ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------------------------
TRƯƠNG THỊ TỐ UYÊN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT VÀ TÀI
NGUYÊN CÂY THUỐC TRONG MỘT SỐ TRẠNG
THÁI THẢM THỰC VẬT Ở XÃ VŨ CHẤN, HUYỆN
VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------------------------
TRƯƠNG THỊ TỐ UYÊN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT VÀ TÀI
NGUYÊN CÂY THUỐC TRONG MỘT SỐ TRẠNG
THÁI THẢM THỰC VẬT Ở XÃ VŨ CHẤN, HUYỆN
VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: SINH THÁI HỌC
mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa
học, cùng bạn bè, đồng nghiệp!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 24 tháng 8 năm 2010
Tác giả
Trương Thị Tố Uyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Tác giả
Trương Thị Tố Uyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Sách đỏ Việt Nam
TCN
Trước công nguyên
VU
Sẽ nguy cấp
WHO
World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá của chúng ta. Rừng có
vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, chống xói mòn, lũ lụt, giữ cân bằng sinh
thái và sự phát triển bền vững trên trái đất. Bên cạnh đó rừng còn là nơi cung cấp
trữ lượng gỗ lớn, các loài cây thuốc quí và những lâm sản có giá trị khác nữa. Xuất
phát từ những lợi ích to lớn mà rừng đem lại, chúng ta cần phải kết hợp giữa khai
thác hợp lý, bảo vệ và phục hồi nguồn tài nguyên quí giá này. Việc phục hồi rừng là
một trong những vấn đề cấp thiết nhất hiện nay đối với ngành lâm nghiệp Việt Nam
cũng như của tất cả các nước trên thế giới khi độ che phủ của rừng giảm mạnh
xuống dưới mức an toàn sinh thái.
truyền để phòng chữa bệnh tật. Theo thống kê của Viện dược liệu năm 2005 các nhà
khoa học đã phát hiện được 1.863 loài cây thuốc thuộc 238 họ, thu thập được 8000
tiêu bản thuộc 1296 loài. Việc sử dụng nguồn dược liệu từ thực vật ngày càng được
sử dụng rộng rãi vì nó có ưu điểm
: Đáp ứng được nhu cầu phòng và chữa bệnh
tương đối tốt mà lại rẻ tiền , dễ kiếm , đặc biệt í t gây tác dụng phụ . Chính vì vậy ,
những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chú trọng vấn đề bảo vệ , phát
triển và phục hồi rừng , thảm thực vật nói riêng và tài nguyên cây thuốc nói chung ,
thảm thực vật là đối tượng chịu tác động không ngừng của các nhân tố vô sinh và
hữu sinh, đồng thời còn là nơi xảy ra quá trình diễn thế, quá trình phục hồi và suy
thoái rừng. Để xây dựng kế hoạch trong việc bảo vệ, phục hồi và khai thác có hiệu
quả tài nguyên rừng cũng như như nắm vững được quy luật phát triển của nó, chúng
ta cần có những hiểu biết về tính đa dạng thực vật và những tài nguyên cây thuốc
trong rừng.
Võ Nhai là huyện thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam với địa bàn có cả vùng
miền núi và trung du. Theo số liệu kiểm kê năm 2006 và kết quả điều tra tháng 9
năm 2008 của phân viện điều tra qui hoạch rừng Tây bắc bộ , trong tổng số diện tích
đất tự nhiên của huyện Võ Nhai là 84.510,41 ha thì diện tích đất lâm nghiệp là
62.689,50 chiếm 74,18%. Trong đó gồm rừng sản xuất có 24.855,73 ha, rừng phòng
hộ 18.974,87 ha, rừng đặc dụng 18.858,9 ha. Ngoài ra còn đất đồi núi chưa được sử
dụng là 10.69,68 ha chiếm 12,03% diện tích đất tự nhiên [50]. Đặc biệt xã Vũ Chấn
trong tổng diện tích đất tự nhiên là 7.340,9 ha thì diện tích đất lâm nghiệp của xã là
5.031,9 ha. Đây là một xã có nhiều rừng của huyện Võ Nhai nên rất thuận lợi cho
việc nghiên cứu tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc. Vì vậy chúng tôi
chọn đề tài "Nghiên cứu tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc trong một
số trạng thái thảm thực vật tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên".
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật, hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật
Có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau về
thảm thực vật (vegetation). Theo J.Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực
bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó. Thái Văn Trừng (1978)
[63] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm
thảm xanh. Trần Đình Lý (1998) [43] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ
thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt
trái đất. Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào. Nó
chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm thực vật cây
bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
1.1.1.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
H.G. Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã
phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới
và núi cao.
J. Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và
loạt quần hệ). Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng
xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ
ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm [45].
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật
Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian.
hoại, cần khai thác hợp lý.
Thomasius (1965) đưa ra bảng phân loại các kiểu lập quần vùng Quảng Ninh
dựa trên các điều kiện địa hình, đất đai, đá mẹ, khí hậu và các loài cây ưu thế.
Phan Nguyên Hồng (1970) [35], phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển Miền bắc
Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống.
Trần Ngũ Phương (1970) [47] đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền bắc Việt
Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt
đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao.
Thái Văn Trừng (1970) [63] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ
kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và
những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật. Năm 1975,
trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....