HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGÔ VĂN SƠN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành:
Quản lý đất đai
Mã số:
60.85.01.03
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Hữu Thành
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này của tôi là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc ./.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ................................................................................................................ i
Lời cảm ơn ................................................................................................................... ii
Mục lục ...................................................................................................................... iii
Danh mục các chữ viết tắt .............................................................................................v
Danh mục bảng ........................................................................................................... vi
Danh mục hình, sơ đồ ................................................................................................. vii
Trích yếu luận văn ..................................................................................................... viii
Phần 1.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
Phần 2.
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
Phần 3.
3.1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Hà Đông, TP Hà Nội. ...............27
Tình hình sử dụng đất trên địa bàn quận Hà Đông..........................................27
Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp ..............................27
Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp của quận .............................................................................................28
iii
3.5.
3.5.1.
Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................28
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp.............................................................28
3.5.2.
3.5.3.
3.5.4.
3.5.5.
Phương pháp chọn điểm.................................................................................28
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp .............................................................29
Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu ..........................................................28
Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất ..........................................................29
Phần 4. Kết quả và thảo luận ......................................................................................32
4.1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ..................................................................32
4.1.1.
4.1.2.
Phần 5 Kết luận và kiến nghị .....................................................................................76
5.1.
Kết luận .........................................................................................................76
5.2.
Kiến nghị .......................................................................................................77
Tài liệu tham khảo .......................................................................................................78
Phụ lục ......................................................................................................................81
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Nghĩa tiếng Việt
1
BVTV
Bảo vệ thực vật
2
ĐVT
Đơn vị tính
8
LĐ
Lao động
9
LUT
Loại sử dụng đất (Land Use Type)
10
LX-LM
Lúa xuân- Lúa mùa
11
STT
Số thứ tự
12
TNHH
Thu nhập hỗn hợp
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 4.1. Biểu đồ biểu thị lượng mưa và nhiệt độ trung bình của quận .....................33
Hình 4.2. Biểu đồ diện tích, cơ cấu sử dụng đất năm 2015 ........................................47
Sơ đồ 1.
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 quận Hà Đông - Thành phố
Hà Nội ......................................................................................................48
vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Ngô Văn Sơn
Tên đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn quận
Hà Đông – Thành phố Hà Nội”
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 06.85.01.03
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp nhằm góp phần giúp người
dân lựa chọn loại hình sử dụng đất hiệu quả hơn trong điều kiện cụ thể của quận.
- Định hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp của quận Hà Đông.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp
nghiệp là 2.919,69 ha, chiếm 58,82% tổng diện tích tự nhiên của quận; đất chưa
sử dụng là 698,88 ha, chiếm 14,08% tổng diện tích tự nhiên của quận.
- Qua điều tra đã xác định trên địa bàn quận có 6 loại hình sử dụng đất chính
là: chuyên lúa, 2 lúa - 1 màu, chuyên màu, chuyên hoa, cây ăn quả và nuôi trồng
thủy sản. Tuy nhiên diện tích LUT chuyên trồng lúa trong quận vẫn là chủ yếu.
- Kết quả đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất như sau:
+ Về hiệu quả kinh tế: các LUT có hiệu quả kinh tế cao là LUT chuyên màu
(GTSX/ha trung bình 145,236 nghìn đồng, TNHH/ha trung bình 90,732 nghìn
đồng), chuyên hoa (GTSX/ha trung bình 352,15 nghìn đồng, TNHH/ha trung
bình 287,68 nghìn đồng), cây ăn quả (GTSX/ha trung bình 210,73 nghìn đồng,
TNHH/ha trung bình 145,37 nghìn đồng) và nuôi trồng thủy sản (GTSX/ha trung
bình 120,45 nghìn đồng, TNHH/ha trung bình 80,33 nghìn đồng). LUT có hiệu
quả kinh tế trung bình là LUT 2 lúa - 1 màu, hiệu quả kinh tế thấp nhất là LUT
chuyên lúa.
+ Về hiệu quả xã hội: LUT chuyên hoa thu hút được nhiều công lao động
nhất, công lao động trung bình của LUT này là 988 công/ ha, tiếp đến là LUT
chuyên màu là 887,8 công/ ha LUT lúa – màu là 820,25 công/ha. LUT cho số
công lao động thấp nhất là LUT NTTS với 385 công/ha.
+ Về hiệu quả môi trường: Các LUT đều có ảnh hưởng tới môi trường ở
mức độ nặng nhẹ khác nhau. LUT nuôi trồng thủy sản và LUT chuyên hoa được
đánh giá là ít gây ảnh hưởng đến môi trường nhất tuy nhiên trên thực tế đối với
LUT nuôi trồng thủy sản việc thải phân cá và lượng thức ăn dư thừa cùng với các
ix
loại thuốc phòng trừ dịch bệnh cũng gây ảnh hưởng đến nguồn nước là khá
nhiều. Các LUT còn lại là 2 lúa, 2 lúa – 1 màu, chuyên màu, cây ăn quả đều chưa
thân thiện với môi trường do người dân vẫn giữ thói quen sử dụng chưa đúng liều
lượng các loại phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trong mùa vụ và đều có
AGRICULTURE
1.
Purpose of the study
- Helping people make a better decision when choosing different types of
farmland use in the specific conditions of the district through assessment of the
actual state of farmland use.
- Orientating and proposing solutions for improving the efficiency of
farmland use of Ha Dong District.
2.
Methodology of the study
- Collecting secondary data and documents.
Collecting the available data and documents from governmental organs
such as: Department of natural Resources and Environment, Department of
Agriculture and rural development, Statistical Division and other departments
concerned.
- Collecting the Primary data and documents
Household interviews: Income surveys collected by direct interviews with
famers in the Wards of the District. The survey questionnaire includes
information on the basic situation of the farmer household; information on the
size and the structures of the land; difficulties and proposals ….
Conducting a survey of 80 households in three wards in the district
(YenNghia, Bien Giang and Dong Mai), which still remain a large area of
agricultural land and the diversity of land use.
- Data collected is processed using Microsoft Office Excel 2010, which
allows to aggregate data on natural conditions and social-economic conditions,
land-use systems and types of land use.
are LUT specializing in vegetable-subsidiary crop (production value / ha average
145.236 trillion dong, mix income / ha average 90.732 thousand), specializing in
flowers (production value / ha average 352.15 dongs, mix income / ha average
287.68 thousand), fruit trees (production value / ha average 210.73 trillion dong,
mix income / ha average 145.37 thousand) and aquaculture (production value / ha
average 120.45 trillion dong, mix income / ha average 80.33 thousand). LUT 2
rice- 1 vegetable-subsidiary crophas the medium economic efficiency, lowest
economic efficiency is LUT for rice.
xii
+ In terms of social efficiency: LUT of flowers givesthe highest labor
productivity, the average labor productivity of this LUT is 988 labor /ha,
followed by LUT for subsidiary crop (887.8 labor/ha), LUT for rice- vegetablesubsidiary crop (820.25 labor/ha). LUT which gives the lowest labor productivity
is LTU for aquaculture (385 labor/ha).
+ In terms of environmental efficiency: The LUT will affect the
environment in different severity. LUT of aquaculture and LUT of flowersare
considered to have less impact on the environment but in fact for the LUT of
aquaculture, fish feces and leftovers along with prevention disease drugs also
affects water resources considerably. Other LUT like 2 rice, 2 rice - 1 vegetablesubsidiary crop, vegetable-subsidiary crop, fruit trees are not environmentally
friendly because people still keep the habit of not using the right dose of
chemical fertilizers, pesticides in crop plants and environmental efficiency are
inadequate.
Intensive investment needed to increase productivity, product quality: focus
on building technical infrastructure (transport systems, irrigation ...), apply
advanced science and technology to serve commodity - oriented production, do
more researches to release crop varieties and animal breeds which are advantages
in production. Conducting training courses on science and technology and
manufacturing knowledge to farmers, which give practical applications to
với trình độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có đủ lương thực, thực
phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác.
Hiện nay, nước ta có khoảng gần 70% dân số sống ở nông thôn, nông nghiệp
đang là nguồn sinh kế chính. Vì vậy, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 2/3 hộ gia
đình làm nông nghiệp. Đồng thời, ngành nông nghiệp hàng năm cũng đóng góp
hàng tỷ đô la vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước... Với vị trí quan trọng như
1
vậy, nông nghiệp là chìa khóa của sự ổn định và phát triển đối với nguời dân. Trong
bối cảnh hội nhập, nông nghiệp nước ta có thể có thêm nhiều cơ hội phát triển, cũng
không ít những tác động ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển ổn định của nông
nghiệp, ảnh hưởng đến an ninh lương thực của người nông dân, đặc biệt là người
nông dân nghèo.
Hà Đông là một quận thuộc thủ đô Hà Nội, nằm bên bờ sông Nhuệ và sông
Đáy, phía Bắc giáp huyện Từ Liêm và huyện Hoài Đức, phía Nam giáp huyện
Thanh Oai và huyện Chương Mỹ, phía Đông giáp huyện Thanh Trì và quận Thanh
Xuân, phía Tây giáp huyện Hoài Đức và huyện Quốc Oai. Trung tâm quận cách
thành phố Hà Nội 10km về phía Tây Nam, nằm giữa giao điểm của quốc lộ 6 từ Hà
Nội đi Hòa Bình và tỉnh lộ 70, là điểm giao lưu kinh tế - xã hội khá thuận lợi với
thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam), huyện Nho Quan, Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình)…
Với tổng diện tích tự nhiên 4.963,95 ha, diện tích đất nông nghiệp của quận
ngày càng giảm do phát triển các khu công nghiệp, đô thị hóa, giao thông… gây nên
áp lực lớn trong việc sử dụng quỹ đất để sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong phát triển nông nghiệp và quy hoạch phát triển nền kinh tế của địa phương,
giúp lựa chọn các loại hình sử dụng đất phù hợp với cây trồng, vật nuôi để đưa ra
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong từng giai đoạn và là cơ sở để
xây dựng kịch bản phát triển kinh tế của quận.
Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm bảo phát
triển một nền nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các nước trên thế giới.
Kết quả, mà là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích
của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tính chất mâu thuẫn giữa
nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét
kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đem lại kết quả
hữu ích hay không? Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ
dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt
động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó (Nguyễn Đình Hợi, 1993).
Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá của
hiệu quả. Trên phạm vi toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi
phí lao động xã hội. Vì thế, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao động xã hội
và được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với lượng
hao phí lao động xã hội. Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu
hoá chi phí trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên hữu hạn (Bùi Văn Ten, 2000).
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước
trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà
hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn
của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp
(Nguyễn Thị Vòng và cs., 2001).
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối
quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường. Căn
cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở
lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công
nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là một trong những
điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính
ổn định và bền vững đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu
quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất (Nguyễn Đình Hợi, 1993).
- Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý luận hệ
thống.
5
- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt
động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích
của con người.
Hiệu quả kinh tế phải được tính bằng tổng giá trị trong một giai đoạn, phải
trên mức bình quân của vùng, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi xuất tiền cho vay
vốn ngân hàng. Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong, ngoài nước,
hệ thống phải giảm mức thấp nhất thiệt hại (rủi ro) do thiên tai, sâu bệnh...
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của
các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt
đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giứa 2 đại lượng đó.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế sử
dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải
vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động tiết kiệm
nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội (Vũ Thị Phương
Thụy, 2000).
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể
hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu
hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu
mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo,
định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân.
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác
sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 đến 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có từ 6 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn. Trong 1.200 triệu ha đất bị thoái hoá
có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý.
Trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác 1,5
tỷ ha, còn lại là phần đất xấu gặp nhiều khó khăn đối với sản xuất nông nghiệp.
Phân bố đất nông nghiệp trên các Châu lục như sau: Châu Mĩ 35%, Châu Á 26%,
Châu Âu 13%, Châu Phi 20%, Châu Đại Dương 6%. Bình quân diện tích đất nông
nghiệp trên đầu người toàn thế giới là 12.000 m2/người (Mỹ 2.000m2/người,
Bungari 7.000m2/người, Nhật 650m2/người…). Theo báo cáo của UNDP năm 1995,
khu vực Đông Nam Á, bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người của các
nước như sau: Indonesia 0,12 ha/người, Malaysia 0,27 ha/người, Philippin 0,13
ha/người, Thailand 0,42 ha/người, Việt Nam 0,1 ha/người.
Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000), dân số thế giới tăng trong vòng 25 năm
(1965 - 1990) là 68,5% (từ 3.027 triệu người đến 5.100 triệu người) trong khi đó
7
diện tích đất canh tác chỉ tăng 9,7% (từ 1.380 triệu ha đến 1.520 triệu ha). Như vậy,
bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người giảm 45,6% (từ 5.560 m2/người đến
2.960 m2/người). Dự kiến tính đến năm 2025 dân số thế giới tăng lên 8.300 triệu
người, đất canh tác tăng lên không đáng kể (1.650 triệu ha), do đó diện tích đất canh
tác bình quân trên đầu người sẽ tiếp tục giảm còn 1.990 m2/người.
Việt Nam có 8 vùng đất nông nghiệp gồm: Đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc
bộ, Tây Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam
bộ và ĐBSCL. Mỗi vùng đều có đặc trưng cây trồng rất đa dạng. Trong đó, ĐBSCL
chủ yếu là lúa; Tây Nguyên là cà phê, rau, hoa, trà; miền Đông Nam bộ là cao su,
mía, bắp, điều…
Theo thống kê năm 2013, tổng diện tích đất nông nghiệp là 262.805 km2
(chiếm tới 79,4%) bao gồm đất sản xuất nông nghiệp là 101.511 km2, đất lâm
nghiệp là 153.731 km2, đất nuôi trồng thuỷ sản là 7.120 km2.
nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển
KT-XH, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm
ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo
cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất. Do đó, đất nông nghiệp cần
được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, phải có các quan điểm đúng đắn
theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện
việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao.
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp “đầy đủ và hợp lý” là cần thiết vì:
- Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản
trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp lý góp phần
bảo vệ độ phì đất.
- Sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là tiền đề để sử dụng có hiệu quả
cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông dân.
- Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường
cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững (Ngô
Thế Dân, 2001).
* Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa
học- kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật nuôi
có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu.
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất nông
nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành
hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục. Thâm canh cây
trồng vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp
vừa đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định (Vũ Năng Dũng, 1997).
9
ra. Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động
10
tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tưới tiêu hiệu quả thì cũng đặt
ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản
xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh.
Cho đến giữa thế kỷ 21, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất
kinh tế, trong nền nông nghiệp nước ta. Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc
biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất đai theo chiều sâu và nâng
cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
2.1.3.3. Nhóm các yếu tố tổ chức
Nhóm yếu tố này bao gồm:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên (khí
hậu, độ cao tuyệt đối của địa hình, tính chất đất, khả năng thích hợp của cây trồng
đối với đất, nguồn nước và thực vật) làm cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật
nuôi hợp lý, nhằm khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để
đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hóa, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
- Hình thức tổ chức sản xuất
Cần phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ
sở sản xuất, thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập
một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình
thức đó (Nguyễn Đình Hợi, 1993).
2.1.3.4. Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm yếu tố này bao gồm :
- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường
nông sản phẩm. Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là: năng