BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ NHỚ
MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO VÀ GIÁ TRỊ
DOANH NGHIỆP – BẰNG CHỨNG TỪ
CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI SỞ
GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo – Giảng viên Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí
Minh. Số liệu thống kê trung thực, nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này
chưa từng được công bố cho tới thời điểm hiện tại.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2014
Học viên
Phạm Thị Nhớ
4.2. Kiểm định giả định phương sai thay đổi ....................................................................... 25
4.3. Kết quả nghiên cứu ....................................................................................................... 29
4.3.1. Kết quả mô hình hồi quy giá trị doanh nghiệp theo rủi ro ......................................... 29
4.3.2. Kết quả mô hình hồi quy sự thay đổi giá trị doanh nghiệp theo sự thay đổi rủi ro ... 40
4.4. Kiểm định sự phù hợp của các biến đưa vào mô hình .................................................. 52
4.5. Thảo luận về kết quả nghiên cứu đạt được ................................................................... 54
5. KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 56
5.1. Kết luận về kết quả nghiên cứu .................................................................................... 56
5.2. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ....................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
HOSE: Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
TSSL: Tỷ suất sinh lợi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tóm tắt thống kê mô tả của q và rủi ro..................................................... 21
Bảng 4.1: Phân tích tương quan giữa các biến độc lập theo mức độ ........................ 23
Bảng 4.2: Phân tích tương quan giữa các biến độc lập theo sự thay đổi .................. 24
Bảng 4.3: Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của phương trình hồi quy q
theo rủi ro .................................................................................................................. 25
Bảng 4.4: Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của phương trình hồi quy sự
thay đổi q theo sự thay đổi rủi ro .............................................................................. 27
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy q theo syr và unsyr ......................................................... 30
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy q theo tr .......................................................................... 30
loại bỏ 5% biến rủi ro cao nhất và thấp nhất ............................................................ 46
Bảng 4.25: Kết quả hồi quy cq theo csyr, cunsyr biến kiểm soát như hồi quy 2 sử
dụng thêm biến kiểm soát CEBT ............................................................................. 47
Bảng 4.26: Kết quả hồi quy cq theo ctr biến kiểm soát như hồi quy 2 sử dụng thêm
biến kiểm soát CEBT ............................................................................................... 48
Bảng 4.27: Kết quả hồi quy cq theo sự thay đổi của rủi ro với các mẫu con .......... 49
Bảng 4.28: Kết quả kiểm định Wald mô hình hồi quy q theo rủi ro ......................... 52
Bảng 4.29: Kết quả kiểm định Wald mô hình hồi quy sự thay đổi của q theo sự thay
đổi của rủi ro ............................................................................................................ 53
Bảng 4.30: Tổng hợp kết quả hồi quy q theo rủi ro .................................................. 54
Bảng 4.31: Tổng hợp kết quả hồi quy sự thay đổi q theo sự thay đổi của rủi ro ..... 55
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ
Hình 3.1: Quy mô niêm yết trên HOSE từ năm 2000 đến 2013 .............................. 16
Hình 3.2: Chỉ số VNINDEX từ năm 2000 đến tháng 6/2014 .................................. 17
1
TÓM TẮT
Luận văn dựa trên nghiên cứu năm 2000 của nhóm tác giả Hyun. Han Shin (Đại học
Bufalo) và Rene M. Stulz (Đại học Bang Ohio) tìm hiểu về mối quan hệ giữa rủi ro
và giá trị doanh nghiệp được đăng trên NBER Working Paper No.7808 tháng
7/2000, JEL No.G30,G39. Để xác định mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh
nghiệp của các doanh nghiệp đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành
phố HCM (HOSE). Luận văn đã sử dụng các dữ liệu trong bảng báo cáo tài chính
được công bố và dữ liệu giá giao dịch hằng ngày của các doanh nghiệp giai đoạn
2006 – 2013, sau đó tiến hành phân tích hồi quy hai giai đoạn để tìm mối quan hệ
chính và tránh thực hiện các dự án đầu tư lệch lạc.
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn và lý thuyết quản trị rủi ro tài chính cũng chỉ ra mối
quan hệ giữa rủi ro và cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp, được đo lường bằng
Tobin's Q, được tính bằng là giá trị thị trường của doanh nghiệp/ giá trị sổ sách của
tài sản.
Khi nói về Tobin's Q, nó xuất hiện từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước và được mang tên
của chính tác giả đã tạo ra nó là James Tobin, người đã từng đạt giải Nobel Kinh tế
năm 1981. Ý tưởng của Tobin là nếu thị trường (chứng khoán) đánh giá một doanh
nghiệp cao hơn giá trị sổ sách của doanh nghiệp thì đó là tín hiệu thị trường cho
rằng doanh nghiệp này có triển vọng phát triển. Để định lượng ý tưởng này Tobin
đề suất lấy giá trị vốn hóa (market capitalization) chia cho chi phí thay thế
(replacement cost) của các tài sản theo giá trị sổ sách của doanh nghiệp. Sau đó,
Tobin's Q được nhiều nhà kinh tế ứng dụng và cải tiến, giới đầu tư tính Tobin's Q
theo công thức q = MV/BV (MV: Market Value, BV: Book Value). Tại một giá trị
của Tobin's Q, theo lý giải của James Tobin, q cao sẽ dẫn đến tăng giá trị sổ sách
(BV) do doanh nghiệp sẽ tăng cường đầu tư; theo Gross và Napier thì q cao sẽ có
khuynh hướng làm giảm giá trị thị trường (MV); hoặc giống như nhiều tỷ số tài
3
chính khác, q quá cao sẽ là dấu hiệu mua quá mức (verbrought) còn q quá thấp là
dấu hiệu bán quá mức (oversold).
Theo nhóm tác giả Hyun. Han Shin (Đại học Bufalo) và Rene M. Stulz (Đại học
Bang Ohio) thực hiện nghiên cứu: “Firm Value, Risk, And Growth Opportunities”
tháng 7/2000, bằng các công việc thực nghiệm trên mẫu là các doanh nghiệp Mỹ
trong Compustat trong giai đoạn 1965 đến 1992. Nhận thấy rằng, sự tăng lên trong
rủi ro hệ thống vốn cổ phần làm gia tăng q và sự tăng lên trong rủi ro phi hệ thống
và tổng rủi ro thì giảm q, ngoại trừ các doanh nghiệp lớn. Mối quan hệ này khá
vững trong suốt thời kỳ mẫu với các nhiều sự thay đổi trong phép hồi quy.
7/2000, JEL No.G30, G39 vào điều kiện các doanh nghiệp đang niêm yết trên
HOSE tại Việt Nam.
1.5. Kết cấu luận văn
Luận văn được trình bày bao gồm các phần như sau:
Phần 1, tác giả đề cập đến vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu, phạm
vi và phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh nghiệp các
doanh nghiệp tại Việt Nam.
Phần 2, tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị
doanh nghiệp đồng thời giới thiệu nghiên cứu của Hyun. Han Shin và Rene M.
Stulz (2000).
Phần 3, tác giả giới thiệu mô hình nghiên cứu, mô tả phương pháp đo lường rủi ro,
trình bày cách thu thập, xử lý dữ liệu và thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi
quy.
Phần 4, tác giả trình bày các kiểm định, các kết quả thực nghiệm về mối quan hệ
giữa giá trị doanh nghiệp và rủi ro hệ thống, rủi ro phi hệ thống và tổng rủi ro.
Phần 5, tác giả kết luận về kết quả nghiên cứu, trình bày những hạn chế của đề tài
và đề xuất các hướng nghiên cứu cho các nghiên cứu tiếp theo.
5
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1. Khung lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh nghiệp
Việc sử dụng ngày càng nhiều các công cụ phái sinh để quản lý rủi ro không xảy ra
một cách đơn giản và thuần túy là chỉ do người ta ham thích chúng. Trên thực tế
luôn có những ngờ vực lớn, những e ngại về các công cụ phái sinh. Mặc dù vậy, rốt
cuộc rồi các doanh nghiệp cũng đã bắt đầu thừa nhận rằng các công cụ phái sinh là
công cụ tốt nhất để đối phó với những bất ổn ngày càng gia tăng trên thị trường. Lý
do chính để tiến hành quản trị rủi ro là những quan ngại có liên quan đến độ bất ổn
của lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và giá cổ phiếu của doanh nghiệp trong hoạt
Samant (1996)4 tìm thấy mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê giữa tiến
hành quản trị rủi ro và đòn bẩy tài chính.
Các bằng chứng này cho thấy rằng quản trị rủi ro có thể thật sự tác động đến rủi ro
của doanh nghiệp (hệ số beta). Nếu rủi ro tài chính được đa dạng hóa, mô hình định
giá tài sản vốn CAPM sẽ dự đoán rằng quản trị rủi ro tài chính không có tác động
đối với hệ số beta. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Aswath Damodaran và Marti G.
Subrahmanyam (1992) thực nghiệm về tác động của việc sử dụng các chứng khoán
Nghiên cứu của Dolde được đăng trên Journal of Financial Engineering năm 1995, nghiên cứu
mối quan hệ giữa quản trị rủi ro tài chính và các công cụ phái sinh, thực nghiệm trên 244 doanh
nghiệp thuộc Fortune 500 năm 1992 (Theo Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự, 2007. Quản trị rủi
ro tài chính. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thống kê, trang: 613).
1
Theo Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự , 2007. Quản trị rủi ro tài chính. Thành phố Hồ Chí
Minh: nhà xuất bản Thống kê, trang: 609.
2
Công trình nghiên cứu của Mian năm 1994, nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị rủi ro tài chính
và các công cụ phái sinh, thực nghiệm trên 3.022 doanh nghiệp năm 1992 (Theo Nguyễn Thị Ngọc
Trang và cộng sự , 2007. Quản trị rủi ro tài chính. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thống
kê, trang: 613).
3
Nghiên cứu của Samant được đăng trên Journal of Financial Services Research năm 1996, nghiên
cứu mối quan hệ giữa quản trị rủi ro lãi suất và các công cụ phái sinh, thực nghiệm trên 354 doanh
nghiệp Mỹ năm 1990-1992 (Theo Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự , 2007. Quản trị rủi ro tài
chính. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thống kê, trang: 613).
4
nghiệp, các quyết định này thường được gọi là đầu tư thực. Các quyền chọn này giống như những
quyền chọn thông thường. Chúng cho phép chủ sở hữu, quyết định vào một ngày trong tương lai có
“thực hiện” quyền chọn hay không, điều này có thể dẫn tới việc chi trả một khoản tiền và nhận về
cái gì đó có giá trị lớn hơn (giống trường hợp quyền chọn mua) hoặc nhận về một khoản tiền và
cho đi một cái gì đó có giá trị thấp hơn (giống trường hợp quyền chọn bán).
6
8
nhỏ hơn và giá trị doanh nghiệp thấp hơn. Do đó, trong trường hợp này, giá trị của
doanh nghiệp có tương quan âm với biến động vốn cổ phần (sự thay đổi trong rủi
ro).
Lý thuyết quản trị rủi ro: Tranh luận rằng các doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ
việc quản trị rủi ro vì rủi ro vượt trội làm tăng hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính
và có thể dẫn đến đầu tư dưới mức tối ưu nếu việc tài trợ bên ngoài và đàm phán lại
là tốn nhiều chi phí. Dưới một số điều kiện, chính sách quản trị rủi ro tối ưu có thể
gia tăng rủi ro. Điểm này đã được chỉ ra bởi Froot, Scharfstein, and Stein (1993),
chính sách được thiết kế để cho phép các doanh nghiệp tận dụng cơ hội đầu tư có
thể đưa các doanh nghiệp vào vị thế trong phái sinh, điều này làm gia tăng mức biến
thiên của dòng tiền nếu cơ hội đầu tư có tương quan dương với dòng tiền. Trên nền
tảng lý thuyết, lý thuyết quản trị rủi ro hàm ý rằng mối quan hệ cân bằng giữa rủi
ro vốn cổ phần và giá trị doanh nghiệp có thể dương hoặc âm.
Lý thuyết về việc đa dạng hóa: Lang and Stulz (1994) cho thấy giá trị doanh
nghiệp và doanh nghiệp đa dạng hóa có mối tương quan âm trong giai đoạn nghiên
cứu. Lý thuyết về đa dạng hóa cho thấy rằng các doanh nghiệp đa dạng hóa được
định giá thấp hơn so với các doanh nghiệp chuyên môn hóa. Các điều kiện khác
không đổi, một doanh nghiệp đa dạng hóa nói chung sẽ có mức biến động thấp hơn
so với một doanh nghiệp chuyên môn hóa. Do đó, sự tồn tại của việc đa dạng hóa
hàm ý rằng các doanh nghiệp biến động cao hơn có giá trị cao hơn. Lý thuyết này
quan hệ này phụ thuộc phi tuyến vào mức độ giá trị doanh nghiệp. Khi giá trị doanh
nghiệp trở nên tương đối lớn so với mệnh giá của nợ, một sự thay đổi trong giá trị
doanh nghiệp hầu như không có tác động vào biến động vốn cổ phần. Ngược lại,
các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy cao, một thay đổi nhỏ trong giá trị doanh nghiệp
có thể có một tác động âm lớn vào biến động vốn cổ phần. Trong mô hình Merton,
mệnh giá của nợ được cho trước và không đổi. Kết quả là bài nghiên cứu nhấn
Merton (1974) đã thực hiện nghiên cứu về định giá trái phiếu: cấu trúc rủi ro của tỷ suất sinh lợi
(On the Pricing of Corporate Debt: The Risk Structure of Interest Rates). Giá trị của trái phiếu phụ
thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố: (1) Tỷ suất sinh lợi yêu cầu của trái phiếu phi rủi ro (2) Các điều kiện
trong hợp đồng như là ngày đáo hạn, lãi suất, điều kiện mua bán,…. (3) Xác suất mà doanh nghiệp
không thể thực hiện một phần hay toàn bộ nội dung hợp đồng.
7
10
mạnh đối với những doanh nghiệp không tăng nợ, khi đó có một mối tương quan
âm giữa thay đổi trong giá trị doanh nghiệp và thay đổi trong biến động vốn cổ
phần.
Không lý thuyết nào trong các lý thuyết trên dự báo rõ ràng về mối quan hệ giữa giá
trị doanh nghiệp và rủi ro, nhưng các lý thuyết dự báo rõ ràng cho mối quan hệ giữa
thay đổi trong rủi ro và thay đổi trong giá trị doanh nghiệp.
2.2. Nghiên cứu của Hyun. Han Shin và Rene M. Stulz (2000)
Dựa trên nghiên cứu của Fama và French (1998) đã thực hiện với các doanh nghiệp
có trong Compustat cho giai đoạn 1965 đến 1992 về Thuế, Quyết định tài trợ và Giá
trị doanh nghiệp (Taxes, Financing Decisions, and Firm Value), bằng cách sử dụng
hồi quy dữ liệu chéo để tìm mối quan hệ giữ giá trị doanh nghiệp với cổ tức và nợ.
Hyun. Han Shin và Rene M. Stulz (2000) cũng thực nghiệm với các doanh nghiệp
có trong Compustat cho giai đoạn 1965 đến 1992. Sử dụng phương pháp hồi quy 2
Biến giả ngành.
Tuổi của doanh nghiệp.
Tài sản doanh nghiệp.
Div (Cash dividends paid): Cổ tức đã trả bằng tiền mặt.
IntEx (Interest expenses): Chi phí lãi vay.
RDEx (R&D expenditures): Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển.
EBI (Earnings before interest): Thu nhập trước lãi vay
Hyun. Han Shin và Rene M. Stulz (2000) tập trung vào 3 cách đo lường rủi ro.
được chi trả, chi phí lãi vay, chi phí R&D, thu nhập như Fama và French (1998);
Hồi quy sử dụng các biến kiếm soát là: industry dummy, log age, log tài sản; Hồi
quy sử dụng biến kiếm soát của Hồi quy thêm thay đổi trong thu nhập; Hồi quy sử
dụng mẫu với 5% biến cao nhất và thấp nhất được loại bỏ,…
Sau tất cả các bước hồi quy, Hyun. Han Shin và Rene M. Stulz (2000) chỉ ra q gia
tăng theo sự gia tăng của rủi ro hệ thống và giảm theo rủi ro phi hệ thống. Ngoài ra,
một sự tăng lên trong tổng rủi ro tương ứng với mức giảm trong q. Mối tương quan
âm giữa sự thay đổi trong tổng rủi ro và sự thay đổi trong q là vững qua thời gian
cho toàn bộ mẫu, nếu ngoại trừ một số doanh nghiệp có quy mô lớn nhất.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu này dựa trên mô hình nhóm tác giả Hyun. Han Shin và Rene
M. Stulz (2000) nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa rủi ro và cơ hội tăng trưởng.
Luận văn thực nghiệm trên mẫu các doanh nghiệp đang niêm yết trên HOSE trong
giai đoạn 2006 đến 2013, sử dụng phương pháp hồi quy 2 giai đoạn (two-pass
regression methodology):
Giai đoạn 1, betas của chứng khoán được ước lượng bằng phương pháp OLS theo
mô hình chuỗi thời gian của TSSL theo nhân tố thị trường:
rij = αj + βj rmi + εij (1)
Trong đó:
rij là log return của doanh nghiệp j trong ngày i.
rmi là log return của chỉ số đại đại diện cho thị trường cho ngày i.
Sau đó, tính toán các loại rủi ro của một doanh nghiệp:
Rủi ro hệ thống (systematic risk).
Rủi ro phi hệ thống (unsystematic risk).
Tổng rủi ro (total risk).
thống; tổng rủi ro).
(2)
Hồi quy biến phụ thuộc theo rủi ro với các biến kiểm soát.
14
(3)
Hồi quy biến phụ thuộc theo rủi ro với các biến kiểm soát sử dụng tất
cả các doanh nghiệp trong tất cả các năm với biến giả ngành.
(4)
Hồi quy biến phụ thuộc theo rủi ro với các biến kiểm soát như phép
hồi quy 3 loại bỏ 5% biến rủi ro cao nhất và thấp nhất.
(5)
Hồi quy biến phụ thuộc theo rủi ro với các biến kiểm soát như Fama
và French (1998)8 bao gồm: cổ tức được chi trả, chi phí lãi vay, thu
nhập trước lãi và sự thay đổi trong giá trị doanh nghiệp trong năm sau.
(6)
Hồi quy biến phụ thuộc theo rủi ro với các biến kiểm soát như phép
hồi quy 3 sử dụng thêm thu nhập trước thuế vào các biến kiểm soát.
(6) Hồi quy biến phụ thuộc theo rủi ro với các biến kiểm soát như phép
hồi quy 2 theo nhóm doanh nghiệp có tỷ lệ nợ dài hạn cao, thấp, trung
bình.
(7) Hồi quy biến phụ thuộc theo rủi ro với các biến kiểm soát như phép
hồi quy 2 theo nhóm doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ căn cứ theo tổng tài
sản của doanh nghiệp.
(8) Hồi quy biến phụ thuộc theo rủi ro với các biến kiểm soát như phép
hồi quy 2 theo nhóm doanh nghiệp giá trị doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ.
3.3. Thu thập và xử lý dữ liệu
3.3.1. Lựa chọn dữ liệu
Giai đoạn nghiên cứu của đề tài là 8 năm từ 2006 đến 2013, do thị trường chứng
khoán Việt Nam mới đi vào hoạt động trong khoảng hơn 14 năm (từ tháng 7/2000),
số lượng doanh nghiệp niêm yết chỉ bắt đầu gia tăng mạnh trong giai đoạn 2006 2007. Trong số 154 doanh nghiệp được chọn trong mẫu nghiên cứu có nhiều doanh
nghiệp có giá và các dữ liệu kế toán thì không có sẵn cho một giai đoạn nghiên cứu
dài hơn, nên tác giả chọn giai đoạn từ 2006 đến 2013.
16
3.3.2. Thu thập dữ liệu
Theo cách của Hyun. Han Shin và Rene M. Stulz (2000), tác giả sử dụng dữ liệu
bảng bao gồm 966 quan sát hàng năm của tổng 154 doanh nghiệp niêm yết, trung
bình khoảng 8 quan sát cho mỗi doanh nghiệp trong giai đoạn 2006 - 2013. Các
doanh nghiệp tài chính được loại bỏ khỏi mẫu vì cấu trúc vốn, tính chất đòn bẩy của
các doanh nghiệp tài chính khác với các doanh nghiệp phi tài chính, đã được Fama
& French (1992) đề cập. Do vậy, các yếu tố tác động lên giá trị doanh nghiệp của
chúng cũng sẽ khác nhau.
Về thời gian nghiên cứu, mặc dù, phiên giao dịch đầu tiên được khai trương tại
HOSE vào ngày 28/07/2000 nhưng chỉ với 2 doanh nghiệp niêm yết. Số lượng
doanh nghiệp niêm yết mặc dù cũng đã tăng dần qua các năm (Hình 3.1), nhưng tác
nghiệp niêm yết trên
HOSE
24
14 14 16
0
2000
2002
2004
2006
2008
2010
2012
Hình 3.1: Quy mô niêm yết trên HOSE từ năm 2000 đến 2013
(Nguồn />
17
1,400
1,167
1,200
131
-
Hình 3.2: Chỉ số VNINDEX từ năm 2000 đến tháng 6/2014
(Nguồn />Tác giả tiến hành thu thập bộ dữ liệu bao gồm: Giá đóng cửa chứng khoán theo
ngày, giá đóng cửa của chỉ số thị trường, các dữ liệu kế toán để tính biến cơ hội
tăng trưởng Tobin’s Q, và các biến kiểm soát trong mô hình. Ứng với mỗi doanh
nghiệp có mặt trong mẫu, tác giả tiến hành thu thập các dữ liệu sau:
Dữ liệu thị trường: Giá cổ phiếu, giá của chỉ số thị trường được thu thập
trong giai đoạn từ 01/01/2006 đến 31/12/2013, từ cơ sở dữ liệu của doanh
nghiệp đầu tư Stockbiz (Stockbiz Investment Ltd, chuyên cung cấp các giải
pháp thông tin, dữ liệu tài chính) và là giá đóng cửa, giá này sau đó được
điều chỉnh để phản ánh cổ tức cổ phiếu, thưởng cổ phiếu và cổ tức tiền mặt.
Giá này đã được so với các nguồn dữ liệu đáng tin cậy khác (như là StoxPro,
PhutoanProstock) và cho thấy không có sự sai lệch.
Chỉ số thị trường được lựa chọn là VNINDEX.