Header Page 1 of 161.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TRẦN DUY LÂM
Đề tài:
TÍCH CỰC HÓA PHƯƠNG PHÁP THUYẾT
TRÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD
PHẦN “ CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI” TRONG CHƯƠNG
TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 Ở
TRƯỜNG THPT
(Khảo sát thực tế ở Trường THPT Trưng Vương – Quận 1)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH GIÁO DỤC CHINH TRỊ
TP. HỒ CHÍ MINH 5/2014
Footer Page 1 of 161.
Header Page 2 of 161.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Đề tài:
TÍCH CỰC HÓA PHƯƠNG PHÁP THUYẾT
TRÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD
PHẦN “ CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ
nghiệm cho đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp.
TP. Hồ Chí Minh tháng 05 năm2014
Tác giả
Trần Duy Lâm
Footer Page 3 of 161.
Header Page 4 of 161.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GDCD : Giáo dục công dân
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
PPDH : Phương pháp dạy học
PPTT : Phương pháp thuyết trình
THPT : Trung học phổ thông
XH : Xã hội
DS: Dân số
GDCD: Giáo Dục Công Dân
PPDHTC: Phương Pháp dạy Học Tích Cực
Footer Page 4 of 161.
Header Page 5 of 161.
MỤC LỤC
Footer Page 5 of 161.
Header Page 6 of 161.
1.4 Tình hình vận dụng phương pháp thuyết trình trong dạy học phần
“Công dân với các vấn đề chính trị-xã hội” ở Trường THPT Trưng
Vương
1.4.1 Khái quát tình hình trường THPT Trưng Vương
1.4.2 Thực trạng dạy học và những kết quả đạt được trong việc vận dụng PPTT
trong giảng dạy phần “ Công dân với các vấn đề chính trị-xã hội” ờ
trường THPT Trưng Vương.
Chương 2: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VỀ VIỆC VẬN DỤNG
PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH TRONG DẠY HỌC PHẦN
“CÔNG DÂN VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI”
2.1 Chuẩn bị thực nghiệm
2.1.1 Mục đích thực nghiệm
2.1.2 Đối tượng và địa điểm thực nghiệm
2.1.3 Giả thuyết thực nghiệm
2.1.4 Kế hoạch thực nghiệm
2.2 Nội dung thực nghiệm
2.2.1 Thiết kế giáo án một số bài thuộc phần “Cộng dân với các vấn đề chính
trị-xã hội”
2.2.2 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
2.3 Kết quả thực nghiệm
2.3.1 Lập bảng kết quả thực nghiệm
2.3.2 Phân tích, so sánh kết quả thực nghiệm
Chương 3. QUY TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG
phần “ Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội”
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới các PPDH là thay thế các PPDH chỉ đem lại cho người học sự
thụ động, lệ thuộc vào người dạy bằng các PPDH khác có khả năng làm cho
người học tích cực chủ động. Đổi mới PPDH đối với giáo dục và đào tạo nước
ta hiện nay là nhiệm vụ tất yếu, cấp thiết. Bởi vì: Thứ nhất, khoa học kỹ thuật –
công nghệ hiện nay phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi giáo dục và đào tạo vừa truyền
thụ hệ thống tri thức đã có vừa cập nhật kịp thời những thông tin, tri thức mới.
Thứ hai, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta đang
hội nhập với kinh tế thế giới đòi hỏi giáo dục và đào tạo nước ta phải xây dựng
ở thế hệ trẻ các thói quen, kỹ năng tự lực, nghi vấn, suy luận, sáng tạo, phản ứng
nhanh và quyết đoán trước hoàn cảnh. Thứ ba, nhiệm vụ đổi mới PPDH đã trở
thành cụ thể đối với toàn ngành cũng như từng GV vì nó được xác định rõ trong
đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghị quyết TW 4 khóa VII
(01- 1993), Nghị quyết TW 2 khóa VIII (02-1996), được thể chế hóa trong Luật
Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
đặc biệt Chỉ thị số 14 (04/1999). Đổi mới PPDH trong dạy học môn GDCD hiện
nay hay các môn học khác ở trường THPT là đòi hỏi cấp thiết của XH, là nhiệm
vụ chuyên môn quan trọng của mỗi GV. Nhất là từ năm học 2006-2007 trở đi,
chương trình phân ban THPT và sử dụng SGK mới theo quyết định của Quốc
hội bắt đầu có hiệu lực.
Phương pháp thuyết trình có thể kết hợp với các phương pháp khác trong hệ
thống các PPDH môn GDCD trở thành nhóm các phương pháp. Khi kết hợp
như vậy PPTT vừa giữ được vai trò chủ đạo vừa khắc phục những hạn chế vốn
có của nó, và như vậy PPTT có thể chuyển hóa trở thành những hình thức
thuyết trình mới tích cực.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ bản chất, vai trò quan trọng của PPTT trong dạy học môn
hội” theo hướng phát huy tính tích cực của HS thì việc học môn GDCD sẽ hiệu
quả hơn so với PPTT truyền thống.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân
tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống … Khóa luận còn sử dụng
Footer Page 9 of 161.
Header Page 10 of 161.
các phương pháp như điều tra XH học, thực nghiệm sư phạm, lấy ý kiến của các
chuyên gia, thống kê toán học …
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận làm rõ các hình thức thuyết trình theo hướng tích cực và đề ra giải
pháp tích cực hóa PPTT trong dạy học môn GDCD phần “Công dân với các vấn
đề chính trị - xã hội” ở trường THPT. Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể
làm tài liệu trong việc đổi mới phương pháp giáo dục ở trường THPT Trưng
Vương Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa
luận gồm có 3 chương, 9 tiết.
Footer Page 10 of 161.
Header Page 11 of 161.
NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH
Header Page 12 of 161.
luật khách quan chi phối tác động của mình vào học sinh và nội dung dạy học
thì mới đề ra những phương pháp tác động phù hợp.
Từ đó có thể nhận thấy đặc trưng của phương pháp dạy học: người học là đối
tượng tác động của giáo viên, đồng thời là chủ thể, là nhân cách mà hoạt động
của họ (tương ứng vói sự tác động của người giáo viên) phụ thuộc vào hứng thú,
nhu cầu, ý chí của họ. Nếu giáo viên không gây cho học sinh có mục đích tương
ứng với mục đích của mình thì không diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học
và phương pháp tác động không đạt được kết quả mong muốn.
Vì vậy, cấu trúc của phương pháp dạy học trước tiên là mục đích của người
giáo viên đề ra và tiến hành một hệ thống hành động với những phương tiện mà
họ có. Dưới tác động đó của người giáo viên làm cho người học đề ra mục đích
của mình và thực hiện hệ thống hành động với phương tiện mà họ có nhằm lĩnh
hội nội dung dạy học.
Trên cơ sở đó, ta có thể hiểu về phương pháp dạy học như sau:
- Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương
tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy
học.
- Nói cách khác phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ
đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động
nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho họ
lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy
học.
- Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với
sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo,
còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của
phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy.
Footer Page 12 of 161.
Footer Page 13 of 161.
Header Page 14 of 161.
1.1.2 Cấu trúc của phương pháp thuyết trình
Trong quá trình sử dụng PPTT cần diễn giải một vấn đề nào đó thì người
sử dụng cần phải trải qua bốn giai đoạn: Đặt vấn đề, phát biểu vấn đề,
giải quyết vấn đề và kết luận rút ra từ vấn đề đó.
- Đặt vấn đề là bước đầu tiên nhằm thông báo vấn đề dưới dạng tổng
quát để kích thích sự chú ý ban đầu của học sinh.
- Phát biểu vấn đề là bước nêu lên những câu hỏi cụ thể nhằm vạch ra
phạm vi những vấn đề cần phải xem xét.
- Giải quyết vấn đề: Bước này có thể tiến hành theo logic quy nạp hay
logic diễn dịch.
+ Logic quy nạp là con đường nhận thức từ sự kiện, hiện tượng đến
cái chung, cái khái quát, từ những trường hợp cụ thể đến quy luật, khái
niệm, nguyên tắc.
Theo logic quy nạp có thể có ba cách trình bày. Đó là: Quy nạp phân
tích từng vấn đề đặt ra ở bước phát triển vấn đề tương đối độc lập với
nhau. Vì vậy có thể giải quyết từng vấn đề, rút ra kết luận rồi chuyển
sang giải quyết vấn đề khác.
Quy nạp phát triển: Nêu vấn đề được giải quyết theo lối móc xích,
nghĩa là giải quyết xong từng vấn đề thứ nhất thì kết luận rút ra sẽ lại
làm tiền đề cho việc giải quyết vấn đề tiếp theo. Trong việc chứng
minh các bài toán hình học thường gặp loại quy nạp này.
Quy nạp song song – đối chiếu: Nêu vấn đề đặt ra phải giải quyết chứa
đựng những mặt tương phản, đối lập.
+ Logic diễn dich là con đường nhận thức từ nguyên lý chung đến cái
cụ thể. Theo logic diễn dich, bắt đầu đưa ra các kết luận sơ bộ khái
viên và mới ghi nhớ được bài học.
Footer Page 15 of 161.
Header Page 16 of 161.
- Bằng phương pháp thuyết trình, giáo viên có thể truyền đạt một khối
lượng tri thức khá lớn cho nhiều học sinh trong cùng một lúc, vì vậy đảm
bảo tinh kinh tế cao.
Tuy nhiên, phương pháp thuyết trình còn có những hạn chế, nếu sử dụng
không đúng có thể:
- Làm cho học sinh thụ động, chỉ sử dụng chủ yếu thính giác cùng với tư
duy tái hiện, do đó làm cho họ chóng mệt mỏi.
- Làm cho học sinh thiếu tính tích cực trong việc phát triển ngôn ngữ nói.
- Thiếu điều kiện cho phép giáo viên chú ý đầy đủ đến trình độ nhận thức
cũng như kiểm tra đầy đủ sự lĩnh hội tri thức của từng học sinh.
1.1.4 Mối quan hệ của nó với phương pháp dạy học khác trong dạy học môn
GDCD
1.1.4.1 Phương pháp thuyết trình với phương pháp đàm thoại
Trong giảng dạy môn GDCD có sử dụng phương pháp đàm thoại, khi
đó đàm thoại được kết hợp với thuyết trình. Phương pháp đàm thoại
được xem như là quá trình tương tác giữa người dạy với người học,
được thực hiện thông qua hệ thống các câu hỏi và câu trả lời tương
ứng về một chủ đề nhất định do người dạy hay người học đặt ra. Kết
quả là dưới sự dẫn dắt của người dạy, người học thể hiện được ý
tưởng của mình; khám phá và lĩnh hội đối tượng học tập.
Thông thường có hai hình thức đàm thoại là đàm thoại có chủ đích và
đàm thoại tự do. Đàm thoại có chủ đích là hình thức đàm thoại mà câu
hỏi của GV được sắp xếp theo một hệ thống nhất định hướng vào chủ
đề. Hình thức đàm thoại này có ba loại là đàm thoại diễn giải (giảng
Phương pháp thuyết trình với phương pháp giải quyết vấn đề
Phương pháp giải quyết vấn đề là PPDH, trong đó GV tạo ra tình
huống có vấn đề, điều chỉnh HS phát hiện ra vấn đề, tự giác tích cực
giải quyết vấn đề, thông qua đó lĩnh hội tri thức, phát triển kỹ năng và
đạt được những mục tiêu dạy học. Trong quá trình thực hiện bài thuyết
trình, GV thường kết hợp với PPDH giải quyết vấn đề. Cách kết hợp
thường là, GV đưa ra những câu hỏi hay đặt ra vấn đề có tính nghịch
lý, mâu thuẫn giữa kiến thức, kinh nghiệm đã có của HS với vấn đề
GV sẽ trình bày, hoặc cũng có thể GV diễn đạt vấn đề dưới dạng nghi
vấn. Những câu hỏi, cách đặt vấn đề, cách diễn đạt như vậy được GV l
chọn, bố trí một cách hợp lý theo sát logic nội dung bài học đã trở
thành một bộ phận của bài thuyết trình và do đó có tác dụng tạo ra sự
chú ý ở HS, đặt họ vào trạng thái luôn luôn có những thắc mắc cần
được giải đáp. Như vậy, sự kết hợp đó đã làm tăng thêm sự hấp dẫn
của bài thuyết trình, tạo nên sự chú ý, kích thích HS tự tìm tòi tri thức
để giải quyết mâu thuẫn trong nhận thức của bản thân, và cũng do đó
mà khắc phục được những hạn chế của bài thuyết trình. Khi sử dụng
phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học, người dạy phải sử dụng
Footer Page 17 of 161.
Header Page 18 of 161.
PPTT và khi đó thuyết trình có giá trị như “công cụ trung gian” để
chuyển tải thông tin giữa người dạy và người học, làm cho nhận thức
của người học đi từ chỗ chưa có nhu cầu cần tìm kiếm tri thức đến có
nhu cầu, rồi gặp phải những mâu thuẫn nội tại trong nhận thức của bản
thân và sau đó thì nhận thức ra được vấn đề học tập. Yếu tố quan trọng
của dạy học giải quyết vấn đề là tạo ra tình huống có vấn đề và giải
quyết vấn đề trong nhận thức của người học. Để tạo tình huống có vấn
Footer Page 18 of 161.
Header Page 19 of 161.
qua phương tiện nghe nhìn; tham quan thực tế… Phương pháp thuyết
trình với phương pháp trực quan có mối quan hệ gắn bó với nhau.
Trực quan có giá trị minh họa, hỗ trợ rất lớn cho việc thuyết trình. Quá
trình nhận thức của con người chia làm hai giai đoạn là nhận thức cảm
tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính gồm các hình thức như
cảm giác, tri giác, biểu tượng. Nhận thức lý tính gồm khái niệm, phán
đoán, suy luận. Trong nhận thức cảm tính, có càng nhiều cơ quan cảm
giác trực tiếp tiếp xúc với sự vật hiện tượng thì tài liệu nhận thức càng
đa dạng, phong phú, trở thành cơ sở tin cậy cho nhận thức lý tính.
PPDH lợi dụng đặc điểm này để xây dựng phương pháp trực quan,
đây cũng là lý do quan trọng làm cho bài thuyết trình thêm hấp dẫn,
thuyết phục, hiệu quả. Khi sử dụng phương pháp trực quan để dạy học
môn GDCD, GV buộc phải thuyết minh, giảng giải, phân tích, tổng
hợp, khái quát, kết luận các chủ đề, quan điểm, quy luật, nguyên lý
trong nội dung bài học. Như vậy, thuyết trình buộc phải “vào cuộc”
tích cực khi GV sử dụng phương pháp trực quan.
1.2 Phương pháp dạy học tích cực
1.2.1 Định hướng để đổi mới
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
nghị quyết Trung ương Khóa VII ( 1/1993), Nghị quyết Trung ương 2
Khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo Dục (12/1998),
được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là
chỉ thị số 15 (4/1999). Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
cùng là chuyển sang hệ thống mới: Trò - Lớp - Thầy.
Theo Nguyễn Trọng Di, nếu coi học là quá trình giải quyết vấn đề do
tình huống thực tế tạo nên, học là tự tìm tòi mày mò kiến thức thì đồng
nhất việc học với việc nghiên cứu khoa học.Theo ông, học qua giải quyết
tình huống, mà tình huống ấy do thầy tạo ra, do sự hướng dẫn có chủ đích
của thầy chứ không phải tự lực hoàn toàn, động cơ ở người học cũng
khác người nghiên cứu. Xét về bản chất việc học là tiếp thu, là phải biết
chấp nhận, vì vậy nếu coi là tự tìm tòi ra kiến thức là không hợp lý, là hơi
cực đoan.
Với Phạm Viết Vượng, PPDH tích cực không phải là một phương pháp
cụ thể, không phải là một phương pháp mới phát minh mà là một nguyên
tắc dạy học. Từ nguyên tắc này buộc người ta phải tìm ra những phương
pháp tương ứng.
Tuy chưa hoàn toàn thống nhất nhưng quan điểm của các nhà giáo dục
Việt Nam đã có giá trị định hướng, chỉ rõ phương pháp, biện pháp dạy
học phát huy tính tích cực học tập của HS. Họ coi việc phát huy tính tích
cực học tập và vai trò chủ thể học tập của HS là đối tượng tác động của
GV và việc tích cực học tập của HS là dấu hiệu của việc học tập có hiệu
quả.
1.2.3 Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn,
được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ
động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo
nghĩa trái với tiêu cực PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích
Footer Page 21 of 161.
Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho
một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì
giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành
kiểu dạy "thông báo - đồng loạt". Giáo viên quan tâm trước hết đến việc
hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định
trong chương trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu
Footer Page 22 of 161.
Header Page 23 of 161.
và nhớ những điều giáo viên giảng. Cách dạy này đẻ ra cách học tập thụ
động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng,
hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng động của xã
hội hiện đại. Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải
phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, thực hiện "dạy học phân
hóa"* quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân học sinh trong tập
thể lớp. Phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung
tâm ra đời từ bối cảnh đó.
Trên thực tế, trong qúa trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt
động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Thông qua hoạt động học,
dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính
mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm
thay cho mình được. Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động,
không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy
sẽ rất hạn chế.
Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì
đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học. Tuy
nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương
pháp dạy học cụ thể. Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách
nghi vấn, câu hỏi gợi mở đã đặt HS vào tình huống có vấn đề giúp cho
HS tích cực, chủ động nhận thức bài học.
Thuyết trình theo kiểu thuật chuyện
GV có thể thông qua những câu chuyện diễn ra trong thực tế đời sống,
thông qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật, điện ảnh... làm tư liệu để
phân tích, minh họa, khái quát và rút ra kết luận nhằm xây dựng biểu
tượng, khắc sâu nội dung kiến thức của bài học. Giá trị tích cực của
hình thức dạy học này là câu chuyện đã tạo nên sự tập trung chú ý đặc
biệt của HS giúp HS tiếp thu bài học có hiệu quả.
Thuyết trình theo kiểu mô tả phân tích
GV có thể sử dụng công thức, sơ đồ, biểu mẫu... để mô tả, phân tích,
chỉ ra những đặc điểm, khía cạnh của từng nội dung bài học. Các công
thức, sơ đồ, biểu mẫu... được sử dụng ở dây có vai trò như là phương
tiện trực quan. Tuy nhiên giá trị của nó không chỉ dừng lại ở mức độ
giúp cho HS có được tài liệu trực quan mà các dấu hiệu bản chất, các
mối liên hệ, tính quy luật... của vấn đề học tập còn được hình thành
trong tư duy HS.
Thuyết trình theo kiểu nêu vấn đề có tính giả thuyết
GV đưa vào bài học một số giả thuyết hoặc quan điểm có tính chất
mâu thuẫn với vấn đề đang nghiên cứu nhằm xây dựng tình huống có
vấn đề. Kiểu nêu vấn đề này đòi hỏi HS phải lựa chọn quan điểm
đúng, sai và có lập luận vững chắc về sự lựa chọn của mình. Đồng
thời HS phải biết cách phê phán, bác bỏ một cách chính xác, khách
quan những quan điểm không đúng đắn. Tính tích cực của phương
pháp này không chỉ ở mức HS tự giải quyết vấn đề, lĩnh hội tri thức
mà các mục tiêu dạy học bao gồm tri thức, kỹ năng, thái độ đều đạt
được ở mức cao.
Thuyết trình theo kiểu so sánh tổng hợp
Nếu nội dung của vấn đề trình bày chứa đựng những mặt tương phản
lượng được phân phối như sau:
A. Một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội
Bài 8 (2 tiết) : Chủ nghĩa xã hội
Bài 9 (3 tiết) : Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Bài 10 (2 tiết) : Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
B. Một số chính sách lớn ở nước ta hiện nay
Bài 11 (1 tiết) : Chính sách dân số và giải quyết việc làm
Bài 12 (1 tiết) : Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bài 13 (3 tiết) : Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ, văn hóa
Bài 14 (1 tiết) : Chính sách quốc phòng và an ninh
Bài 15 (1 tiết) : Chính sách đối ngoại
1.4 Tình hình vận dụng PPTT trong dạy học phần “Công dân với các vấn
đề chính trị-xã hội” ở Trường THPT Trưng Vương
1.4.1 Khái quát tình hình trường THPT Trưng Vương
Footer Page 25 of 161.