Đại học Kinh tế Huế
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
--------------------------------------------
ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT NÔNG SẢN HÀNG HÓA CỦA NHÓM DÂN
TỘC ÍT NGƯỜI VÀ XÁC ĐỊNH CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM XÂY DỰNG CHUỖI
GIÁ TRỊ BỀN VỮNG TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thực hiện: TS. Trương Chí Hiếu (chủ trì)
PGS. TS. TrầnVăn Hòa
TS. Nguyễn Ngọc Châu
ThS. Phạm Phương Trung
ThS. Lê Thị Hương Loan
1
ĐÔNG HÀ, 12/2013
2
MỤC LỤC
----------------------------------------------------------CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Bảng 2.1. Hệ thống kinh doanh nông nghiệp
Bảng 4.1. Tăng trưởng kinh tế huyện Hướng Hóa giai đoạn 2000 - 2010
Bảng 4.2 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hướng Hóa
nhu cầu và khả năng tiếp cận các yếu tố sản xuất của nông hộ
Bảng 5.24. Các yéu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đất đai của hộ
Bảng 5.25. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận đất đai của hộ
Bảng 5.26. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng của hộ
Bảng 5.27. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực tế vay tín dụng của hộ
Bảng 5.28. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tập huấn kỹ thuật của hộ
Bảng 5.29. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tập huấn kỹ thuật
Bảng 5.30. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giống của hộ gia đình
Bảng 5.31. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận phân bón
Bảng 5.32: Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa khả năng tiếp cận thị trường và
doanh thu tiêu thụ sản phẩm của nông hộ
Bảng 5.33: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu
trồng sắn của nông hộ
Bảng 5.34: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu
trồng chuối của nông hộ
4
Bảng 5.35: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu
trồng cà phê của nông hộ
Bảng 5.36: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu sản
xuất nông nghiêp của nông hộ
Bảng 6.1: Đối tượng trong chuỗi giá trị và điều kiện lựa chọn để phỏng vấn
Bảng 7.1. Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào
5
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
6
Theo Tổng cục Thống kê (2009), tình trạng đói nghèo nông thôn ở Việt Nam nói
chung là kết quả của một tập hợp phức tạp các yếu tố có tác động lẫn nhau như: vị trí
địa lý, dân tộc, giới, giáo dục, y tế, quy mô hộ và thiếu tài sản sản xuất như đất đai,
rừng, nước và vốn. Các hộ nghèo tiếp tục chịu tổn thương sâu sắc trước những sự kiện
bất ngờ, như thành viên gia đình bệnh tật, biến động giá hàng hóa, và thiên tai. Các
thách thức này có nhiều hơn ở khu vực vùng cao của Việt Nam, nơi có sản lượng
nông nghiệp thấp, thiếu cơ hội sinh kế phi nông nghiệp, khả năng sản xuất hàng hóa
bị hạn chế, thiếu dịch vụ xã hội cơ bản và các tài sản sản xuất có thể làm giảm tính dễ
bị tổn thương còn rất hạn chế.
Hình 1: Bản đồ ranh giới hành chính huyện Hướng Hóa
7
Để giải quyết tình trạng đói nghèo, chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều
chương trình, chính sách cung cấp các hỗ trợ trực tiếp cho nhóm đối tượng này. Trong
đó, người đồng bào dân tộc thiểu số là đối tượng được hưởng sự quan tâm đặc biệt.
Tại huyện Hướng Hóa, các hành động trợ giúp cụ thể cho nhóm đồng bào dân tộc
thiểu số bao gồm: thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính
phủ về Công tác dân tộc, thực hiện chính sách phân định xã, thôn bản thuộc khu vực
I, II, III theo Quyết định 30/2012/QĐ-TTg, thực hiện Chương trình 135, thực hiện
chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt theo Quyết định
1592/QĐ-TTg (Quyết định 134/TTg bổ sung), thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thực
hiện ĐCĐC theo Quyết định 33/TTg, thực hiện chính sách đầu tư vùng biên giới theo
Quyết định 160/2007/QĐ-TTg, thực hiện các chính sách hỗ trợ trực tiếpthay chính
sách trợ giá trợ cước trước đây, thực hiện chính sách đối với người có uy tín trong
đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định 18/2011/QĐ-TTg, thực hiện chính sách
hợp đầu tư tư nhân hay dịch vụ do tư nhân cung cấp không được mong đợi. Để đảm
bảo khả năng điều tiết của Nhà nước, cần xây dựng những hệ thống thị trường đầy đủ
hơn và tạo điều kiện cho người nghèo nông thôn tiếp cận tốt hơn đến cả hai nhóm thị
trường đầu vào và đầu ra. Tóm lại, theo định hướng Tam Nông xóa đói giảm nghèo và
phát triển nông thôn một cách bền vững cần dựa vào sự gắn kết của người dân với hệ
thống thị trường.
Với định hướng chung trên, việc thực hiện xây dựng hệ thống thị trường và nâng
cao khả năng tham gia của người dân vào hệ thống thị trường đó ở mỗi địa phương
khác nhau là một bài toán khác nhau do tồn tại rất nhiều yếu tố ảnh hưởng (trình độ
phát triển kinh tế - xã hội - tự nhiên …) đến các mục tiêu trên. Vì vậy, mỗi địa phương
cần có những nghiên cứu để xác định các vấn đề và giải pháp đặc thù phù hợp với địa
phương mình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát của đề tài là đánh giá được thực trạng tiếp cận thị
trườngcủa nhóm dân tộc ít người tại huyện Hướng Hóa rồi từ đó xây dựng các kiến
nghị chính sách nhằm tạo lập các chuỗi giá trị bền vững cho các sản phẩm nông sản
chính của nhóm dân cư này.
Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm:
- Đánh giá tình hình tiếp cận thị trường của nhóm dân tộc ít người tại huyện
Hướng Hóa thông qua tình hình sản xuất kinh doanh một số loại nông sản chính;
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường của nhóm
dân cư này
9
- Xác định các yếu tố cần thiết để thúc đẩy việc hình thành và nâng cao hiệu
qủa của chuỗi giá trị cho một số loại nông sản chính của nhóm dân tộc ít người tại
huyện Hướng Hóa; và
- Xây dựng các kiến nghị chính sách để tăng cường năng lực tiếp cận thị
trường của nhóm đối tượng nghiên cứu.
và giúp người dân nâng cao khả năng tiếp cận thị trường việc xây dựng các thể chế
(chính sách, chiến lược,…) thích hợp là rất cần thiết. Việc xây dựng thể chế thì lại tùy
thuộc vào đặc điểm của từng địa phương vì không có một “bài học mẫu” nào về thể
chế cho tất cả các địa phương và nhóm hộ gia đình được. Đối với nhóm dân cư dân
tộc ít người thường tồn tại rất nhiều rào cản ngăn họ họ tham gia vào thị trường một
cách hiệu quả, nhưng cho đến nay vẫn không có nhiều đề tài nghiên cứu cho nhóm
này ở cả trên thế giới và Việt Nam. Do đó, đề tài được kỳ vọng đóng góp thêm vào
kho tàng kiến thức từ một nhóm đối tượng nghiên cứu đặc thù.
1.4 Phạm vi và hạn chế của đề tài
•
Phạm vi đề tài:
Tiếp cận thị trường trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp là một nội dung rất
rộng, bao hàm khả năng người dân tiếp cận đến hàng loạt các yếu tố nguồn lực cho
quá trình sản xuất như đất đai, tín dụng, khoa học kỹ thuật … và khả năng tiêu thụ
nông sản phẩm được làm ra. Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu tìm hiểu, đánh
giá cả hai khả năng tiếp cận đến nguồn lực và thị trường tiêu thụ của người dân. Trong
đó, nội dung tiếp cận đến thị trường tiêu thụ được tập trung phân tích nhiều hơn vì
vấn đề thị trường là vấn đề nổi cộm, phức tạp ở nhiều địa phương nhưng các cơ quan
quản lí chưa có nhiều chính sách giải quyết thích đáng. Vấn đề tiếp cận thị trường tiêu
thụ không chỉ được phản ánh quá số liệu điều tra hộ mà còn thông qua phân tích các
chuỗi giá trị của các nông sản chính tại địa bàn nghiên cứu. Phạm vi thời gian của
nghiên cứu được giới hạn từ năm 2010 đến năm 2013 và xây dựng các kiến nghị cho
những năm sắp đến.Phạm vi không gian của đề tài là huyện Hướng Hóa, Quảng Trị.
•
Hạn chế của đề tài
Nhóm nghiên cứu đã nỗ lực khảo sát thông tin và tiến hành phân tích để đưa ra
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Tổ chức Oxfam, Tổ chức Care,
Viện Quốc tế về Phát triển bền vững (IISD), Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID), Viện
Nghiên cứu Phát triển (IDS) và một số cơ quan khác đã áp dụng các khái niệm để đáp
ứng các mục tiêu, trọng tâm và những ưu tiên của mình (Carney, 2002; Solesbury,
2003).
Theo đó, cách tiếp cận sinh kế bền vững đã trở nên phổ biến. Tài sản và khả
năng tiếp cận các nguồn lực có tác động lớn đến sinh kế bền vững. Những tài sản này
bao gồm con người, tự nhiên, tài chính, vật chất và vốn xã hội (Carney, năm 1998,
Soussan và cộng sự, 2001; DFID, 2001; Hussein năm 2002; Sida, 2003; Odero, 2003).
Theo DFID (2001), những tài sản này có thể được định nghĩa như sau. Nguồn
nhân lực là các kỹ năng, kiến thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt mà cho phép
con người theo đuổi chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được kết quả sinh kế của họ.
Vốn tự nhiên là các yếu tố sinh học vật lý như nước, không khí, đất, ánh nắng mặt
trời, rừng, khoáng sản. Nó phản ánh trữ lượng tài nguyên thiên nhiên. Vốn tài chính
được xác định là nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh
kế của họ. Vốn vật chất là cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất hỗ trợ sinh kế.
Vốn xã hội là các mối quan hệ xã hội chính thức và không chính thức (hoặc các
nguồn lực xã hội) mà từ đó nhiều cơ hội và lợi ích có thể được tạo ra bởi con người
trong việc theo đuổi về sinh kế của họ.
Từ khóa
13
H=Vốn nhân lực
N= Vốn tự nhiên
F = Vốn tài chính
F=Vốn tài chính
S=Vốn xã hội
QUY TRÌNH
CHIẾN LƯỢC SINH KẾ
* Dựa vào NR
* Không dựa vào NR
* Di cư
KẾT QUẢ SINH KẾ
* Thêm thu nhập
* Tăng phúc lợi
* Giảm tổn thương
14
* Cải thiện an ninh lương thực
* Sử dụng bền vững hơn dựa vào NR
S
F
P
Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: DFID (2001), Sida (2003)
Thành phần thứ hai của khung này là những cấu trúc biến đổi và các quy trình.
Thành phần này bao gồm các thể chế, các tổ chức, chính sách và pháp luật để xác
định khả năng tiếp cận nguồn vốn, các điều khoản trao đổi giữa tài sản và lợi nhuận
trên chiến lược sinh kế khác nhau (DFID, 2001). Theo đó, tính bền vững ở các cấp độ
khác nhau (vi mô và vĩ mô) cùng với những khó khăn và hạn chế của chiến lược sinh
kế có thể thu được thông qua việc nắm bắt các cấu trúc và quy trình. Từ đó cho thấy
cơ hội để cải thiện sinh kế của người dân thông qua việc chuyển đổi cơ cấu và quy
Thành phần chính thức cuối cùng của khung sinh kế bền vững là bối cảnh dễ bị
tổn thương. Điều này phản ánh những cú sốc, xu hướng và thời vụ. Những yếu tố này
không thể kiểm soát bởi con người trong các hoàn cảnh ngắn và trung hạn (DFID,
2001). Do đó, phân tích sinh kế bền vững không chỉ tập trung phân tích cách thức con
người sử dụng tài sản để đạt được mục tiêu của mình, mà còn đề cập những bối cảnh
dễ bị tổn thương mà họ có thể phải đối mặt, và các phương tiện mà mọi người có thể
đối phó và phục hồi từ các cú sốc và căng thẳng (Chambers và Conway, năm 1992;
Soussan và cộng sự, 2001; Cahn, 2002).
Các thành phần cốt lõi làm việc cùng nhau, và tương tác với nhau trong một hệ
thống sinh kế năng động (DFID, 2001; Soussan và cộng sự, 2001; Carney, 2002). Kết
quả là, các vấn đề có thể xem một cách tổng thể.
Cách tiếp cận sinh kế bền vững lấy con người làm trung tâm, có sự tham gia và
hoạt động ở nhiều cấp độ giữa các khu vực. Bởi nhấn mạnh vào tính bền vững, nó rất
hữu ích trong việc giải quyết xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, ứng phó với
trường hợp khẩn cấp, và lập kế hoạch dựa vào cộng đồng nơi các vấn đề hoặc các vấn
16
đề thường đa chiều (Hussein năm 2002; Cahn, 2002; Carney, 2002). Ngoài ra, theo
một loạt các tác giả, các phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững, là hướng tới tương
lai và tích cực, bằng cách tập trung và xây dựng trên sức mạnh mà mọi người có hơn
là những gì họ không có, (Norton và Foster, 2001; Hussein năm 2002; Cahn, 2002).
2.1.2 Quan hệ giữa khả năng tiếp cận thị trường và sinh kế
2.1.2.1 Vai trò của khả năng tiếp cận thị trường đối với sinh kế
Hussein (2002, trang 36) đề cập đến niềm tin của Oxfam cho rằng "cải thiện
khả năng tiếp cận hay quyền lực trong thị trường [là] quan trọng đối với sinh kế của
các nhà sản xuất nghèo và sự cải thiện [trong] tiền lương và điều kiện việc làm cho
phụ nữ". Tuy nhiên, có vẻ như mối liên hệ giữa thị trường và sinh kế đã chưa được
phân tích thấu đáo.
Theo Dorward và Kydd (2005), có ba cơ chế trao đổi chính. Đây là những trao
định được rằng sự phát triển của thị trường có thể làm tăng tính dễ tổn thương của
một số nhóm trong xã hội. Điều này có thể xảy ra điển hình khi một số nhóm hoặc là
loại trừ hoặc không có quyền lực tạo ra sự bất đối xứng thông tin và khả năng thương
lượng. Dorward và cộng sự (2003) cũng cho rằng nhấn mạnh quá vào các hoạt động
phi nông nghiệp liên quan đến phát triển nông nghiệp có thể tác động tiêu cực đến các
nhóm nghèo nhất. Theo đó, tranh luận ở đây, và trong mối liên quan đến nghiên cứu
này, các thị trường và phân tích sinh kế nên được kết hợp với nhau trong việc phân
tích những khó khăn và cơ hội cho sinh kế của người nghèo tốt hơn, đặc biệt trong bối
cảnh tự do hóa thương mại và thương mại hóa.
2.1.2.2 Sinh kế bền vững dựa trên thị trường
Mặc dù vai trò của thị trường liên quan đến sinh kế ngày càng được công nhận
bởi các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách, các câu hỏi vẫn tồn tại đó
là làm thế nào để mang thị trường và sinh kế lại với nhau trong một khung phân tích
một cách tốt nhất. Người ta có thể phân tích thị trường và chuỗi giá trị ứng liên quan
bên cạnh phân tích sinh kế như là các phân tích riêng biệt nhưng có tính bổ sung.
Hoặc người ta coi phát triển thị trường và chuỗi giá trị ứng liên quan như là một thành
phần cụ thể và có tính biến đổi trong khung sinh kế. Trong phương pháp này, thị
trường có thể được coi là tích cực khi chúng dẫn đến mức sống ngày càng tăng.
Ngược lại, chúng cũng có thể là tiêu cực ở chỗ nó có thể làm tăng tính dễ tổn thương
do khuyến khích các hoạt động sản xuất không bền vững hoặc gạt các nhóm riêng biệt
trong xã hội ra ngoài lề. Phương pháp thứ hai được sử dụng trong nghiên cứu này.
Phương pháp này đươc thể hiện qua khung phân tích của Dorward và cộng sự (2003)
(Hình 2.2). Đây là một công cụ góp phần sáng tỏ quan hệ giữa sinh kế và thị trường
và mối quan hệ của chúng trong khung sinh kế
TÀI SẢN SINH KẾ
NHU CẦU CÓ HIỆU QUẢ
ĐỊA PHƯƠNG RộNG HƠN
18
trong mô hình tiêu thụ thực phẩm của hộ gia đình, và những thay đổi trong hoạt động
19
sản xuất. Sự tương tác giữa thị trường và chính sách, thể chế và quy trình cũng được
nhấn mạnh trong thương mại dựa trên khung sinh kế bền vững này.
Thị trường bao gồm đầu vào và đầu ra của nó và các chuỗi đầu vào và đầu ra
tương ứng. Thị trường đầu vào bao gồm đất đai, lao động, tín dụng và vật chất. Thị
trường đầu ra bao gồm hàng hóa và giá trị gia tăng. Những lợi ích từ sự phát triển của
các thị trường và các chuỗi kinh doanh nông nghiệp có thể tạo ra việc làm trực tiếp,
tạo thuận lợi cho các công nghệ mới và do đó hiệu quả kinh tế gia tăng nhờ tăng sản
xuất và giảm chi phí giao dịch. Phát triển thị trường có thể gồm cả điều kiện thuận lợi
và hạn chế bởi chính sách của chính phủ, sự can thiệp và các thể chế. Phát triển thị
trường có thể tự dẫn đến các chính sách và thể chế mới. Tương tự như vậy, thị trường
không chỉ bị tác động bởi những cú sốc và các xu hướng, mà còn có thể tạo ra những
cú sốc, tạo ra những rủi ro mới, và do đó làm tăng bối cảnh dễ bị tổn thương.
Tài sản sinh kế
Chiến lược sinh kế
Tài sản nhân lực,
vật chất, xã hội, tự
nhiện, tài chính
Bối cảnh dễ tổn thương
Các cú sốc, xu hướng mùa
vụ
Các hoạt động
Các sản lượng
2.2.1 Khái niệm sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa
Không có sự thống nhất hay một định nghĩa chung nào về sản xuất tự cung tự
cấp (Wharton, 1970;Mathijs and Noev, 2002). Định nghĩa này có thể được tiếp cận
theo quan điểm tiêu dùng hoặc sản xuất (Wharton 1970, Kostov and Lingrad, 2002a;
Kostov and Lingard, 2004a; Balint, 2004). Tiếp cận theo quan điểm tiêu dùng, sản
xuất tự cung tự cấp là hình thức sản xuất “trong đó việc trồng trọt hoặc chăn nuôi và
các hoạt động khác được thực hiện chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân,
có đặc trưng là năng suất thấp, rủi ro và không ổn định” (Todaro, 1997, p: 722). Từ
góc độ sản xuất, có định nghĩa xác định đây là hoạt động sản xuất trong đó dưới 50%
sản phẩm sản xuất ra được bán ra thị trường (Wharton, 1970; Bruntrup and Heidhues,
2002; Kostov and Lingard, 2004a; Balint 2004). Mức độ tự cung tự cấp không nhất
thiết là dưới 50% mà có thể dao động từ 0% đến 100% (Wharton, 1970; Kostov and
Lingard, 2002a; Mathijs and Noev, 2002; Bruntrup and Heidhues, 2002; Balint, 2004;
Kostov and Lingard, 2004a). Ngoài hai cách tiếp cận trên, một số tác giả còn xem tự
cung tự cấp là một khái niệm dùng để đo lường chất lượng sống (Wharton, 1970;
Bruntrup and Heidhues, 2002). Như vậy, có thể kết luận rằng không có một định
nghĩa rõ ràng thế nào là sản xuất tự cung tự cấp, các định nghĩa đưa ra thường gắn
liền với những bối cảnh cụ thể.
Sản xuất hàng hóa thường được xem như là hình thức sản xuất thay thế sản
xuất tự cung tự cấp. Những định nghĩa về sản xuất hàng hóa không chỉ đề cập đến
việc bán ra thị trường/marketing các sản phẩm nông nghiệp (đầu ra) mà còn bao gồm
các khái niệm như: quyết định lựa chọn sản phẩm sản xuất, quyết định sử dụng các
yếu tố đầu vào dựa trên nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận. Theo Braun và cộng sự
(1994), việc thương mại hóa vừa có thể diễn ra ở phía đầu ra với sự gia tăng sản phẩm
thặng dư dùng để bán đồng thời có thể diễn ra ở phía đầu vào với sự tăng lên của việc
21
sử dụng các yếu tố đầu vào mua ngoài. Khái niệm này không chỉ liên quan đến cái
gọi là “sản xuất để bán” mà còn đến việc bán phần lương thực cơ bản dư thừa (Braun
22
Đối lập với những khía cạnh tích cực nói trên, sản xuất tự cung tự cấp thường
gắn với đặc điểm là sử dụng nguồn lực thiếu hiệu quả (Rogers, 1970), sự lựa chọn bị
hạn chế (Wharton, 1970), lạc hậu, kém hiệu quả, thu nhập thấp và đầu vào thấp
(Bruntrup và Heihues, 2002). Quan niệm phổi biến coi sản xuất tự cung tự cấp thường
gắn liền với tình trạng kém phát triển và chất lượng sống thấp đặc biệt ở Châu Á và
Châu Phi. Do vậy, sản xuất hàng hóa là phương thức được ưa chuộng hơn và là một
xu thế chủ đạo ở các nước đang phát triển.
Với hoạt động thương mại hóa, mục đích của hệ thống sản xuất nông nghiệp
thay đổi từ việc đáp ứng nhu cầu lương thực của người sản xuất sang việc tạo ra thu
nhập bằng tiền và lợi nhuận (). Thu nhập được sử dụng cho nhiều mục đích khác
nhau, bao gồm giáo dục, y tế và giải trí. Sự thay đổi này ảnh hưởng đến việc lựa chọn
các hoạt động sản xuất, mức đầu vào và những lựa chọn về nguồn lực khác. Nghiên
cứu của Delgado (1995), Dorsey (1999), FAO (2001), Barret và cộng sự (2001),
Abdulai và CroleRees (2001), Block và Webb (2001), Deb và cộng sự (2002), Thanh
và cộng sự (2005), và Minot và cộng sự (2006) đều ủng hộ quan điểm rằng thu nhập
hộ gia đình tăng lên và hiệu quả khu vực nông nghiệp được cải thiện trong quá trình
thương mại hóa sản xuất.
Trên cơ sở tổng kết các nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều quốc gia như
Guatemala, Philippines, Zambia và Ấn Độ, Braun (1994), Bouis (1994) and Braun
(1995) đều phát hiện thấy sự thương mại hóa nền sản xuất nôn g nghiệp không chỉ
làm tăng thu nhập của người nông dân mà còn có tác động tích cực đến an ninh lương
thực và điều kiện dinh dưỡng. Thương mại hóa còn giảm khối lượng công việc cho
phụ nữ ở các quốc gia này, không kể Guatemala.
Nhiều nghiên cứu có chung nhận định rằng thương mại hóa không chỉ dẫn đến
việc đa dạng hóa trong khu vực nông nghiệp ở tầm quốc gia mà còn thúc đẩy chuyên
môn hóa các hoạt động phi nông nghiệp ở cấp độ vùng để đạt được tính kinh tế nhờ
quy mô trong sản xuất và tiêu thụ (Pingali và Rogerant, 1995; Timmer, 1997; Pingali,
hàng hóa
Dựa trên nghiên cứu của Bruentrup and Heidhues (2002), Braun và cộng sự
(1994), Braun (1995), Vanslembrouck và cộng sự (2002) và Chilonda và
Huylenbroeck (2001), những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch sang nền sản
xuất nông nghiệp hàng hóa ở cấp trang trại hoặc cấp hộ có thể được chia thành những
nhóm sau đây.
2.2.3.1 Những nhân tố bên trong trang trại/hộ gia đình
Những nhân tố bên trong bao gồm đặc điểm của trang trại về về đất đai, nguồn
lao động, vốn, công nghệ và vị trí. Đặc điểm gia đình gồm có tuổi, trình độ học vấn,
kinh nghiệm, giới tính, sở thích giải trí, thái độ với rủi ro, cơ cấu gia đình và các quan
24
hệ xã hội. Các yếu tố sẵn có này cùng với những điều kiện ban đầu sẽ tạo ra những
con đường chuyển đổi khác nhau (Mathijs và Noev, 2002).
Tổng kết những nghiên cứu thực nghiệm ở các nước Trung Âu, Lerman (2004)
cho thấy diện tích đất có tác động tích cực đến xu hướng thương mại hóa. Phát hiện
này được ủng hộ bởi nghiên cứu của Minot và cộng sự (2006) và Cimpoies và cộng
sự (2009). Sự manh mún đất đai và quyền sở hữu đất cũng được xác định là có ảnh
hưởng quan trọng (Mathijs và Swinnen, 1998; Mathijs và Noev, 2002; Marsh và
MacAulay, 2002).
Nghiên cứu của Lerman (2004) nhận thấy nhóm nông hộ có mức độ thương
mại cao hơn thì quy mô hộ gia đình và số lượng công nhân lớn hơn. Tuy nhiên,
nghiên cứu của Minot và cộng sự (2006) ở Việt Nam lại cho kết quả trái ngược: quy
mô hộ có ảnh hưởng ngược chiều đến xu hướng thương mại hóa.
Ảnh hưởng của đặc điểm người nông dân đến sản xuất hàng hóa và sản xuất tự
cung tự cấp đã được nhiều tác giả nghiên cứu, tập trung nhiều vào các yếu tố như tuổi,
học vấn, kinh nghiệm, mục tiêu và thái độ với rủi ro. Mathijs và Noev (2002) phát
hiện thấy độ tuổi có tác động tiêu cực đến chỉ số thương mại hóa của hộ gia đình