòng Lao động –Thương binh và Xã
hội.3.4.2 Thu thập thông tin sơ cấpĐược thu thậpthông qua bảng câu hỏi đã được
soạn sẵnđểtiến hành điều tra khảo sát.3.5Phạm vi lấy mẫuLao động nông thôn đã
quahọc nghề(trình độsơ cấp nghềvà dạy nghềthường xuyên dưới 3 tháng).
363.6Phương pháp lấy mẫuPhương pháp lấy mẫu trong nghiên cứu này là
phương pháp lấy mẫu thuận tiện (phi xác suất). Tổng sốmẫu lấy trong nghiên cứu
này 210 mẫu.3.7Phương pháp phân tích số liệuTrong quá trình nghiên cứu, các
sốliệu thu thập sẽsửdụng phần mềm SPSS 18.0 và phần mềm Excel đểquản lý và
phân tích sốliệu. Một sốphương pháp phân tích sau:Phương pháp thốngkê mô
tả(Descriptive Statistics)Phương pháp thốngkê mô tảđược sửdụng trong nghiên cứu
nhằm mô tảđặc điểmmẫu nghiên cứu; thực trạng vềĐTN và hiệu quảĐTN cho
LĐNT tại địa bàn nghiên cứu, gồm các phương pháp đo lường, mô tảvà trình bày
sốliệu thô và lập bảng phân phối tần số, hình.Phương phápphân tích nhân
tố(Exploratory Factor Analysis)Phương pháp xửlý sốliệu cần tiến hành theo 3
bước:Bước 1: Thang đo các nhân tốảnh hưởng đến chất lượng đào tạo được tác
giảxây dựng trên cơ sởlý thuyết nghiên cứu, qua thảo luận nhóm và tham khảo ý
kiến của các giảng viên giảng dạy, cán bộquản lý. Bước đầu tiên tác giảtiến hành
kiểm định chất lượng thang đo bằng hệsốCronbach Alpha đểloại một sốbiến rác.
Thang đo được đánh giá chất lượng tốt khi: (1) HệsốCronbach’s Alpha của tổng
thểlớn 0.6 và (2) hệsốtương quan biến –tổng của các biến quan sát lớn hơn
0.3.Bước 2: Phân tích nhân tốkhám phá (Exploratory Factor Analysis, EFA) đểmô
hình EFA đảm bảo độtin cậy ta cần thực hiện các kiểm định (test) chính sau:(1)
Kiểm định tính thích hợp của EFA: Sửdụng thước đo Kaiser –Meyer –Olkin