Cấu trúc sở hữu quản trị công ty giá trị doanh nghiệp nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam - Pdf 41

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN KIM ĐỨC

CẤU TRÚC SỞ HỮU, QUẢN TRỊ CÔNG TY
& GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2015


ii

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN KIM ĐỨC

CẤU TRÚC SỞ HỮU, QUẢN TRỊ CÔNG TY
& GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN THỊ HẢI LÝ


1.6. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ............................................................................. 4
1.7. KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ...................................................................................... 5

CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ............................... 6
2.1. CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG ...................................................................................... 6
2.1.1.

Quản trị công ty .............................................................................................................. 6

2.1.2.

Các cơ chế kiểm soát của quản trị công ty................................................................... 8

2.1.3.

Cấu trúc sở hữu kim tự tháp ....................................................................................... 16

2.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................................................... 20
2.2.1.

Lý thuyết đại diện (agency theory) ............................................................................. 20

2.2.2.

Lý thuyết quản lý (stewardship theory) ..................................................................... 22

2.3. LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN ..................... 23
2.3.1.

Bằng chứng thực nghiệm về cấu trúc sở hữu và giá trị doanh nghiệp................... 24


Nguồn dữ liệu nghiên cứu ....................................................................................... 48

3.4.3.

Cách trích xuất nguồn dữ liệu ................................................................................ 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ............................................................................................................... 55
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................................................. 56
4.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ ............................................................................................................ 56
4.1.1.

Chỉ số quản trị công ty (CGI) ................................................................................. 56

4.1.2.

Thổng kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu ........................................ 59

4.2. PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN CÁC BIẾN ......................................................................... 63
4.3. KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY ........................................................................................ 65
4.3.1.

Kết quả nghiên cứu theo Pooled OLS và REM .................................................... 65

4.3.2.

Kết quả nghiên cứu theo 2SLS ............................................................................... 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 ............................................................................................................... 73
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................................... 74

Hochiminh Stock Exchange

IAS

: Hệ thống chuẩn mực kế toán Quốc tế
International Accounting Standards

IFRS

: Hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính Quốc tế
International Financial Reporting Standards

IIA

: Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ/ Viện kiểm toán nội bộ
The Institute of Internal Auditors

OECD

: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Organisation for Economic Co-operation and Development

ROA

: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
Return On Assets

VAS

: Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam


60

Bảng 4.3. Ma trận hệ số tương quan các biến

64

Bảng 4.4. Kết quả hồi quy với quy mô toàn bộ mẫu nghiên cứu

67

Bảng 4.5. Kết quả hồi quy theo 2SLS

71

DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu

32

Hình 3.2. Lưu đồ quy trình nghiên cứu

33

Hình 4.1. Điểm số CGI bình quân giai đoạn 2012-2014

57


1



2

Sự kiện Enron năm 2001 và các hành vi gian lận trong việc lập và trình bày báo cáo
tài chính (BCTC) đã khẳng định mạnh mẽ vai trò quan trọng của quản trị công ty.
Chủ đề này không chỉ thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư mà các nghiên cứu hàn lâm
cũng bắt đầu được các học giả thực hiện (Solomon & Solomon, 2004). Hầu hết đều
cho rằng cách thức quản trị công ty nếu hiệu quả sẽ giúp giải quyết bài toán vấn đề
người đại diện và gia tăng giá trị doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, khi thế giới ngày một “phẳng” lại, việc di chuyển vốn giữa các nhà đầu
tư cũng ngày một thuận lợi và nhanh chóng. Điều này dẫn đến cấu trúc sở hữu cũng
dễ dàng thay đổi. Thành phần của cổ đông (cổ đông nhà nước, tổ chức, nước ngoài)
có thể làm gia tăng hoặc hạn chế vấn đề người đại diện, từ đó ảnh hưởng đến giá trị
công ty. Do vậy, cấu trúc sở hữu cũng là vấn đề mà quản trị công ty quan tâm nhằm
phát huy vai trò của mình. Chính vì vậy mà cấu trúc sở hữu và quản trị công ty thường
xuất hiện cùng nhau khi xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Đến nay, nhiều nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, quản
trị công ty và giá trị doanh nghiệp đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam.
Tuy nhiên, các biến giải thích đại diện cho quản trị công ty chỉ dừng lại ở tỷ lệ thành
viên hội đồng quản trị (HĐQT) độc lập (Hermalin & Weisbach, 1991), sự kiêm nhiệm
chủ tịch HĐQT và CEO (Chen, Lin, & Yi, 2008), quy mô HĐQT (Yermack, 1996).
Đồng thời, các biến giải thích đại diện cho cấu trúc sở hữu chỉ tập trung vào sở hữu
nhà nước, sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài. Rõ ràng, việc sử dụng các biến này để
đại diện cho quản trị công ty và cấu trúc sở hữu là chưa đầy đủ, đặc biệt là khi giá trị
lợi ích từ việc tuân thủ cách thức quản trị công ty tốt sẽ bị vô hiệu hóa nếu có sự tồn
tại của cấu trúc sở hữu kim tự tháp (Connelly, Limpaphayom, & Nagarajan, 2012).
Điều này càng làm tăng tính nghi ngờ về hiệu quả của các cách đo lường quản trị
công ty khi cấu trúc sở hữu không minh bạch. Xuất phát từ thực tế đó, “Cấu trúc sở
hữu, Quản trị công ty và Giá trị doanh nghiệp – Nghiên cứu thực nghiệm tại

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, quản trị công
ty và giá trị doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở
giao dịch chứng khoán TP.HCM (HoSE) trong giai đoạn 2012-2014.


4

1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm
Stata 12.0 để xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, quản trị công ty và giá trị
doanh nghiệp. Với dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng cân bằng, phương pháp nghiên
cứu được sử dụng là phương pháp gộp (Pooled OLS) và mô hình tác động ngẫu nhiên
(Random Effects Model, REM). Sử dụng kiểm định LM (Breusch-Pagan Lagrange
Multiplier) để lựa chọn phương pháp hồi quy phù hợp. Cuối cùng, đề tài sử dụng
phương pháp bình phương tối thiểu hai giai đoạn (Two-stage least-squares – 2SLS)
để khắc phục hiện tượng nội sinh của mô hình nghiên cứu.
1.5. NÉT MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CÚU
Việc sử dụng (i) bộ chỉ số CGI (Corporate Governance Index) với 117 tiêu chí do
Connelly, Limpaphayom, & Nagarajan (2012) xây dựng dựa trên năm nguyên tắc
quản trị công ty của OECD (1999; 2004) cùng với (ii) việc xem xét sự gia tăng quyền
kiểm soát (hoặc quyền biểu quyết) thông qua cấu trúc sở hữu kim tự tháp (hình chóp)
là nét mới của đề tài nghiên cứu này.
1.6. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Với mục tiêu nghiên cứu được xác định, đề tài kỳ vọng mang lại những ý nghĩa khoa
học và thực tiễn sau:
Về ý nghĩa khoa học
 Bổ sung cho các kết quả nghiên cứu hiện có trên thế giới, cung cấp thêm bằng
chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, quản trị công ty và giá
trị doanh nghiệp tại Việt Nam;

hệ giữa cấu trúc sở hữu, quản trị công ty và giá trị doanh nghiệp.
Trong đó, các vấn đề lý luận chung sẽ trình bày tổng quát về quản trị công ty, cấu
trúc sở hữu và các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu, quyền biểu quyết, quyền kiểm
soát và mô hình quản trị kim tự tháp. Lý thuyết khoa học sẽ cung cấp cơ sở nền tảng
nhất cho mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, quản trị công ty và giá trị doanh nghiệp.
Cuối cùng, việc lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm sẽ cung cấp một bức tranh
tổng quan về các nghiên cứu đã thực hiện ở các thị trường khác nhau cũng như các
tranh luận giữa các học giả xoay quanh mối quan hệ này.
2.1. CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
2.1.1. Quản trị công ty
Như đã đề cập ở chương 01, sự tách biệt giữa quyền điều hành (đang thuộc về
các nhà quản lý) và quyền sở hữu (thuộc về các cổ đông) dẫn đến xuất hiện một
cơ chế kiểm soát do chủ doanh nghiệp thiết lập. Cơ chế này nhằm đảm bảo các
quyết định của nhà quản lý sẽ phục vụ cho lợi ích công ty và cổ đông. Cơ chế
đó được gọi là “corporate governance”. Tại Việt Nam, thuật ngữ này được sử
dụng dưới nhiều tên gọi khác nhau như “hệ thống quản trị doanh nghiệp” hay
“quản trị công ty” hay “môi trường cai quản công ty”. Trong đó, “quản trị công
ty” là cách dịch được sử dụng nhiều nhất.
Từ sau sự kiện Enron năm 2001, các quốc gia đã ban hành đạo luật, báo cáo2
cũng như tăng cường các khuôn khổ pháp lý về quản trị công ty nhằm củng cố
2

Hoa Kỳ ban hành đạo luật Sarbanes-Oxley (2002), Anh Quốc cho ra đời báo cáo Higgs (2003)
và báo cáo Smith (2003), Nam Phi xây dựng báo cáo King II (2002).


7

niềm tin nhà đầu tư. Đồng thời, các nghiên cứu hàn lâm về lĩnh vực này cũng
bắt đầu nở rộ (Solomon & Solomon, 2004). Tác phẩm “Modern Corporation and

chứng khoán ở trên 160 quốc gia.


8

bảo công ty được điều hành tốt và theo đúng định hướng. Theo lý thuyết đại
diện (agency theory)4, quản trị công ty là một hệ thống do những người chủ công
ty thiết lập để kiểm soát các nhà quản lý nhằm đảm bảo các quyết định của nhà
quản lý hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho cổ đông (Jensen & Meckling,
1976; Fama, 1980). Mặc dù được trình bày một cách hẹp hơn nhưng định nghĩa
này đã phản ánh rõ hơn bản chất của quản trị công ty.
Như vậy, có thể hiểu rằng, quản trị công ty là một cơ chế kiểm soát, được áp
dụng ở mỗi doanh nghiệp nhằm giải quyết vấn đề người đại diện giữa chủ sở
hữu và nhà quản lý. Theo đó, các nhà quản lý mặc dù không sở hữu các nguồn
lực của doanh nghiệp nhưng là người quyết định cách thức sử dụng nguồn lực
đó. Vì vậy, cơ chế quản trị công ty được thiết lập nhằm đảm bảo các quyết định
của nhà quản lý là duy lý và bảo vệ lợi ích cho cổ đông.
2.1.2. Các cơ chế kiểm soát của quản trị công ty
Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu đề cập các cơ chế kiểm soát trong quản trị công
ty như sự giám sát của hội đồng quản trị (HĐQT), cổ đông lớn, thành viên
HĐQT độc lập, hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB), v.v. Bộ chỉ số CGI do
Connelly, Limpaphayom, & Nagarajan (2012) xây dựng dựa trên năm nhóm
nguyên tắc của OECD (1999, 2004) tập trung đánh giá rất nhiều về các cơ chế
kiểm soát của quản trị công ty. Do đó, để thuận lợi trong việc vận dụng bộ chỉ
số này ở chương 03, trong phần này tác giả tập trung trình bày các cơ chế kiểm
soát của quản trị công ty được sử dụng theo thông lệ quốc tế.
(1) Hội đồng quản trị
Khi những người chủ không tự mình kiểm soát các nguồn lực do mình sở hữu,
họ sẽ lựa chọn những người có năng lực, kinh nghiệm và đáng tin cậy để thay
mặt họ giám sát các hoạt động của doanh nghiệp và kiểm soát nhà quản lý. Tập

(2) Ủy ban kiểm toán
Để thực hiện chức năng giám sát, HĐQT thường lập các tiểu ban (ủy ban) hỗ
trợ, gồm ủy ban thù lao/khen thưởng (compensation/ remuneration committee),
ủy ban nhân sự/ đề cử/ bổ nhiệm (nomination committee) và ủy ban kiểm toán
(audit committee). Trong đó, ủy ban kiểm toán (hay còn gọi là ủy ban kiểm toán
độc lập) là bộ phận quan trọng nhất trong cấu trúc quản trị của một tổ chức (IIA,


10

2014) Ủy ban kiểm toán trực tiếp chịu trách nhiệm về giám sát hệ thống kế toán
và kiểm soát nội bộ; chỉ định, thương lượng giá phí và kiểm soát kiểm toán độc
lập; và chỉ đạo kiểm toán nội bộ5. Trong đó, chức năng kiểm toán nội bộ là chức
năng quan trọng và sự vắng mặt của chức năng này sẽ phải thể hiện trong báo
cáo hàng năm của công ty (ICAEW, 20046). Với vai trò quan trọng của mình,
các thành viên của ủy ban kiểm toán thường là các thành viên độc lập, có nhiều
kinh nghiệm chuyên môn về tài chính, kế toán và quản trị rủi ro (IIA, 2014).
(3) Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ
Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ là hai cơ chế kiểm soát quan trọng và lâu
đời trong quản trị công ty. Theo đó, hệ thống kế toán sẽ cung cấp thông tin về
cơ cấu tài sản, tình hình hoạt động công ty thông qua hệ thống BCTC và các báo
cáo khác. Các báo cáo này phần nào giải quyết tình trạng bất cân xứng thông tin
(vấn đề người đại diện) giữa chủ sở hữu và nhà quản lý. Tuy nhiên, để đảm bảo
các thông tin được cung cấp là đáng tin cậy cũng như hạn chế các rủi ro trong
quá trình điều hành, BCTC của công ty cần phải được kiểm toán bởi các công
ty kiểm toán độc lập. Đồng thời các nhà quản lý cũng phải xây dựng và duy trì
một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu tại doanh nghiệp.
Thuật ngữ kiểm soát nội bộ xuất hiện lần đầu tiên vào thời kỳ cách mạng công
nghiệp với hình thức ban đầu là kiểm soát tiền. Theo thời gian, khái niệm kiểm
soát nội bộ đã không ngừng được mở rộng, vượt ra khỏi những thủ tục bảo vệ

đó thì kiểm toán nội bộ được duy trì như một cơ chế để giám sát chất lượng của
hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro tại doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ
là hoạt động cung cấp các dịch vụ bảo đảm và tư vấn nhằm đem lại giá trị gia
tăng cho doanh nghiệp, hoàn thiện các hoạt động của doanh nghiệp (IIA, 1999).
Như vậy, kiểm toán nội bộ trước hết phải chịu trách nhiệm đánh giá tính hữu
hiệu của hai cơ chế kiểm soát quan trọng trong quản trị công ty là kiểm soát nội
bộ và quản trị rủi ro (IIARF, 2009). Sau đó là chỉ ra các khiếm khuyết của hai
hệ thống này, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra giải pháp, góp phần gia tăng lợi
ích cho cổ đông. Như vậy, khác với kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ không
chỉ đưa ra kết luận về sự phù hợp của thông tin mà còn đưa ra các kiến nghị
thích hợp và khả thi cho doanh nghiệp.
Tương tự các cơ chế kiểm soát khác, tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ phụ
thuộc vào năng lực, kinh nghiệm và tính độc lập của các thành viên (kiểm toán
viên nội bộ). Mặc dù IIA đã ban hành các chuẩn mực về kiểm toán nội bộ nhưng
tính độc lập của kiểm toán nội bộ vẫn là mối quan tâm hàng đầu bởi vì các kiểm
toán viên nội bộ vẫn là các nhân viên của công ty. Để khắc phục được vấn đề


12

này, doanh nghiệp phải thiết lập một cơ cấu quản trị thích hợp. Tính hữu hiệu
của kiểm toán nội bộ sẽ giảm sút rõ rệt nếu bộ phận này dưới sự chỉ đạo của nhà
quản lý (ban giám đốc) (Phạm Thị Ngọc Bích, 2014). Theo thông lệ quốc tế,
kiểm toán nội bộ nên trực thuộc ủy ban kiểm toán thuộc HĐQT.
(5) Kiểm toán độc lập
Để đảm bảo các thông tin cung cấp cho chủ sở hữu (thông qua hệ thống kế toán)
là đáng tin cậy, hệ thống kiểm soát nội bộ đã được chủ sở hữu xây dựng và duy
trì xuyên suốt trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, hệ thống này
còn chịu sự giám sát bởi hệ thống kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, các nhà quản lý
đều hiểu rằng, các cổ đông sẽ dựa trên BCTC để đánh giá hiệu quả làm việc và

(Ooghe & Langhe, 2002).
Về HĐQT: luật doanh nghiệp (2005) vẫn chưa làm rõ vai trò, trách nhiệm giải
trình của HĐQT (hay hội đồng thành viên). Theo luật doanh nghiệp 2014 (Luật
số 68/2014/QH13 ngày 26.11.2014), HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn
quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Đồng
thời, chức năng giám sát của HĐQT đã được trình bày một cách rất cụ thể trong
Luật doanh nghiệp 20147.
Về ủy ban kiểm toán và ban kiểm soát: đây là sự khác biệt giữa Việt Nam và
thông lệ quốc tế nhưng Việt Nam không hoàn toàn bỏ đi sự tồn tại của Ủy ban
kiểm toán trong HĐQT mà bổ sung thêm ban kiểm soát bên cạnh HĐQT. Sự
khác biệt này phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức quản lý mà công ty lựa chọn8.

7

Theo đó, HĐQT có thể (i) […] bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối
với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy
định; (ii) quyết định tiền lương và quyền lợi khác của những người quản lý đó; (iii) cử người
đại diện theo ủy quyền tham gia Hội đồng thành viên hoặc ĐHĐCĐ ở công ty khác, quyết định
mức thù lao và quyền lợi khác của những người đó; (iv) giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty;
(v) quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty […], v.v.

8

Theo khoản 1, điều 134 Luật doanh nghiệp 2014, CTCP có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và
hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có
quy định khác:



viên HĐQT phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT. Các
thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc
quản lý điều hành công ty.


15

nhiều vì yêu cầu có tính khuyến khích, không chế tài. Sau đó quy chế quản trị
công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán (Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13.03.2007)
và Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng (Thông tư
121/2012/TT-BTC ngày 26.07.2012) quy định số lượng thành viên HĐQT của
công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết ít nhất là 5 người, nhiều nhất
11 người, trong đó 1/3 là thành viên HĐQT độc lập. Tuy nhiên, văn bản không
đề cập thành viên độc lập là gì, các tiêu chí về năng lực, kinh nghiệm mà họ
phải đạt được. Bên cạnh đó, vai trò của thành viên độc lập cũng không được đề
cập một cách chi tiết. Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết (Quyết định
15/2007/QĐ-BTC ngày 19.03.2007) có đề cập đến vai trò của thành viên độc
lập nhưng không có sự khác biệt với các thành viên HĐQT khác. Cho đến khi
Luật doanh nghiệp 2014 được ban hành, các tiêu chí về thành viên độc lập trong
HĐQT mới được đề cập một cách rõ ràng9.

9

Thành viên độc lập Hội đồng quản trị có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây, trừ trường hợp
pháp luật về chứng khoán có quy định khác:
a) Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là
người đã từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước.
b) Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành
viên HĐQT được hưởng theo quy định;

ty niêm yết tại Đông Á trong mẫu nghiên cứu là công ty gia đình. Không chỉ
Đông Á, 1/3 công ty trong danh sách S&P 500 tại Mỹ (Anderson & Reeb, 2003)
và 53% trong 675 công ty niêm yết tại 11 quốc gia châu Âu (Barontini & Caprio,
2006) cũng là công ty gia đình. Tuy nhiên, đến nay, như thế nào được xem là
một công ty gia đình vẫn còn là vấn đề nhiều tranh cãi. Miller & cộng sự (2007)
cho thấy có đến 28 định nghĩa khác nhau về công ty gia đình trong các nghiên
cứu trước đó. Về tổng thể, công ty gia đình là một loại hình sở hữu mà trong đó
các thành viên gia đình nắm giữ phần lớn vốn chủ sở hữu, quyền quản trị và
điều hành công ty. Theo đó, một gia đình có thể kiểm soát công ty theo ba cách:


17

 Là thành viên sáng lập công ty: cách tiếp cận này được Anderson & Reeb
(2003), Cronqvist & Nilsson (2003), Villalonga & Amit (2004) sử dụng,
trong đó cổ đông lớn nhất công ty là thành viên của gia đình sáng lập.
 Kiểm soát công ty thông qua quyền biểu quyết: La Porta & cộng sự (1999)
sử dụng cách tiếp cận này dựa trên số lượng quyền biểu quyết và/hoặc vốn
cổ phần lớn nhất mà gia đình (hoặc cá nhân) nắm giữ. Nhiều nghiên cứu sau
đó đã sử dụng và phát triển cách tiếp cận này (Claesens & cộng sự; 2002;
Faccio & Lang, 2002; Bennedsen & cộng sự, 2007).
 Tham gia hoạt động quản trị của công ty: theo cách tiếp cận này, công ty gia
đình được xác định thông qua việc sở hữu và tham gia hoạt động quản trị
công ty và/hoặc có thành viên gia đình trong ban giám đốc của công ty
(Martinez & cộng sự, 2007).
Trong ba cách tiếp cận này, cách tiếp cận thứ hai được cho là sẽ giúp các thành
viên trong gia đình duy trì một lượng quyền biểu quyết cao hơn với số lượng cổ
phiếu nắm giữ ít hơn. Từ đó, hình thành cấu trúc sở hữu kim tự tháp. Để hiểu rõ
hơn về cấu trúc này, nghiên cứu tiến hành đề cập đến quyền sở hữu, quyền lợi
ích, quyền biểu quyết và quyền kiểm soát.

ở quyền sở hữu, công ty mẹ còn có thể hưởng các lợi ích khác như sử dụng các
tài sản trí tuệ, các hệ thống phân phối sẵn có của công ty con, hạn chế đối thủ
cạnh tranh,v.v. (Nguyễn Trí Tri & Vũ Hữu Đức, 2014). Bên cạnh đó, công ty
mẹ có thể nhận được lợi ích là tỷ lệ biểu quyết cuối cùng có được từ hình thức
đầu tư trực tiếp và/hoặc gián tiếp thông qua các công ty con trung gian.
Tuy nhiên, quyền kiểm soát và quyền biểu quyết không phải lúc nào cũng tồn
tại đồng thời. Theo VAS 25 (đoạn 9), quyền kiểm soát tồn tại khi công ty mẹ
nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua công ty con) trên 50% quyền biểu
quyết ở công ty con. Một số trường hợp, quyền kiểm soát vẫn tồn tại ngay cả
khi tỷ lệ biểu quyết ≤ 50%, như có một sự thỏa thuận cho phép công ty mẹ hơn
50% quyền biểu quyết, công ty mẹ có quyền chi phối chính sách tài chính và
hoạt động, công ty mẹ có quyền bổ nhiệm/bãi miễn đa số thành viên HĐQT,v.v.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status