“Cấu trúc nhân cách theo Phân tâm học. Ý
nghĩa trong hình thành nhân cách cho trẻ”
Nhân cách không phải là một khái niệm quá mới mẻ không chỉ đối với
những ai đã làm quen với các trường phái khác nhau của tâm lý học. Việc tìm
ra và phân chia vài tỷ con người đang sống, mưu sinh trên trái đất này không
ngừng ở việc làm đơn giản cái thế giới và nhân sinh quan của chúng ta đi, mà
còn giúp làm cho khoa học nói chung và tâm lý học nói riêng, nhất là khía
cạnh trị liệu, sáng rõ hơn về đường hướng nghiên cứu cũng như tiếp cận, can
thiệp. Lĩnh vực tâm lý học có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhân cách,
trong đó có Phân tâm học.
Phân tâm học do S. Freud(1856 - 1939), bác sỹ người Áo sáng lập.
Những công trình đầu tiên của Freud bàn về sinh lý học, giải phẩu học não bộ.
Chủ nghĩa Freud ngay từ buổi đầu đã không phải là một trường phái thống
nhất. Ngay giữa những học trò thân tín nhất của Freud vào năm 1910 đã diễn
ra cuộc tranh luận xem cái gì đóng vai trò năng lượng tâm lý cơ bản. Nếu ở
Freud năng lượng ấy là năng lượng tâm lý - tính dục, thì ở A. Adler (tâm lý
học cá thể) vai trò này thuộc về mặc cảm giá trị chưa hoàn thiện và ước muốn
tự hoàn thiện. Với K. Jung (tâm lý học phân tích) vô thức tập thể và những
nguyên mẫu (archetip) mới là cơ sở của sáng tạo, nhất là sáng tạo văn hóa,
nghệ thuật. O. Rank thì cho rằng toàn bộ hoạt động của con người luôn bị ám
ảnh bởi ý nghĩ phải vượt qua “cú sốc sinh nở ban đầu”.
Mặc dù các nhà phân tâm học sau Freud xem xét lại và bác bỏ một số
luận điểm của người sáng lập (về quy tắc, hay tiêu chuẩn nghiên cứu tâm lý,
giải thích tính chất của các quá trình tâm lý, về cơ chế tâm lý …), song nhữgn
nguyên lý cơ bản vẫn giữ nguyên: năng lượng vô thức, những khía cạnh phi
duy lý của đời sống con người, tính chất xung đột và sự phân thân của thế giới
nội tâm, tính dồn nén, tính bị ức chế, bị đàn áp và ý chí phản kháng, vấn đề suy
đồi văn hóa …
1
“Non sông dễ đổi, bản tính khó dời” của phương Đông? Phân tâm học, cùng
với các trường phái khác trong tâm lý học và các ngành khoa học tự nhiên xã hội khác, cũng không tách khái niệm “nhân cách” ra khỏi cách nhìn nhận
này.
Điểm đặc biệt cơ bản nhất của phân tâm học khi nó đưa ra những giả
thiết về nhân cách so với các trường phái tâm lý và ngoại tâm lý khác chính là
việc xem nhân cách không chỉ là một thể loại tính cách con người trong đó
cộng gộp lại một số những đặc điểm riêng biệt, mà còn là việc đưa khái niệm
nhân cách vào trong khía cạnh cấu trúc. Câu hỏi được đặt ra ngay lúc này khó
có thể khác hơn : thế nào là cấu trúc? Nhân cách và cấu trúc liên hệ với nhau
như thế nào ? … Dựa trên nền tảng chủ nghĩa cấu trúc và xây dựng
(structuralisme và constructivisme) do Claude Lévi - Strauss khởi xướng giữa
thế kỷ XX và những tiền đề triết học trước đó, định nghĩa cấu trúc trong phân
tâm học có thể được miêu tả vắn tắt bằng những yếu tố sau :
Các chi tiết, yếu tố đơn lẻ hợp thành.
Một trật tự sắp xếp giữa những yếu tố đó, cùng với các nguyên lý, quy
tắc tổ chức giữa chúng.
Một lịch sử, quá trình xây dựng, hình thành nên những yếu tố và nguyên
lý đó.
Theo đó, ngôn ngữ là một cấu trúc, với các yếu tố đơn lẻ chính là tập
hợp những từ vựng mà ta dễ dàng tìm thấy trong các cuốn từ điển, một trật
tự và quy tắc quy định bởi hệ thống ngữ pháp và cú pháp. Ngoài ra, bất kỳ
một thứ tiếng nào cũng trải qua những biến đổi trong quá trình biến động
trải qua năm tháng.
Vô thức cũng là một loại cấu trúc, hợp thành bởi những hình tượng
được lưu lại sau những trải nghiệm (những dấu vết hình ảnh, âm thanh, bối
cảnh …), được sắp xếp theo một logic phi lý tính nhưng rất chủ quan (luật
vào/ra, chủ động/bị động …), theo một trật tự thời gian tiềm tàng đặc biệt, và
được xây dựng từ thuở ấu thơ từ những mối quan hệ trong gia đình. Có cùng
mà không nhắc lại hai bộ ba mà Freud đã xây dựng để hệ thống hóa bộ máy
4
tâm trí con người, dù đó không phải là một chủ đề quá lạ lẫm với đa số quý vị.
Cần nhấn mạnh là cho dù một con người được cấu trúc như thế nào, các yếu
tố trong hai bộ ba này đều tồn tại và tham gia vào đời sống nội tâm của con
người và cả những mối quan hệ xã hội của người đó. Điều khác nhau của các
cấu trúc chính là tính năng động, sự tương tác và “liều lượng” mà mỗi yếu tố
được khai triển và kiềm tỏa. Ta sẽ phân tích vấn đề này sâu xa hơn.
Bộ ba thứ nhất của Freud được ông khái niệm hóa vào năm 1900.
Trong bộ ba này, Freud phân biệt 3 thành tố chính yếu trong tâm trí bao gồm :
ý thức, tiềm thức và vô thức. Cùng với giả thiết về sự tồn tại của vô thức và về
sự ảnh hưởng dữ dội, khó cưỡng lại của vô thức lên các hành vi, ngôn ngữ con
người. Cũng chính sự ra đời giả thiết này đã làm khai sinh ra một trường phái
triết học-tâm lý mới mang tên phân tâm học.
Tuy nhiên, việc duy trì cách tiếp cận bộ máy tâm trí bằng bộ ba trên đôi
khi làm Freud gặp khó khăn trong việc lý giải một số hiện tượng tâm trí (vd
sự lặp đi lặp lại mang tính cưỡng chế của một số hành vi mặc cho sự nhận
thức của thân chủ) cũng như trong tiến trình trị liệu phân tâm cổ điển, vào
năm 1923, Freud cho phát hành cuốn “Cái Tôi và cái Ấy”. Trong quyển sách
này, Freud đề nghị một bộ ba mới nhằm tiếp cận đầy đủ hơn guồng máy tâm
trí con người, biết rằng bộ ba mới này không xóa bỏ hay mâu thuẫn với bộ ba
cũ mà ngược lại, bổ sung cho nhau. Hai bộ ba của Freud vẫn còn giữ nguyên
giá trị học thuật và trị liệu cho đến ngày nay, làm nền tảng cho phần lớn các
trường phái tâm lý hay tân phân tâm sau này, dù các trường phái ấy có lên
tiếng chống lại hay vay mượn một phần các giả thiết trên của Freud. Ta có thể
biểu diễn sự chồng chập phối hợp của hai bộ ba đó theo một hình ảnh quen
thuộc của một tảng băng trôi:
Dựa trên mô hình trên, ta có thể vắn tắt mối quan hệ giữa các thành tố
nỗi lo hãi đó bằng những cách thức riêng biệt. Nhân cách ranh giới đối diện
với sự mất mát, trống vắng tiền Oedipe và phải dựa vào những mối quan hệ
tích cực theo hướng nâng đỡ để có thể tiếp tục bước đi trong cuộc sống.
6
Sau đây là bảng tóm tắt ngắn gọn các đặc điểm chính của các cấu trúc
trên:
Cấu
trúc Thời kỳ chủ đạo
nhân cách
Nhiễu tâm
Oedipe
Lo hãi chủ đạo
Cơ chế phòng vệ
Bị thiến
chủ đạo
Dồn nén
(refoulement), phủ
Loạn tâm
Tiền Oedipe
dụng những nghiên cứu từ ngôn ngữ học để làm sáng tỏ thêm hai bộ ba của
Freud, đưa ra thêm một cấu trúc khác nhằm miêu tả bộ máy tâm trí con
người trong những khía cạnh mà hai bộ ba kia vẫn chưa hình tượng hóa
được.
Dựa trên hình ảnh vòng nơ của dòng họ Borromée (Ý), Lacan đề nghị
một cách tiếp cận mới về tâm trí, nhất là vô thức, theo cách sau: Trong đó:
Cái Thực (Réel): những thứ hiện hữu về mặt vật chất, bên ngoài; bản
chất của nó không bao giờ ta có thể hiểu được, nắm bắt được hay giải thích
được; đó là những thứ không thể thiếu và cũng không thể tránh được. Cái
7
Thực khác với Thực tế nội tâm (Réalité psychique) mang tính chủ quan và là
cách mà ta tiếp cận với cái Thực đó. Vd : thân thể, cái chết, một vết thương,
một thiên tai ….
Cái Ảo (hay Tưởng – Imaginaire) : bao gồm những hình ảnh, những sự
đồng nhất hóa, cơ thể … Đó là cách mà ta hiện diện trước và trong mắt người
khác. Nói cách khác, khi ta tiếp xúc với người khác, ta đang hoạt động trong
khái cạnh Ảo (Tưởng).
Cái Biểu tượng (Symbolique) : giúp sắp xếp, tổ chức. Ngôn ngữ là một
trong số đó. Chính tính biểu tượng hệ thống lại thế giới này cho chúng ta. Nền
tảng của tính biểu tượng là ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ không phải là yếu tố
duy nhất trong tính biểu tượng.
Các chỗ giao của 3 vòng xuyến này cũng là đại diện cho những yếu tố
sau:
Nơi Ảo giao Biểu tượng gọi là ý nghĩa (sens), hay là một sự sắp xếp các
hình tượng tưởng tượng theo một trật tự nhất định sao cho nó mang một ý
nghĩa. Sự rối loạn của các hình tượng (do Biểu tượng không giúp sắp xếp các
yếu tố trong phần Ảo) là một trong những nguyên căn của các dấu hiệu bệnh
lý. Cái ý nghĩa tiếp xúc trực tiếp với cái Thực: đó là cách mà con người tiếp
trọng là tâm lý gia không bị cuốn trôi theo hay chìm ngập vào hoang tưởng
của thân chủ.
Nơi Ảo và Thực giao nhau, Lacan gọi đó là Khoái lạc Khác (jouissance
Autre - JA): nằm song song và kèm theo Khoái lạc phallic (Jp). Nó hoàn toàn
nằm bên ngoài Biểu tượng, nghĩa là nó không được sắp xếp, tổ chức, hệ thống
hóa, không thể diễn đạt hoàn toàn bằng bất kỳ hệ thống ngôn ngữ nào. Đây là
mội Khoái lạc vô biên, không giới hạn; giới hạn duy nhất có thể đề cập đến là
giới hạn của cơ thể con người. Khi vòng Biểu tượng tách ra khỏi bộ 3, nó đè
bẹp Khoái lạc Khác, hai vòng Thực và Ảo trở nên tự do, ta có thể nói đến tính
lệch lạc với triết lý sau : đưa một trật tự biểu tượng (bất kỳ nào đó) giẫm đạp
lên khoái lạc của người khác (nhất là người mẹ thuở ấu thơ). Người “lệch lạc”
chối bỏ sự thiếu hụt nơi người khác, cho rằng người đó hoàn mỹ, chẳng thiếu
9
hụt thứ gì. Làm như vậy, chính người “lệch lạc” sẽ nhận được cho mình khoái
cảm hoàn thiện từ trong mối quan hệ với một người khác được cho là hoàn
thiện. Định hướng trị liệu khá rõ ràng : phục dựng nơi người đó ý tưởng rằng
người khác cũng có những thiếu hụt, và trong chính sự thiếu hụt đó sẽ làm
nảy sinh những khoái cảm tuy không hoàn thiện nhưng nó thúc đẩy con người
ta tìm kiếm.
* Cách nào ta nhận biết các cấu trúc nhân cách.
Ta có thể nhận biết cấu trúc nhân cách theo bảng tóm tắt sau:
Mục
Giấc mơ
Nhiễu tâm
Thường xuyên
Loạn tâm
dội.
những
Sáng
tạo một cái gì đó sâu bên
từ vựng trong.
mới. Ít có những
nghi hoặc. Nếu có
nhầm
10
lẫn
thì
mang màu sắc vay
mượn. Chuỗi năng
Về triệu
nghĩa gián đoạn.
Thân chủ nói, than Cũng nói về triệu Biết là điều đó đi trái với
chứng
phiền về triệu chứng, chứng
với
những Gần với 1 “cảnh tượng”
nội tâm, đặt câu hỏi giết, bị ám hại … trong đó không có sự
… vì thường có liên được bộc lộ một phiền hà khi phải bộc lộ
quan đến khía cạnh cách dữ dội, khó ra, thậm chí có một sự
tính dục
kiểm soát
khoái lạc khi phát ngôn
về những vấn đề nhạy
Vị trí của
cảm
Nghiêng về khiá cạnh Tưởng tượng hoặc Tùy vào nhân cách cụ
tưởng
huyễn
tượng
những chủ đề như sự cái
tưởng,
về bị đóng mác trong thể
thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau. Làm sao và thông qua những cách
thức nào để một nhà lâm sàng có thể nhận biết đúng đắn một cấu trúc nhân
cách ? Các test phóng chiếu với tranh vẽ cụ thể (TAT, CAT, Patte Noire …) hay
thông qua lời nói (điền vào câu trống, ngụ ngôn của Duss …) giúp ta có những
cái nhìn tổng quan về những xu hướng chính yếu của tâm trí và nhân cách,
trong đó nhấn mạnh đến các cơ chế phòng vệ đặc trưng và những thuận lợi,
khó khăn mà mỗi thân chủ gặp phải trong quá trình xây dựng bộ máy tâm trí
từ thời thơ ấu đến hiện tại. Test phóng chiếu trừu tượng theo kiểu Rorschach
mang cho ta thông tin hữu ích về cấu trúc nhân cách của thân chủ, tất nhiên
khi được sử dụng phối hợp với những công cụ khác. Tuy nhiên trong lâm
sàng, nhất là trong những buổi trị liệu phân tâm cổ điển, test phóng chiếu
tương đối ít dùng. Thay vào đó, nhà lâm sàng phân tâm lắng tai nghe, quan
sát và ghi nhận những hành vi, hành động của thân chủ trong suốt chiều dài
của các buổi gặp gỡ để đắn đo và xác định cấu trúc nhân cách. Sau đây là một
bảng tóm tắt ngắn gọn (và không đầy đủ) của những dấu hiệu thường được
quan tâm nhất nhằm xác định cấu trúc nhân cách.
Mặc dù còn có những hạn chế, Phân tâm học nói chung, Phân tâm học
về nhân cách nói riêng đã có những đóng góp to lớn trong nghiên cứu về cấu
trúc nhân cách của con người. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến Freud. Ông
đã đưa ra một lí thuyết trọn vẹn về nhân cách, nó đầy dủ và cho phép giải
quyết nhiều vấn dề tâm lý có ứng dụng thực tế mà đến nay vẫn còn được ứng
dụng.
12
Freud còn được đánh giá cao khi là người đã khám phá ra một lĩnh vực
nghiên cứu mới của tâm lý học: vô thức. Có công lớn trong việc nghiên cứu
động lực hành vi vủa con người là động cơ vô thức. Và đưa ra những khái
niệm: Sự dồn nén, cơ chế tự vệ, sự đồng nhất hoá, xung đột, sự xã hội
hoá… Vấn đề các động cơ bị che giấu của bệnh nhân trong lâm sàng và ý
gặp những vấn đề về tâm lý nhất chính là trẻ em, đặc biệt là trong giai đoạn
tiểu học từ (6-12 tuổi).trong giai đoạn này quá trình hình thành nhân cách
cũng như phát triển tâm lý đang có những thay đổi lớn. Những ca rối nhiễu
khủng hoảng tâm lý đặc biệt cần sự trợ giúp của thuyết cấu trúc nhân cách,
chẳng hạn em A là đang học lớp 4 là con trong một gia đình giàu có. Bố mẹ
thương yêu và luôn dành cho em những điều kiện tốt nhất về vật chất để em
sống và học tập trong một điều kiện thích hợp và phát triển tốt nhất. Đây có
thể nói là một gia đình kiểu mẫu, hoà hợp, hạnh phúc nếu nhìn từ góc độ bên
ngoài vào.Tuy nhiên sự thật là bố mẹ cô bé sống không hạnh phúc với nhau,
mỗi người theo đuổi một con đường riêng. Do phải kiếm tiền làm công việc
kinh doanh nên thường xuyên họ phải vắng nhà, ít thời gian quan tâm trò
chuyện, chăm sóc kỹ lưỡng về mặt tinh thần cho con cái. Cô bé thì ngược lại
rất cần sự âu yếm, quan tâm của cha mẹ hơn là những đò chơi thú bông, hay
những khoản tiền mà bố mẹ đưa cho. Câu chuyện sẽ không dừng lại ở đó, nếu
một hôm cô bé không phát hiện ra bố mẹ mình cãi nhau, họ không hạnh phúc
như cô vẫn tưởng. Tất cả sự chiều chuộng về vật chất bên ngoài dường như
chỉ để che đậy sự đổ vỡ từ lâu bên trong. Và cô bé đã gặp vấn đề về tâm lý,
khủng hoảng thất vọng và đổ vỡ. Có thể nói khi phát hiện ra sự không hạnh
phúc trong gia đình. Cô bé trở nên khép kín, tự thu mình lại, ít tiếp xúc với mọi
người. Đặc biệt là xa lánh và không chịu nói chuyện với bạn bè và rất ngại đến
trường. Hơn thế nữa những tổn thương về tinh thần đã gây nên những tổn
thương về mặt thực thể như buồn nôn, chóng mặt. Nhà giáo dục tiếp xúc và
tìm ra nguyên nhân của các triệu chứng trên là do sự thiếu hụt về tình cảm
gia đình. Nhà giáo dục sử dụng phương pháp màn ảnh trắng, và chuyển dịch
ngược cho cô bé dãi bày những tâm sự, uẩn ức của mình vào đó, từ đó chuyển
dịch lại những lời khuyên răn, hướng cô bé đến chiều hướng tích cực hơn.
14
Phối hợp 3 hệ thống gia đình, nhà trường bạn bè để có sự trợ giúp tổng hợp
Hãy nói với con là bạn hiểu nỗi lo lắng của cháu, và khi còn nhỏ bạn cũng đã
từng có cảm giác như vậy. Hãy bảo con nếu gặp khó khăn cháu đã có bạn luôn
sát cánh để giải quyết. Chuẩn bị cho con tác phong tự lập. Những đứa trẻ
không có thói quen sống tự lập thường bị stress khi không có bố mẹ ở bên. Để
tránh điều đó, bạn cần dạy con cách xoay xở một mình như tự mặc quần áo,
tự đi vệ sinh...Kiểm tra sức khỏe cho trẻ trước năm học mới. Kiểm tra thị lực,
thính giác, răng miệng và tiêm chủng là những việc rất quan trọng với tương
lai con bạn, vì một đứa trẻ có thể trở thành học trò kém chỉ vì có vấn đề về thị
lực hoặc thính giác.- Giúp con làm quen trước với môi trường mới. Hãy đưa
con bạn đến trường vài lần trước khi khai giảng và giới thiệu cho cháu đâu là
phòng học, nhà ăn... để con bạn cảm thấy tự tin hơn khi một mình đến trường.
Sắm những vật dụng cần thiết. Bọn trẻ thường thích tưởng tượng mình là
nhân vật trong các câu chuyện mang tính giáo dục. Bạn nên mua cho con
mình các cuốn sách viết về các hoạt động ở nhà trường và nhất là lễ khai
giảng. Chuẩn bị cặp sách và những đồ dùng cá nhân... Những đồ vật mới tạo
cho trẻ hào hứng và một tâm trạng yên tâm khi vào lớp.- Tự đưa con đến
trường. Đừng để con đến trường một mình vào ngày khai giảng hoặc nhờ một
người quen nào đó đưa con bạn đến trường. Nếu có thể hãy đưa cháu đến tận
cửa lớp. Tối về hãy nghe trẻ kể lại những gì đã diễn ra vào những buổi học
đầu tiên, chia sẻ những lo lắng, suy nghĩ của trẻ. Trấn an chúng và tạo điều
kiện để trẻ bộc bạch hết những lo lắng ấy. Những sự quan tâm và những
phương pháp tác động đúng cách là những liệu pháp tuyệt vời nhất giúp trẻ
vượt qua những lo lắng và tác động tốt đến quá trình phát triển tâm lý của
trẻ.
Như vậy qua việc lý giải trên ta thấy Phân tâm học do Freud sáng lập có
ý nghĩa rất lớn trong hình thành nhân cách cho trẻ.
Trước tiên, Freud đã khiến chúng ta nghĩ đến hai thái cực xung lực và
những ảnh hưởng của chúng lên tâm thức con người. Vào thời đó con người
được tin là có khả năng lý luận. Ông đã mạnh dạn chỉ ra rằng hành vi của con
lí của con người. Đam mê tính dục tạo ra nguồn năng lượng cực kỳ mạnh mẽ
17
(gọi là libido), cội nguồn của mọi cội nguồn tinh thần, nguyên nhân mọi bệnh
tâm thần cũng như khả năng lao động sáng tạo ở con người. Đánh giá về Tâm
lý học Phân tâm học Phân tâm học của Freud ngay từ khi mới ra đời được
đánh
giá
với
nhiều thái độ khác nhau. Những nghiên cứu của Freud vẫn còn có giá trị ứng
dụng phổ biến cho đến ngày nay.
Một số ý tưởng của Freud gắn liền với thời đại và văn hóa nơi ông đã
sống. Nhiều ý tưởng tuy khó có thể kiểm chứng được trong bối cảnh lúc ấy
nhưng có thể hiểu dễ dàng hơn ở hôm nay. Nhiều ý tưởng của ông được coi là
kinh nghiệm cá nhân và được lấy ra từ nhân cách riêng của ông. Tuy nhiên dù
sao ông vẫn xứng đáng là một trong những nhà quan sát có trách nhiệm về
những điều kiện sinh hoạt của con người. Ngay cả những nhà học thuyết mới
khi xây dựng những học thuyết nhân cách của mình đã luôn luôn so sánh và
đối chiếu học thuyết của ông. Trong một ngành như tâm lý học đòi hỏi tiếp
cận con người một cách tổng hợp theo kiểu tâm lý học thực nghiệm phân tích
từng điểm, đi từng bước là ít hấp dẫn; những học giả các trường phái này cho
rằng phải đành vậy, đi từng bước, phải bắt đầu với những điều đơn giản nhất,
vô vị, và thường phải thú nhận, điều này chưa thể biết được. Trái lại tư duy
theo kiểu phân tâm học gây cảm tưởng là đi sâu, nhằm đúng vào những gì cơ
bản nhất của con người như nắm được những chìa khóa có tính quyết định
giúp cho soi sáng vào những ngõ ngách thầm kín nhất; kết hợp được hai lối tư