MỤC LỤC
TT
Nội dung
Trang
1
Đặt vấn đề……………………………………………...
2
2
Lý do chọn đề tài.............................................................
2
3
Phạm vi nghiên cứu…………………………………….
3
4
Phương pháp nghiên cứu……………………………….
4
10
Chuẩn bị giờ dạy……………………………..………...
8
11
Thực hiện giờ học…………………………...………….
12
12
Kết quả………………………………………………….
13
13
Kết luận…………………………………………………
14
14
Tài liệu tham khảo……………………………………...
15
và thiết kế bài học phù hợp.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp
nâng cao chất lượng dạy học phần di truyền phân tử Sinh học lớp 9”
2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung kiến thức phần sinh học phân tử trong chương trình sinh học lớp 9
- Địa điểm: Trường THCS Tân Long thành phố Thái Nguyên
3
- Thời gian: Từ năm học 2008-2009 đến nay
- Đối tượng nghiên cứu: Những hoạt động dạy học phần sinh học phân tử trong
chương trình sinh học lớp 9 bậc học THCS
3. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu lí thuyết:
- Tài liệu về vị trí, nhiệm vụ của môn Sinh học, phần sinh học phân tử ở trường
THCS.
- SGK, SGV Sinh học 9, Luật Giáo dục, Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học.
- Tài liệu về phương pháp dạy học môn Sinh học ở trường THCS, phương pháp
dạy học tích cực, ứng dụng CNTT trong dạy học môn Sinh học, tài liệu về đổi mới
kiểm tra đánh giá trong dạy học môn sinh học
- Các tạp chí, tập san giáo dục...
Nghiên cứu thực tiễn: Thông qua dự giờ thăm lớp các đồng chí đồng nghiệp giảng
dạy phần kiến thức sinh học phân tử trong chương trình sinh học lớp 9.
Quan sát
Phỏng vấn
Thống kê
4
5
thiệp thích hợp để góp phần trang bị vốn kiến thức sinh học phổ thông cho nguồn
nhân lực Nông – Lâm – Ngư, các ngành công nghiệp chế biến, công nghệ thực
phẩm, y dược, bảo vệ môi sinh, môi trường.
Trong chương trình sinh học cơ sở, phần sinh học phân tử được xếp vào
chương III của chương trình sinh học lớp 9. Sau khi đã tìm hiểu về các thí nghiệm
của MenDen, cơ sở tế bào của hiện tượng di truyền và biến dị (Nhiễm sắc thể) học
sinh sẽ được tìm hiểu về cơ sở vật chất của hiện tượng di truyền ở cấp độ phân tử
với nội dung chính là tìm hiểu về cấu trúc chức năng của ADN, ARN, Protein cũng
như quá trình tự nhân đôi của ADN, tổng hợp ARN và sự hình thành chuỗi axit
amin.
Dạy học phần Sinh học phân tử góp phần thực hiện nhiệm vụ dạy học môn
sinh học ở trường phổ thông: Trang bị kiến thức phổ thông; Phát triển các năng lực
nhận thức và năng lực hành động; Giáo dục các phẩm chất nhân cách: giáo dục thế
giới quan khoa học, giáo dục quan điểm duy vật, phương pháp biện chứng, giáo
dục tình cảm đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục lao động kĩ thuật, kỹ thuật tổng
hợp và hướng nghiệp.
1.1.2. Vị trí vai trò của thiết bị dạy học
“Thiết bị dạy học là toàn thể những phương tiện vật chất nhằm đạt mục tiêu
dạy học. Chúng được sử dụng để truyền thụ và lĩnh hội tri thức, cũng như trong
việc sử dụng PPDH phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học trong quá trình sư
phạm và có tác dụng sư phạm trực tiếp”
(H. Weiß 1974)
* Vai trò của thiết bị dạy học
- Đối với học sinh: Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu
hơn.
+ Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và
các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng.
Âm hình
(phim,
đoạn video)
TB
thí nghiệm,
thực hành
1.2. Cơ sở thực tiễn
* Thuận lợi:
- Nhà trường có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác
dạy và học
- Ban giám hiệu, tổ chuyên môn luôn quan tâm tạo điều kiện cho giáo viên
tham gia các lớp tập huấn, đầu tư cơ sở vật chất (mua sắm thêm máy vi tính, nối
mạng Internet cáp quang…) để nâng cao chất lượng dạy và học.
- Bản thân đã có nhiều năm được phân công giảng dạy môn sinh học lớp 9.
- Đa số học sinh ngoan, có ý thức học tập.
- Nhiều phụ huynh đã có ý thức hướng nghiệp cho con em mình vì vậy nâng
cao nhận thức của học sinh về vai trò của môn Sinh học đối với một số ngành nghề
trong xã hội hiện đại.
7
* Khó khăn:- Lượng kiến thức trong chương trình sinh học 9 nói chung và
phần sinh học phân tử nói riêng tương đối nhiều và trừu tượng. Học sinh chưa bao
giờ được quan sát trong thực tế.
- Một bộ phận nhỏ học sinh có suy nghĩ đây là môn phụ nên chưa chú ý học
tập thể hiện ở chỗ: Chưa tích cực chủ động lĩnh hội kiến thức, chưa tự giác trong
học tập, còn trông chờ, ỷ lại.
SGK còn có thể được trình bày trong các tài liệu khác. Với kinh nghiệm của bản
thân: đọc kĩ nội dung bài học và hướng dẫn tìm hiểu bài trong sách giáo khoa để
hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi mới chọn đọc thêm tư liệu để hiểu sâu,
hiểu rộng nội dung bài học. Tư liệu sử dụng phải qua thẩm định, được đông đảo
các nhà chuyên môn và giáo viên tin cậy. Việc đọc sách giáo khoa, tài liệu có thể
chia thành 3 cấp độ: đọc để tìm nội dung chính; đọc để tìm những thông tin quan
tâm; đọc để phát hiện và phân tích, đánh giá các chi tiết trong từng mạch kiến thức,
kỹ năng.
Khâu khó nhất trong đọc sách giáo khoa và các tư liệu là đúc kết được phạm vi,
mức độ kiến thức, kỹ năng của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực của học
sinh và điều kiện dạy học. Nắm vững nội dung bài học, giáo viên sẽ phác họa nội
dung và trình tự bài giảng phù hợp, trình bày các mạch kiến thức, kỹ năng của sách
giáo khoa, xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập giúp học sinh nhận thức, khám phá,
vận dụng các kiến thức, kỹ năng trong bài một cách thích hợp.
- Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh, gồm:
xác định những kiến thức, kỹ năng mà học sinh đã có và cần có; dự kiến những
khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.
Trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, giáo viên không những phải
nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu học sinh để lựa chọn PPDH, phương
tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù hợp. Tính khả thi
của giáo án phụ thuộc vào trình độ, năng lực học tập của học sinh.
Bước 4: Lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và
cách thức kiểm tra đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ
động, sáng tạo.
9
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, giáo
viên phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn
những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học để
giải quyết; những sai sót thường gặp; …
- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc học sinh cần phải tiếp
tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bị
cho việc học bài mới.
2.1.1.2. Ví dụ minh họa (Phần phụ lục)
2.1.2. Chuẩn bị thiết bị dạy học
Ngoài việc soạn giáo án, giáo viên phải mượn thiết bị, chuẩn bị thiết bị, thí
nghiệm, đồ dùng phục vụ cho bài dạy. Đối với bài dạy có sử dụng giáo án điện tử,
cần chuẩn bị kịch bản, tư liệu (video, hình ảnh,..).
Thiết bị dạy học không chỉ đóng vai trò là phương tiện của việc dạy mà còn là
phương tiện của việc học, thiết bị dạy học không chỉ minh họa kiến thức mà còn là
nơi chứa đựng nguồn thông tin học sinh phải khai thác để lĩnh hội kiến thức mới
cho bản thân theo hướng chủ động, tích cực, tìm tòi phát hiện trong thực tế.
2.1.3. Giao nhiệm vụ cho học sinh soạn bài, chuẩn bị bài ở nhà:
Yêu cầu học sinh: Nghiên cứu bài mới, sưu tầm tư liệu, trả lời các câu hỏi
cuối bài và trong bài học. Hoặc giáo viên soạn phiếu Bài tập theo cấu trúc phục vụ
cho giờ dạy. Để thực hiện có hiệu quả nội dung này, tôi thường đưa vào nội dung
kiểm tra đánh giá. Cụ thể gồm 3 nội dung: Kiểm tra vở (phiếu) bài tập, kiểm tra bài
cũ, kiểm tra nắm kiến thức mới. Việc kiểm tra nội dung kiến thức mới nhằm kiểm
tra quá trình các em soạn bài có nghiêm túc, hiệu quả hay không. Trong quá trình
giảng dạy tôi thường phân bố thang điểm cho 3 nội dung đó là 4 : 4 : 2.
2.2. Thực hiện giờ dạy học
2.2.1. Ổn định tổ chức lớp:
Đây là bước thường bị một số giáo viên bỏ qua, thực tế đây là bước chuẩn bị
tâm thế để bước vào tiết học. Có thể bao gồm: Lớp trưởng báo cáo sĩ số của lớp,
việc chuẩn bị nội dung bài tập về nhà của học sinh trong lớp với giáo viên.
2.2.2. Kiểm tra sự chuẩn bị của HS
11
12
2.2.5. Hướng dẫn học sinh học bài, làm việc ở nhà
- Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua làm bài
tập, thực hành, thí nghiệm,…).
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học mới.
3. Kết quả:
Sau khi áp dụng những kinh nghiệm của mình vào công tác giảng dạy trong
năm học 2011-2012, tôi nhận thấy: ý thức học tập của học sinh tốt hơn, học sinh
tiếp cận với kiến thức bộ môn nhẹ nhàng hơn, tích cực tham gia hoạt động học tập,
một số kỹ năng môn học và kỹ năng tư duy: quan sát phân tích tranh ảnh, mô hình,
phân tích nhận xét, so sánh và kỹ năng tự học được nâng lên rõ rệt, các bài tập giáo
viên cho về nhà đã được các em hoàn thành đầy đủ, cẩn thận hơn, kết quả đó được
thể hiện cụ thể ở bài kiểm tra cuối học kỳ I, đồng thời duy nghĩ của các em đối với
phần Di truyền và Biến dị trong chương trình Sinh học 9 đã có sự thay đổi. (phụ
lục 3)
13
III. KẾT LUẬN
Qua quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Bằng những việc làm
cụ thể trong những năm học qua việc thực hiện giờ giảng của tôi luôn được đồng
nghiệp đánh giá đạt kết quả tốt, học sinh hứng thú học tập hết giờ học sinh vẫn còn
muốn ngồi nghe, còn muốn tranh luận. Sau tiết học, học sinh vẫn còn "tranh thủ"
gặp để hỏi, để trình bày ý kiến về những vấn đề đã được tôi gợi mở trong tiết học.
Tỷ lệ học sinh hứng thú với môn học đã tăng lên. Học sinh của tôi đã mạnh dạn
tham gia thi học sinh giỏi môn Sinh cấp thành phố, cấp tỉnh và đạt giải.
Bản thân tôi từ năm học 1998 – 1999 đến nay luôn đạt giáo viên dạy giỏi cấp
15
PHỤ LỤC
1. Kế hoạch bài học
CHƯƠNG III: ADN
Tiết 15 – Bài 15: ADN
I. Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức: Học sinh nêu được:
- Thành phần hoá học của ADN.
- Tính da dạng và tính đặc thù của ADN là do phân tử ADN được cấu tạo theo
nguyên tắc đa phân số lượng thành phần trật tự sắp xếp của các ADN quyết định
tính đa dạng và dặc thù của sinh vật
- Mô tả được cấu trúc không gian của ADN theo mô hìmh của J.Oat xơn và
F.Crick.
2. Kỹ năng: Biết cách quan sát mô hình phân tử ADN, rèn kỹ năng quan sát thu
thập kiến thức từ SGK và băng hình.
3. Thái độ: Hình thành và củng cố cho học sinh:
- Thế giới quan khoa học;
- Đạo đức và giá trị của môi trường; Thông qua phân tích tính đa dạng của phân tử
ADN và giá trị của đa dạng sinh học với con người và tự nhiên và tác động của
con người đến đa dạng sinh học từ đó nêu được trách nhiệm của con người đối với
tự nhiên
II. Phương pháp phương tiện dạy học:
* Phương pháp nêu vấn đề; trực quan, vấn đáp, giảng giải giải quyết vấn đề
* Tranh phóng to H15.
- Mô hình phân tử AND; Bốn bộ chữ mầu mỗi bộ 8 chữ (2 x A, T, G, X)
- Băng hình, tranh ảnh mô tả cấu trúc phân tử ADN
* Máy tính, máy chiếu.
AND?
đầu)
Phân tử ADN được tạo nên từ
những nguyên tố hoá học?
Phân tử ADN được cấu tạo theo
nguyên tắc?
Đơn phân cấu tạo nên ADN có
tên là gì? Gồm mấy loại?
- Phân tích trên hình vẽ cho HS
- Trả lời các câu hỏi:
nắm rõ cấu tạo hoá học của phân
tử ADN (TPhần của mỗi nu, cơ
sở khác nhau của mỗi loại nu, sự
liên kết giữa các Nu trên mỗi
mạch và chiều của hai mạch đơn
để làm cơ sở cho HS học bài 16)
– Slide 4,5
Hướng dẫn HS HThành BT
(Slide 6)
Đưa đáp án (Slide 7)
Nêu cấu tạo hoá học của phân tử
- Hoàn thành bài tập
ADN?
- Đại diện HS nêu kết
quả bài tập
17
- HS trả lời tự tóm tắt
kiến thức vào vở
- Nhấn mạnh: Cấu tạo theo
- Tính đa dạng và đặc
nguyên tắc đa phân với 4 loại
thù của ADN là cơ sở
nuclêôtit khác nhau là yếu tố tạo
phân tử cho tính đa dạng
nên tính đa dạng và đặc thù cho
18
và đặc thù của sinh vật.
ADN.
Nội dung 2( 18’): cấu trúc không gian của phân tử ADN - Mục tiêu: Học sinh
mô tả được cấu trúc không gian của phân tử ADN theo mô hình của Oatson và
Crick, nêu được hệ quả của nguyên tắc bổ sung.
Cho HS xem một đoạn phim
để dẫn dắt HS sang mục II
(Đoạn phim 1)
II/ Cấu trúc không
gian của phân tử ADN
* Cấu trúc:
- H.dẫn HS nghiên cứu
thông tin SGK mục II, - HS tự nghiên cứu TTin
SGK mục II, và đoạn
N.Cứu đoạn băng:
băng mô tả
- HS thảo luận:
- Đ.Diện HS lên bảng
viết trình tự Nu trên
mạch còn lại
Tại sao lại xác định được
- Lớp nhận xét, bổ sung
như vậy?
Em có nhận xét gì về cấu
trúc giữa hai mạch đơn của - HS trả lời
phân tử AND?
- HS trả lời
- Các Nu trên hai mạch
đơn liên kết với nhau
thành cặp theo nguyên
tắc bổ sung:
+ A liên kết với T bằng
2 liên kết H;
+G
3 ”
”
X
” + Nêu hệ quả của nguyên
- Chơi trò chơi:
+ Tổ chức:GV chia lớp thành 2 đội.
+ Cách chơi: Lượt 1: Mỗi đội cử 1 người lên bảng, nhận một bộ chữ và xếp chúng
theo trình tự bất kỳ thành hàng ngang.
Lượt 2: Mỗi đội cử một người khác, nhận bộ chữ còn lại, xắp xếp
theo nguyên tắc bổ sung để hình thành phân tử ADN.
Các học sinh khác ở dưới lớp tự sắp xếp và ghi ra giấy để chuẩn bị trợ giúp, bổ
sung cho đội mình.
Tổ trọng tài sẽ kiểm tra bỏ những trình tự trùng nhau trong mỗi đội.
+ Cách đánh giá: Đội nào nhiều trình tự hơn sẽ thắng cuộc
GV cho học sinh nhận xét để thấy được từ 8 Nu khác nhau có thể tạo ra nhiều phân
tử ADN khác nhau (40320). Trong thực tế 1 phân tử ADN có hàng nghìn, hàng
triệu Nu => Sự đa dạng vô cùng lớn.
Từ kết quả trò chơi, giáo viên đưa ra nội dung yêu cầu học sinh về nhà, mỗi tổ
viết một đoạn văn không quá 15 dòng về hai trong bốn chủ đề sau:
- Sự đa dạng của phân tử ADN thể hiện ý nghĩa gì đối với sự đa dạng phong phú
của các loài sinh vật?
- Nếu sinh vật đa dạng phong phú như vậy làm sao biết chúng cùng loài hay khác
loài nhau?
- Sự mất đi một loài sinh vật hay sự xuất hiện một loài sinh vật mới có ý nghĩa gì
với đa dạng sinh học và con người?
- Đa dạng sinh học có ý nghĩa vai trò gì đối với sự sống của con người và hệ sinh
thái trong tự nhiên? Con người đã tác động như thế nào đến môi trường tự nhiên và
đa dạng sinh học? Con người cần có đạo đức trách nhiệm gì đối với môi trường và
đa dạng sinh học?
5. Hướng dẫn học ở nhà (3’):
- Giới thiệu một số công thức để áp dụng làm bài tập (Slide 13,14)
- Hoàn thành vở bài tập
- Chuẩn bị nội dung bài 16; - Tìm hiểu thêm các thông tin về ADN
2. Bài giảng điện tử và các đoạn phim, Flash