MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................................... 1
LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................................................. 3
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................................................3
2. Đối tượng, phương pháp, phạm vi nghiên cứu...................................................................................3
CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THEO BLDS 2015.............................5
Khác với thời hạn, thời hiệu do pháp luật quy định và sự tồn tại của thời hiệu không phụ thuộc vào
ý chischur quan của người có quyền, lợi ích liên quan. Bởi vậy thời hiệu mang tính chất bắt buộc
tuân thủ, các bên không được phép thỏa thuận để xác định về thời hiệu hay làm thay đổi quãng
thời gian mà pháp luật quy định cho thời hiệu. Mọi sự thỏa thuận của các bên tham gia quan hệ
dân sự nhằm thay đổi thời hiệu hoặc cách tính thời hiệu đều được xem là vô hiệu và việc áp dụng
thời hiệu cũng mang tính bắt buộc đối với tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền trong việc xem xét
giải quyết yêu cầu khởi kiện...........................................................................................................5
CHƯƠNG II. ĐIỀU KIÊN KIỆN KHỎI KIỆNVÀ THỰC TIỄN THỰC HIÊN THỜI KHỞI KIỆN........................11
2.1. Điều Kiện Khởi Kiện........................................................................................................................11
2.1.1. Chủ Thể Khởi Kiện.....................................................................................................................11
2.1.2. Điều Kiện Về Thẩm Quyền Của Tòa Án.....................................................................................12
2.1.3. Điều Kiện Về Thời Hiệu..............................................................................................................13
2.1.4. Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án
hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật
..............................................................................................................................................................14
CHƯƠNG III. NHỮNG ĐIÊM MỚI VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN NĂM 2015............................................17
3.1. Đánh Giá Những Điểm Mới Về Thời Hiệu Khởi Kiện Trong BLDS 2015............................................17
3.1.1. So sánh các điểm mới trong BLDS năm 2015 với BLDS năm 2005...........................................21
3.2. Kiến Nghị.......................................................................................................................................26
3.2.1. Công Tác Tuyền Truyền, Phổ Biến Pháp Luật Và Tổ Chức Cán Bộ...........................................26
3.2.2. Sửa Đổi Pháp Luật Về Điều Kiện Về Chủ Thể Khởi Kiện..........................................................27
1
2015.
3. Mục đích nghiên cứu
3
Nhằm nghiên cứu các qui định trong thời hiệu khởi kiện và các thay đổi mới .
nổi bật vấn đề trong bài luận giúp nâng cao kiến thức, sự hiểu biết về thởi điểm khởi
kiện và cách thức khởi kiện.chứng minh tính xác thực của đề tài.
4. Bố cục bài tiểu luận
Bài tiểu luận được bài thành 3 phần chính như sau:
+ chương 1: Một số vấn đề lí luận thời hiệu khởi kiện theo BLDS 2015
+ chương 2 : Điều kiện khởi kiện và thực tiễn thực hiện khởi kiện
+chương 3: Những điểm mới của bộ luật dân sự năm 2015 với bộ luật dân
sự năm 2005
4
CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THEO
BLDS 2015
1.1. Khái Niệm Thời Hiệu Khởi Kiện
Thời hiệu nói chung có thể được hiểu là căn cứ để xác lập hoặc xóa bỏ một
quyền, bằng cách để cho một khoảng thời gian hay nói cách khác thời hiệu là khoảng
thời gian để thực hiện quyền hoặc được miễn trừ nghĩa vụ. Về mặt pháp lý, thời hiệu là
thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối
với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Theo Khoản 1 Điều 149 Bộ luật dân sự
năm 2015 thì thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó phát
sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điểu kiện do luật quy định. Thời hiệu được áp
dụng theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 155 Bộ Luật Dân Sự và Điều 159 Bộ Luật tố
luật quy định.
Thời hiệu trước tiên là thời hạn, khi nói tới thời hạn tức là nói tới khoảng thời
gian xác định, nó có điểm bắt đầu và điểm kết thúc . Thông thường thời hiệu được tính
bằng đơn vị cụ thể như: ngày, tháng, năm và được định lượng bằng số cụ thể. Ví dụ
thời hiệu khởi thời hiệu khởi kiện là hai năm thời hiệu yêu cầu là một năm.
Thông thường thời hiệu là khoảng thời gian có tính liên tục từ khi bắt đầu cho
đến khi kết thúc, tuy nhiên trong một số trường hợp nếu có các sự kiện nhất định xẩy ra
thì khoảng thời gian xẩy ra các sự kiện không được tính vào thời hiệu hoặc thời hiệu
được tính lại từ đầu. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì thời hiệu hưởng quyền
dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự sẽ được tính lại từ đầu khi xẩy ra một số sự kiện làm
gián đoạn như: có sự giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với quyền,
nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hệu; hoặc quyền, nghĩa vụ dân sự đang được
áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền nghĩa vụ liên quan tranh chấp. Còn đối với
thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự thì xẩy ra các sự kiện
như sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại yêu cầu khác quan; chưa có người đại diện
trong trường hợp người có quyền khởi kiện, yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực
hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự ; chưa có người đại diện thay thế
thì khoảng thời gian diễn ra các sự kiện đó không đực tính vào thời hiệu. Ngoài ra,
6
trong trường hợp trong khoảng thời hạn của thời hiệu nhưng bên có nghĩa vụ đã thừa
nhận một phần nghĩa vụ của mình đối với bên khởi kiện hoặc các bên đã tự hòa giả với
nhau thì thời hiệu phải được tính lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xẩy ra sự kiện trên.
- Thời hiệu là cơ sở dể các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
và là điều kiện để tòa án thụ lý vụ việc dân sự.
Một trong những quyền của chủ thể được thực hiện nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình là quyền khởi kiện, yêu cầu và việc còn thời hiệu là điều kiện
cần để chủ thể thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu của mình. Khi không còn thời hiệu
thì dù thực tế chủ thể có quyền lợi ích hợp pháp cần bảo vệ, chủ thể cung cấp các tài
1.3.1. Việc Xây Dựng Các Quy Định Về Thời Hiệu Khởi Kiện Dựa Trên Cơ Sở
Sự Hài Hòa Giữa Mục Tiêu Bảo Đảm Thực Hiện Quyền con người và ổn định Trật Tự
Của Các Quan Hệ Dân Sự
Thứ nhất, quyền khởi kiện được ghi nhận là một quyền con người trong Tuyên
ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các công ước quốc tế khác. Theo Điều 8
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các công ước quốc tế khác. Ở Việt
Nam, quyền khởi kiện được quy định gián tiếp tại Điều 50 Hiến pháp năm 1992 và tiếp
tục được khẳng định tại khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013
Thứ hai, để bảo đảm rằng các yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án sẽ không
bị kéo dài với thời gian không xác định ảnh hưởng không tốt đến trật tự, an toàn xã hội
nói chung và quan hệ dân sự nói riêng, pháp luật dân sự cần phải thiết lập một cách
hợp lý các quy định về thời hiệu khởi kiện..
Thứ ba, thời hiệu khởi kiện được quy định trên cơ sở bảo đảm cân bằng lợi ích
của các bên đương sự. Lợi ích của nguyên đơn được thể hiện ở việc họ có thể yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thời gian nhất định. Lợi ích của
bị đơn cũng được bảo đảm bằng quy định về việc nguyên đơn bị mất quyền khởi kiện
nếu trong thời hạn luật định mà nguyên đơn không thực hiện quyền khởi kiện của
mình.
Thứ tư, theo nguyên tắc tự do ý chí, thời hiệu khởi kiện được coi như là một sự
suy đoán có tính mặc nhiên về ý chí của nguyên đơn đối với quyền lợi của mình. Có
thể suy đoán rằng nguyên đơn từ bỏ quyền khởi kiện nếu nguyên đơn không hành động
trong thời hạn mà pháp luật cho phép họ thực hiện quyền của mình.
8
Thứ năm, việc quy định thời hiệu khởi kiện cũng phần nào giúp bảo đảm sự ổn
định trong sinh hoạt, làm việc, kinh doanh bình thường của các bên liên quan trong vụ
việc.
1.3.2. Việc xây dựng các quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự dựa
trêncơ sở bảo đảm sự điều hòa hoạt động của hệ thống tư pháp
quyền khởi kiện của nguyên đơn và quyền, lợi ích mà dựa trên đó nguyên đơn tiến
hành khởi kiện đều bị hủy bỏ.
Tiểu kết chương 1: Như vậy thời hiệu khởi kiện được xây dựng trên các tranh
chấp của các bên dựa trên các pháp lí của các bên liên quan. Làm rõ vấn đề về khái
niệm đặc điểm khái quát về khởi kiện và quyên khỏi kiện của chủ thể.
10
CHƯƠNG II. ĐIỀU KIÊN KIỆN KHỎI KIỆNVÀ THỰC TIỄN THỰC HIÊN
THỜI KHỞI KIỆN
2.1. Điều Kiện Khởi Kiện
2.1.1. Chủ Thể Khởi Kiện
Điều 186 BLTTDS 2015 quy định:“Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự
mình hoặc thông qua người đại diện hợp phá kiện vụ án (sau đây gọi chung là người
khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.” Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là các chủ thể theo quy định của pháp luật được
tham giam vào quan hệ pháp luật TTDS. Các chủ thể này bao gồm cá nhân, cơ quan
hoặc tổ chức đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định. Cá nhân khi khởi
kiện vụ án dân sự phải có năng lực hành vi TTDS đồng thời phải có quyền lợi bị xâm
phạm.
Đối với những cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng mà có quyền lợi cần
phải được bảo vệ thì họ không thể tự mình khởi kiện vụ án được mà phải do người đại
diện thay mặt để thực hiện việc khởi kiện vụ án. Pháp luật cũng đòi hỏi cá nhân khi
khởi kiện vụ án dân sự phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều
186 BLTTDS 2015). Quy định này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt
trong TTDS, nó không cho phép người không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật lợi
dụng quyền khởi kiện để rồi lại xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Cá nhân khi đã có năng lực chủ thể đầy đủ thì có thể tự mình khởi kiện hoặc làm giấy
ủy quyền cho một người khác có năng lực hành vi thay mặt mình khởi kiện, trừ việc ly
một Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố
tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để vụ án được thụ lý, đơn khởi kiện
phải gửi đến đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết, xét xử. Cụ thể là:
-
Vụ án mà chủ thể khởi kiện thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án
quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS 2015.
- Vụ án được khởi kiện phải đúng với cấp tòa án có thẩm quyền quy định tại
Điều 35, 36, 37, 38 BLTTDS 2015. Vụ việc được khởi kiện đúng thẩm quyền của tòa
án theo lãnh thổ quy định tại Điều 39 BLTTDS 2015.
12
Trong trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án theo Điều 40
BLTTDS thì yêu cầu đương sự cam kết không khởi kiện tại các tòa án khác. Nếu do
thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết thì phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận.
Đối với những việc pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác gaiải quyết
trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi các cơ quan hữu quan đã giải
quyết mà họ không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó.
Khi xác định thẩm quyền, Tòa án cũng phải xác định đó là loại tranh chấp dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại hay lao động để vào sổ thụ lý loại án
đúng với quy định. Việc xác định này có ý nghĩa rất lớn khi xác định các quy phạm
pháp luật nội dung để áp dụng. Chẳng hạn nếu đó là tranh chấp về hôn nhân và gia
đinh sẽ áp dụng các quy định trong LHNHĐ, BLDS... Nếu là tranh chấp lao động sẽ áp
dụng BLLĐ...
2.1.3. Điều Kiện Về Thời Hiệu
- Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các chủ thể có quyền khởi kiện được quyền
yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
+ Vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử
dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu.
+ Các trường hợp khác pháp luật quy định.
Ngoài ra, khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không
có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện
vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật
có tranh chấp, trừtrường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217
của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều
193 BLTTDS 2013) thì đương sự có quyền khởi kiện lại.
- Tòa án chỉ được thụ lý giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án hoặc
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Điều kiện
này nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, sự ổn định của các quan hệ xã hội,
một việc đã được giải quyết thì không giải quyết lại nữa để tránh tình trạng chồng chéo
cũng một sự việc mà nhiều cơ quan giải quyết và tránh việc cố tình kéo dài việc khiếu
kiện của đương sự.
2.2. Thực Tiễn Thực Hiện Thời Hiệu Khởi Kiện
14
Quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án là quyền công dân, quyền con người
được Hiến pháp quy định và Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên trong thực tế đời
sống xã hội, không phải người dân nào cũng biết quyền khởi kiện hợp pháp của mình.
Khởi kiện hợp pháp là người khởi kiện có quyền khởi kiện, có đủ năng lực pháp luật
dân sự, năng lực hành vi dân sự, thực hiện việc khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện do
pháp luật quy định và vụ việc khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhận
được đơn khởi kiện.
Tìm hiểu thực tiễn tại một số Tòa án thì Tòa án thường trả lại đơn khởi kiện cho
người gửi đơn khởi kiện trong các trường hợp như: (i) Chủ thể khởi kiện không biết
cũng như bản thân cán bộ Tòa án được biết. Có như vậy mới hạn chế đến mức thấp
nhất việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do thời
hiệu khởi nhận đơn của các Tòa án trong cả nước để nhân dân biết, để công chức Tòa
án biết. Bản tổng hợp thời hiệu khởi kiện bao gồm các nội dung như:
(i) Thời hiệu khởi kiện một năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…;
tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;
(ii) Thời hiệu khởi kiện hai năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên
văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;
(iii) Thời hiệu khởi kiện ba năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…;
tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;
(iv) Thời hiệu khởi kiện mười năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…;
tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;
(v) Thời hiệu khởi kiện ba mươi năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải
quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu...
16
CHƯƠNG III. NHỮNG ĐIÊM MỚI VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN NĂM 2015
3.1. Đánh Giá Những Điểm Mới Về Thời Hiệu Khởi Kiện Trong BLDS 2015
Ngày 24 tháng 11 năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua Bộ luật Dân sự( BLDS) năm 2015. Bộ luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. So với Bộ luật Dân sự năm
2005, Bộ luật này có những quy định mới về thời hiệu khởi kiện nhằm xác lập quyền
sở hữu đối với di sản thừa kế. Cụ thể:
Khi đề cập đến thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Điều 645 BLDS năm 2005 quy
định “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản,…là mười năm, kể từ
thời điểm mở thừa kế”. Như vậy, việc chia thừa kế ở Việt Nam phải tuân theo thời hiệu
do pháp luật quy định-10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di
sản chết) đối với mọi tài sản. Hết thời hạn này, người thừa kế không còn quyền khởi
định tại điểm a khoản này”.
Căn cứ vào quy định trên có thể thấy, số phận của những di sản hết thời hiệu
khởi kiện đã được định đoạt:
Thứ nhất, nếu người đang quản lý di sản là người thừa kế thì di sản thuộc quyền
sở hữu của họ.
Thứ hai, nếu người đang quản lý di sản không phải là người thừa kế thì phân
thành hai trường hợp: Nếu người đang quản lý di sản là người đang chiếm hữu, người
được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai và
phù hợp pháp luật thì di sản thuộc quyền sở hữu của người người này;Nếu không có
người chiếm hữu, người được lợi về tài sản thì di sản thuộc về Nhà nước.Quy định trên
vừa tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết các tranh
chấp về di sản thừa kế, vừa nhằm khai thác triệt để công dụng của tài sản.
Quyền khởi kiện, trong đó có khởi kiện về thừa kế là quyền của người dân, được nhà
nước và pháp luật bảo hộ. Những quy định mới về quyền khởi kiện trong BLDS năm
2015 là công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền dân sự nói chung, quyền tài sản nói riêng
của người dân một cách triệt để.
Về thời hiệu
18
Để tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân được Hiến pháp và pháp
luật công nhận đều được tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm kịp thời, nâng cao trách nhiệm của
Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền khác trong tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá
nhân, pháp nhân, sự ổn định của các quan hệ dân sự và để phù hợp hơn với bản chất
pháp lý của thời hiệu, Bộ luật quy định về thời hiệu theo nguyên tắc: cá nhân, pháp
nhân phải yêu cầu tòa án, trọng tài giải quyết vụ, việc dân sự trong thời hạn luật định,
hết thời hạn đó mà cá nhân, pháp nhân mới có yêu cầu thì thay vì từ chối giải quyết yêu
cầu của cá nhân, pháp nhân như quy định hiện hành, tòa án hoặc trọng tài vẫn thụ lý,
giải quyết và tuyên bố chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ
việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
+ Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền
khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu;
+ Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người
có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa
có người đại diện khác thay thế.
Đồng thời,để khắc phục những bất cập về thời hiệu khởi kiện thừa kế trong
Bộ luật Dân sự hiện hành, phù hợp với quyền của người thừa kế, người khác có liên
quan đến di sản và những đặc thù về văn hóa, tính chất của di sản, Điều 623 BLDS
2015 quy định thời hiệu thừa kế như sau:
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động
sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản
thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó;
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc
bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
- Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được
giải quyết như sau:
+ Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại
Điều 236 của Bộ luật này;
20
+ Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại tại
Điều 236 Bộ luật này.
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc
bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
- Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người
cầu này phải được đưa ra trước
khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản
án, quyết định giải quyết vụ,
việc.
Người được hưởng lợi từ việc
áp dụng thời hiệu có quyền từ
21
chối áp dụng thời hiệu, trừ
trường hợp việc từ chối đó
nhằm mục đích trốn tránh thực
hiện nghĩa vụ.
Được bổ sung thêm
Điều 152. Hiệu lực của thời Điều 157. Hiệu lực của
hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu hưởng quyền
miễn trừ nghĩa vụ dân sự
dân sự, miễn trừ nghĩa vụ
Trường hợp pháp luật quy định dân sự
cho các chủ thể được hưởng 1. Trong trường hợp pháp
quyền dân sự hoặc được miễn luật quy định cho các chủ
trừ nghĩa vụ dân sự theo thời thể được hưởng quyền dân
hiệu thì chỉ sau khi thời hiệu sự hoặc được miễn trừ
đó kết thúc, việc hưởng quyền nghĩa vụ dân sự theo thời
dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ hiệu thì chỉ sau khi thời hiệu
dân sự mới có hiệu lực.
Bắt
đầu
quyết việc dân sự
thời 1. Thời hiệu khởi kiện vụ án 1. Thời hiệu khởi kiện vụ án
hiệu khởi kiện dân sự được tính từ ngày người dân sự được tính từ ngày
vụ án dân sự, có quyền yêu cầu biết hoặc quyền, lợi ích hợp pháp bị
thời hiệu
yêu phải biết quyền, lợi ích hợp xâm phạm, trừ trường hợp
cầu giải quyết pháp của mình bị xâm phạm, pháp luật có quy định khác.
việc dân sự
trừ trường hợp pháp luật có 2. Thời hiệu yêu cầu giải
quy định khác.
quyết việc dân sự được tính
2. Thời hiệu yêu cầu giải quyết từ ngày phát sinh quyền yêu
việc dân sự được tính từ ngày cầu, trừ trường hợp pháp
phát sinh quyền yêu cầu, trừ luật có quy định khác.
trường hợp pháp luật có quy
định khác.
Có thay đổi nội
dụng đất theo quy định của định khác;
Luật đất đai.
3. Các trường hợp khác do
4. Trường hợp khác do luật pháp luật quy định.
quy định.
Có thêm khoản 4
so với năm 2005
Điều 156. Thời gian không Điều 161. Thời gian không
tính vào thời hiệu khởi kiện tính vào thời hiệu khởi
vụ án dân sự, thời hiệu yêu kiện vụ án dân sự, thời
cầu giải quyết việc dân sự
hiệu yêu cầu giải quyết
gian Thời gian không tính vào thời việc dân sự
Thời
không tính vào hiệu khởi kiện vụ án dân sự, Thời gian không tính vào
thời hiệu khởi thời hiệu yêu cầu giải quyết thời hiệu khởi kiện vụ án
kiện vụ án dân việc dân sự là khoảng thời gian dân sự, thời hiệu yêu cầu
sự,
thời
dụng mọi biện pháp cần
Trở ngại khách quan là những thiết và khả năng cho phép.
trở ngại do hoàn cảnh khách Trở ngại khách quan là
quan tác động làm cho người những trở ngại do hoàn
có quyền, nghĩa vụ dân sự cảnh khách quan tác động
không thể biết về việc quyền, làm cho người có quyền,
lợi ích hợp pháp của mình bị nghĩa vụ dân sự không thể
xâm phạm hoặc không thể thực biết về việc quyền, lợi ích
hiện được quyền, nghĩa vụ dân hợp pháp của mình bị xâm
sự của mình;
phạm hoặc không thể thực
2. Chưa có người đại diện hiện được quyền hoặc nghĩa
trong trường hợp người có vụ dân sự của mình;
quyền khởi kiện, người có 2. Chưa có người đại diện
quyền yêu cầu là người chưa trong trường hợp người có
thành niên, mất năng lực hành quyền khởi kiện, người có
vi dân sự, có khó khăn trong quyền yêu cầu chưa thành
nhận thức, làm chủ hành vi niên, mất năng lực hành vi
hoặc bị hạn chế năng lực hành dân sự hoặc bị hạn chế năng
vi dân sự;
lực hành vi dân sự;
3. Người chưa thành niên, 3. Chưa có người đại diện
người mất năng lực hành vi khác thay thế hoặc vì lý do
dân sự, người có khó khăn chính đáng khác mà không