NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ LỚP 4.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng trong dạy học Tiếng Việt phân
môn Tập làm văn.
3. Tác giả:
- Họ và tên: Mạc Thị Hương
- Ngày tháng/năm /sinh:
Nam (nữ): Nữ
09- 06 - 1970
- Trình độ chuyên môn: Đại học - Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục Tiểu học
- Chức vụ: Giáo viên
- Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Đồng Lạc-thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương
- Điện thoại: 0912234732
4. Đồng tác giả: Không
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
- Tên đơn vị: Trường Tiểu học Đồng Lạc- thị xã Chí linh- tỉnh Hải Dương
- Địa chỉ: Trường Tiểu học Đồng Lạc - thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương
- Điện thoại: 03203888079
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu :
- Trường Tiểu học Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương.
- Điện thoại : 03203888079
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Sáng kiến có thể áp
dụng với tất cả các trường tiểu học trên toàn quốc với những điều kiện cơ bản
tối thiểu về cơ sở vật chất và chuyên môn theo quy định của Bộ Giáo dục và
Đào tạo.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013- 2014
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN)
giáo khoa đang hiện hành khi thời điểm học sinh học đến thể loại văn miêu tả.
2.3.Đối tượng áp dụng: Giáo viên giảng dạy và học sinh lớp 4.
3. Nội dung sáng kiến.
+ Nội dung cơ bản của sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng dạy học Tập làm văn miêu tả lớp 4” trình bày những vấn đề trọng
tâm về những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy môn Tập làm văn thể
2
loại miêu tả cho học sinh lớp 4. Đó là những cơ sở lí luận, tình hình thực trạng
dạy học văn miêu tả lớp 4 hiện nay từ đó đưa ra những biện pháp, giải pháp
thực hiện trong dạy học để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm
văn lớp 4 thể loại văn miêu tả. Trong sáng kiến cũng trình bày một số kết quả
cụ thể đã đạt được khi áp dụng sáng kiến vào thực tế, những giá trị lợi ích mà
sáng kiến đã mang lại. Nội dung trình bày cũng nêu rõ điều kiện áp dụng của
sáng kiến, những đề xuất, kiến nghị với các cấp trong việc chỉ đạo cũng như
thực hiện dạy học phân môn Tập làm văn thể loại văn miêu tả sao cho đạt kết
quả.
+ Những biện pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn
miêu tả lớp 4 trong sáng kiến được trình bày theo từng bước các kĩ năng cơ
bản mà học sinh phải thực hiện khi học làm bài văn miêu tả song được trình
bày một cách tổng hợp và hệ thống tất cả ba kiểu bài văn miêu tả trong chương
trình lớp 4 chứ không chia nhỏ theo từng kiểu bài. Ngoài việc hướng dẫn học
sinh những kĩ năng theo yêu cầu tối thiểu của bài học trong chương trình tôi đã
nghiên cứu và đưa thêm vào một số biện pháp giúp học sinh có thể dễ dàng
vận dụng viết tốt bài văn miêu tả như: tìm hiểu đặc điểm riêng của mỗi kiểu
bài, hướng dẫn học sinh áp dụng các biện pháp nghệ thuật trong viết, cách bộc
lộ cảm xúc tự nhiên, cách gắn kết các đoạn văn thành một bài văn chặt chẽ
lôgíc. Đó chính là một số điểm mới của sáng kiến.
+ Khả năng áp dụng sáng kiến tương đối cao. Những biện pháp trình bày
chuẩn theo quy định.
- Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất như lớp học, sách giáo khoa, sách tham
khảo cho giáo viên, học sinh.
- Các đồng chí giáo viên cần:
+ Nắm vững mục tiêu và nội dung chương trình dạy học môn Tập làm
văn miêu tả lớp 4.
+ Luôn cố gắng trau dồi, bồi dưỡng kiến thức đặc biệt là các kiến thức
về văn học, ham học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để có thể tự
tin, chủ động trong việc hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức.
+Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, sáng tạo trong công
việc, không ngại khó, dám nghĩ dám làm, không vận dụng máy móc, không
phụ thuộc vào các tài liệu cho sẵn, không áp đặt kiến thức đối với học sinh.
4
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo
tinh thần Nghị quyết số 29- NQ/TW và những nhận định chung về đổi mới
của ngành giáo dục.
Ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số
29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong nghị quyết đã nêu rõ “Phát
triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý
luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và
giáo dục xã hội.”
và liên kết thành một bài văn hoàn chỉnh đủ 3 phần mở bài, thân bài và kết bài
với các đối tượng gần gũi và thân thiết của các em. Đó là các kiểu bài miêu tả
đồ vật, cây cối và con vật.
Qua nhiều năm dạy học lớp 4 tôi nhận thấy mặc dù đối tượng miêu tả là
những sự vật rất gần gũi, thân thuộc với các em như đồ dùng học tập, cây cối
xung quanh, những con vật có thể do chính tay các em chăm sóc hàng ngày
nhưng để đưa chúng từ cuộc sống vào văn chương thì quả là một điều vô cùng
khó khăn đối với các em. Những bài văn miêu tả của các em thường khô khan,
thiếu hình ảnh, cảm xúc nhạt nhòa thậm chí là gò ép hoặc sáo rỗng, nhiều bài
văn thiên về kể lể, lan man thiếu trọng tâm. Việc những bài văn của các em
chất lượng chưa cao như vậy là do sự tập trung quan sát và chú ý vào đối
tượng chưa tinh tế, còn hời hợt, do vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn, khả
năng diễn đạt hạn chế, chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi tả và
quan trọng là ở các lớp dưới các em mới chỉ biết viết một đoạn văn chứ chưa
hình dung và khái niệm để viết một bài văn hoàn chỉnh có bố cục đầy đủ, rõ
ràng.
Xuất phát từ những vấn đề trình bày ở trên, qua quá trình nghiên cứu và
6
vận dụng có kết quả tôi đã viết và hoàn thành sáng kiến “Một số biện pháp
nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn miêu tả lớp 4” với mong muốn
góp phần nhỏ bé của mình trong việc nâng cao hiệu quả dạy Tập làm văn nói
chung và dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4 nói riêng.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề.
Theo tài liệu Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học thì phân môn
Tập làm văn có vị trí vô cùng đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi
vì: Thứ nhất, đây là phân môn sử dụng hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến
thức và kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác như Học vần,
Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu đã hình thành. Thứ hai, phân môn
cần có hiểu biết và tình cảm với đối tượng được viết, vì vậy phân môn Tập làm
văn tạo cho học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên
nhiên, con người và vạn vật xung quanh như: từ một cơn mưa, một buổi sáng
đẹp trời, một em bé bị ngã, một phụ nữ đang gặp khó khăn đến một con gà
trống, một đồ vật đã từng gắn bó.... Từ đây tâm hồn và nhân cách của các em
sẽ được hình thành và phát triển.
3. Thực trạng của việc dạy- học tập làm văn miêu tả lớp 4.
Để tìm hiểu thực trạng việc dạy học văn miêu tả của giáo viên và học
sinh lớp 4 hiện nay, tôi đã tiến hành việc điều tra đối với giáo viên trực tiếp
giảng dạy và học sinh, từ đó tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
trong dạy học đối với thể loại văn miêu tả ở lớp 4.
3.1. Điều tra giáo viên và khảo sát học sinh.
3.1.1. Điều tra giáo viên.
Để điều tra giáo viên về việc dạy văn miêu tả ở lớp 4 tôi đã tiến hành hai
công việc.
- Gặp gỡ và trao đổi giáo viên đã và đang dạy học dạy học sinh lớp 4
theo chương trình sách giáo khoa hiện hành. Qua trao đổi một số vấn đề liên
quan đến việc dạy học Tập làm văn miêu tả lớp 4 đa số các ý kiến của giáo
viên đều cho rằng: Đây là một phân môn khó dạy, thể loại và kiểu bài khó dạy
đặc biệt là đối với học sinh lớp 4. Nhiều giáo viên có tâm lí ngại dạy và cho
học sinh tự học cách viết từ những bài văn mẫu, thậm chí chép hoặc thuộc văn
mẫu.
- Tiến hành dự một số tiết dạy của giáo viên. Qua dự giờ tôi nhận thấy:
8
giáo viên đều có sự chuẩn bị chu đáo cho các tiết dạy, giảng dạy hệ thống và
chính xác kiến thức của bài, học sinh hoàn thành các yêu cầu của tiết học.
Song một hạn chế lớn nhất của các tiết dạy là giáo viên phụ thuộc nhiều vào
sách giáo khoa, sách giáo viên, chưa mạnh dạn đưa ra các biện pháp cải tiến
Câu 2. Em có thích học văn miêu tả không?
Khó
29 em = 48, 33 %
Thích
Bình thường
Không thích
32 em = 53,33%
14 em = 23,33 %
14 em = 23,33%
- Thứ hai: Khảo sát số học sinh 2 lớp ( 4A: Lớp đối chứng ; lớp 4B: Lớp thực
nghiệm) thực hiện đề bài sau: Em hãy tả một đồ dùng học tập hoặc một đồ
chơi em thích.(Thời gian 30 phút)
- Thời điểm khảo sát: tuần 16 năm học 2014- 2015( học sinh học kiểu bài đầu
tiên của văn miêu tả: tả đồ vật)
9
Kết quả thu được như sau:
Lớp
4A
4B
Số
Hoàn thành
Điểm 9-10 Điểm 7-8
học
SL %
Tập làm văn loại bài văn miêu tả ở lớp 4 hiện nay là:
Về việc dạy của giáo viên:
- Đa số giáo viên đều rằng đó là môn học khó, mang tính trừu tượng và sáng
tạo cao không giống các môn học đã có sẵn kiến thức và đáp án chuẩn như
môn Toán, Tập đọc, Luyện từ và câu, ...
- Khi dạy các tiết Tập làm văn trong chương trình phần lớn giáo viên chỉ dạy
dập khuôn theo sách giáo khoa và theo hướng dẫn từ sách giáo viên, ít có sáng
tạo, linh hoạt trong khi dạy, chưa có những phương pháp để khơi dậy niềm
hứng thú của học sinh với môn học này.
- Việc hướng dẫn học sinh biết sử dụng những biện pháp nghệ thuật cũng như
thể hiện cảm xúc tự nhiên, chân thực trong viết văn của hầu hết giáo viên còn
rất lúng túng và hạn chế dẫn tới các bài viết của học sinh đều có cách thể hiện
tình cảm và thái độ na ná như nhau vì thế trở nên gò ép, hời hợt và sáo rỗng.
Về việc học của học sinh
* Qua điều tra có tới hơn 48% các em học sinh có ý kiến đây là môn học
khó. Song không phải vì vậy mà các em không thích học, theo số liệu điều tra
thì có tới gần 80% các em có thái độ thích và bình thường đối với môn học
này. Chỉ có khoảng 23,3% em không thích và trên thực tế tìm hiểu thì những
em này là những em chưa thực sự có ý thức cao trong học tập ở tất cả các môn
học khác chứ không riêng môn tập làm văn. Như vậy đại đa số các em học sinh
vẫn cảm thấy yêu thích môn học này.
10
* Về bài khảo sát: Theo số liệu thống kê thì rất ít em chất lượng bai flàm
tốt(chỉ khoảng 11,7% em hoàn thành đạt điểm 9-10), số học sinh còn lại bị
mắc một trong số những lỗi sau:
- Hình thức: Chưa biết trình bày bài văn theo đúng bố cục: mở bài, thân bài,
kết mà viết cả bài thành một đoạn văn. Có bài văn còn thiếu mở bài, có bài
3.3. Nguyên nhân của thực trạng.
- Do phần lớn tâm lí giáo viên ngại thay đổi, thường chọn giải pháp an
toàn là dạy theo sách giáo khoa, sách giáo viên, chưa linh hoạt mạnh dạn trong
đổi mới phương pháp dạy học.
- Do môn học mang tính sáng tạo cao, kiến thức rộng song trình độ một
số giáo viên còn hạn chế nên chưa đáp ứng được những yêu cầu của môn học
đặt ra.
- Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với việc dạy Tập làm văn nên
chưa cố gắng học hỏi, trau dồi kiên thức, tìm tòi những phương pháp mới trong
việc nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh.
- Do điều kiện môi trường sống ở vùng nông thôn xa trung tâm nên vốn
từ ngữ của học sinh còn nghèo nàn, ít ỏi, khả năng vận dụng từ ngữ chưa linh
hoạt.
- Việc quan sát sự vật để miêu tả còn hời hợt, thiếu tinh tế.
- Một số em chưa hiểu rõ về đặc điểm của thể loại văn miêu tả nên
thường nhầm sang kể.
- Do các em mới từ lớp 3 chuyển lên lớp 4 nên dẫn tới một số em chưa
nắm vững cấu tạo và cách trình bày theo đúng bố cục của bài văn.
- Do không nắm vững các quy tắc chính tả và cũng một phần ảnh hưởng
của phương ngữ nên học sinh còn nhầm lẫn nhiều phụ âm đầu như l/n; tr/ch;
s/x.
- Vì đa số các em đều là con em nông dân ít được tiếp cận với sách báo,
những tài liệu mang tính nghệ thuật nên việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật
để miêu tả còn rất hạn chế.
Qua quá trình tìm hiểu về thực trạng cũng như các nguyên nhân của thực
trạng việc dạy học văn miêu tả lớp 4, cùng với việc nghiên cứu các tài liệu
tham khảo và thực dạy, trong những năm học gần đây tôi đã mạnh dạn tiến
12
13
thân thiết với các em. Đó có thể là cái trống, cái bút, quyển sách, cặp sách, cái
bàn hay các đồ chơi như búp bê, gấu bông, xếp hình,... Chúng là những vật vô
tri vô giác nhưng vẫn gần gũi và có ích đối với các em.
Mỗi đồ vật đều có một hình dáng và kích thước, chất liệu, màu sắc ... cụ
thể như: chiếc thước vuông, bằng nhựa trong; cái bút chì tròn, vỏ ngoài bằng
gỗ, sơn màu vàng tươi, .... Cần lưu ý các em miêu tả những đặc điểm này trong
bài văn của mình. Với những đồ vật có nhiều bộ phận, các em chỉ cần tập trung
miêu tả những bộ phận quan trọng nhất. Đó chính là những nét tiêu biểu để
phân biệt đồ vật này với đồ vật khác.
Ví dụ bài văn Chiếc xe đạp của chú Tư ( Tiết Tập làm văn: Luyện tập
miêu tả đồ vật- Tiếng Việt lớp 4- tập 1 trang 150), sau khi cho học sinh thực
hiện phần trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa, GV cho học sinh nhận xét và rút
ra kết luận: chiếc xe đạp có rất nhiều bộ phận như: khung, vành, bánh, ghi
đông, yên, xích, líp, ... nhưng tác giả không tả tất cả các bộ phận ấy mà chỉ tập
trung tả vành xe, tay cầm và một số phụ kiện trang trí cho tay cầm. Song chỉ
cần từng ấy thôi người đọc và nghe đã hình dung ra một chiếc xe đạp rất đẹp,
rất mới, rất chắc chắn và chạy sẽ rất bon và êm vì“ vành láng bóng, khi chú
ngừng đạp, chiếc xe cứ ro ro nghe thật êm tai.”
Đồ vật thường gắn liền với đời sống con người nên khi miêu tả phải nói
được công dụng, ích lợi của đồ vật, cũng như tình cảm của con người đối với
nó. Ví dụ: “ Đã mấy tháng rồi mà cây bút của em vẫn còn mới. Bút cùng em
làm việc chăm chỉ ngày ngày như chiếc cày của bác nông dân cày trên đồng
ruộng” ( theo Nguyễn Văn Khiêm - Tiếng Việt 4 tập 1- trang 170)
4.1.2. Đặc điểm của bài văn miêu tả cây cối.
Đối tượng của bài văn miêu tả cây cối là những cây xung quanh các em.
Đó có thể là cây hoa ( hoa hồng, hoa sen, hoa cúc, ...), cây cảnh( cây xương
rồng, cây vạn niên thanh, cây si, cây tùng...), cây bóng mát ( cây bàng, cây
Đối tượng của văn miêu tả loài vật là những con vật quen thuộc, gần gũi
với các em như con chó, con mèo, con gà, con vịt, ... Có khi chỉ yêu cầu tả một
con, có khi lại tả cả bầy, đàn. Mỗi loài vật đều có đặc điểm tiêu biểu cho loài,
mỗi con vật lại có những những đặc điểm riêng khác với loài của chúng. Chính
vì vậy, khi miêu ta phải lấy cái đặc điểm nổi bật nhất cũng như không thể bỏ
qua những đặc trưng của cá thể như màu sắc, vóc dáng, thói quen, ...
15
Những con vật được miêu tả là những con vật thân thiết với các em và
có nhiều lợi ích nên bài văn phải thể hiện sự chăm sóc, tình cảm yêu mến của
các em đối với chúng.
Ví dụ: “ Tê tê là loại thú hiền lành, chuyên diệt sâu bọ. Vì vậy, chúng ta
cần bảo vệ nó” ( Theo Vi Hồng, Hồ Thùy Giang- Tiếng Việt 4 tập 2- trang
139)
Khi học sinh nắm bắt được đặc điểm của 3 kiểu bài văn miêu tả ở lớp 4,
muốn các em có thể viết được bài văn hay thì trong các em phải có một vốn từ
ngữ phong phú, biết được cách viết nghệ thuật và biết thể hiện cảm xúc, vì vậy
biện pháp tiếp theo tôi hướng dẫn học sinh biết cách tích luỹ vốn từ, biết lựa
chọn từ ngữ, biết sử dụng biện pháp nghệ thuật và biết bộc lộ cảm xúc khi
miêu tả.
4.2. Hướng dẫn học sinh biết tích luỹ vốn từ, biết lựa chọn từ ngữ,
biết sử dụng biện pháp nghệ thuật và biết bộc lộ cảm xúc khi miêu tả.
4.2.1. Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ ngữ miêu tả.
Như trong phần thực trạng đã nêu: chất lượng bài viết của các em không
cao một phần là do vốn từ ngữ của các em quá ít ỏi và nghèo nàn.
- Để có thể làm giàu thêm vốn từ ngữ cho các em biện pháp đầu tiên tôi
giúp các em tích lũy vốn từ qua các bài tập đọc. Nhiều bài tập đọc là các bài
văn miêu tả rất hay của các nhà văn. Số lượng từ ngữ miêu tả ở các bài đó
phong phú, đa dạng và cách sử dụng chúng rất sáng tạo. Khi dạy các bài tập
giúp rất nhiều cho học sinh khi tả các con vật, cây cối, đồ vật.
- Đọc các tác phẩm văn học, các bài văn mẫu cũng là dịp để học sinh
tích lũy vốn từ miêu tả cho mình.
4.2.2. Hướng dẫn học sinh lựa chọn từ ngữ khi miêu tả.
Có vốn từ ngữ nhưng phải biết dùng chúng đúng lúc, đúng chỗ. Muốn
vậy phải coi trọng việc lựa chọn từ ngữ khi diễn đạt kết quả quan sát cũng như
khi làm bài miêu tả. mỗi chi tiết có thể có nhiều từ ngữ để miêu tả nhưng
thường chỉ có một từ ngữ, một hình ảnh thích hợp, do đó có tác dụng gợi hình,
gợi cảm nhất. Có khi ngay từ đầu các em đã nắm bắt được từ ngữ hay hình ảnh
này. Nhưng thông thường việc xác định từ ngữ hay hình ảnh cần dùng cho mọt
chi tiết miêu tả phải trải qua một quá trình tìm tòi, chọn lọc.
Cách làm thông thường khi lựa chọn từ ngữ là so sánh các từ gần nghĩa
17
hay trái nghĩa. Ví dụ tả vẻ đẹp về màu sắc của bông hoa hồng nhung nên dùng
từ nào trong hàng loạt các từ ngữ: đỏ tươi, đỏ thắm, đỏ chói, đỏ chót, đỏ rực,...
thể hiện tình cảm đối với đồ vật thì nên dùng từ nào trong các từ: yêu thích,
yêu mến, yêu quý, thương yêu ... Cần luyện tập kiên trì để học sinh làm quen
với phương pháp này và chống lại tâm lí dễ dãi khi dùng từ ngữ. Nhà văn Tô
Hoài đã có lúc phê phán cách viết thiếu suy nghĩ chọn lọc: “ Cứ viết đến mồ
hôi thì nhễ nhại, tinh thần thì hăng say, đàn ông thì cười phá lên, người thì
thanh tú, thon thả, nét mặt xúc động thì mắt ánh lên. Những chữ ấy không
phải công phu mình nghĩ ra. Chỉ vì đã vơ lấy dùng đi dùng lại đến quen tay mà
thôi.”. Vậy muốn học sinh sáng tạo trong văn viết để phát triển được năng lực
của các em thì không nên dạy các em “ dùng đi dùng lại” để thành “ quen tay”
mà thui chột cái tiềm năng vốn có sẵn trong con người của các em.
Cách đặt câu hỏi của giáo viên trong các tiết dạy văn miêu tả cũng rất
quan trọng. Nó không chỉ có tác dụng định hướng quan sát mà có ảnh hưởng
tới việc tìm tòi từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả. Cần tránh đặt các câu hỏi về kiến
đấm, chân cứng như hai thanh sắt, tiếng gáy ồ ồ như nước mưa rào chảy vào
vành cống hẹp.”. Hiển hiện trước mắt mọi người một chú gà chọi như được
tạc bằng đồng với những đường nét thật là động, sắc sảo.
- Để hướng dẫn học sinh, đầu tiên, tôi cho các em tìm các câu có các
biện pháp so sánh trong các bài đọc để từ đó các em có được cái nhìn cụ thể về
biện pháp này.
Ví dụ: Bài Cây gạo: Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn
khổng lồ. Hàng ngàn bông hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng tươi. Hàng ngàn
búp nõn là hàng ngàn ngọn nến trong xanh... hay bài Sầu riêng: Cánh hoa
nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con...
- Tiếp theo, tôi cho học sinh tập so sánh: Giáo viên đưa ra một số sự vật
để học sinh so sánh.
Ví dụ: Búp bê, hoa hướng dương, chú gà trống,...
+ Búp bê như một cô công chúa nhỏ.
+ Hoa hướng dương là vầng mặt trời với những tia nắng vàng rực rỡ lung linh.
+ Chú gà trống oai vệ như một võ sĩ trên đấu trường...
- Hướng dẫn học sinh chọn lọc hình ảnh so sánh gợi tả nhất.
Ví dụ: cho học sinh so sánh hình ảnh hoa hướng dương với các sự vật khác
19
nhau sau đó giúp các em rút ra kết luận: Hoa hướng dương có thể so sánh với
rất nhiều các sự vật khác: như một cái đĩa màu vàng, như một chiếc cúc áo
khổng lồ, như một vầng mặt trời đang tỏa sáng, ... song hình ảnh so sánh đẹp
nhất vẫn là so sánh với mặt trời tỏa sáng vì hình ảnh này đã lột tả được vẻ đẹp
rực rỡ của hoa hướng dương – hơn nữa lại mang ý nghĩa sâu xa: một loài hoa
tượng trưng cho mặt trời. Còn câu thứ nhất so sánh với cái đĩa có đặc điểm
giống bông hướng dương song đơn điệu và giảm đi giá trị vẻ đẹp của bông
hoa. Từ đó giúp học sinh nhận biết: khi so sánh muốn làm cho một sự vật đẹp
hơn phải so sánh với sự vật khác có cùng đặc điểm nhưng đẹp hơn, có những
nhận xét câu văn nào hay hơn? Không khó cho học sinh trong việc lựa chọn:
Câu văn thứ hai hay hơn câu văn thứ nhất.
“ Hay hơn vì sao?” Vì câu thứ 2 đã sử dụng biện pháp nhân hóa giúp cho
các sự vật miêu tả như câu chuối, những chiếc lá, những bông hoa, ong, bướm
trở nên sinh động, đáng yêu vì có những suy nghĩ, tính cách của con người.
- Sau khi các em nắm bắt được tác dụng của biện pháp này, tôi gợi ý để
các em nêu các cách nhân hoá sự vật.
+ Dùng các từ chỉ người: Xưng hô các sự vật như đối với người, gọi sự vật là
anh, chị, cô, chú, ... Ví dụ: Cô Trăng, chị Gió, bác Mặt Trời, anh Gà trống, chị
Mái Mơ,.....
+ Gắn những đặc điểm, suy nghĩ, tính cách, hoạt động của người vào sự vật:
Hoa quỳnh trầm tư; bích đào cười tươi roi rói, phong lan yểu điệu, chị Mái Mơ
hiền lành, quyển vở sung sướng, hãnh diện khoe điểm 10 đỏ chói v.v.
- Cho các em nghe những câu chuyện có sử dụng nhiều biện pháp nhân
hoá như: Dế Mèn phiêu lưu kí, Võ sĩ Bọ Ngựa, Hai con ngỗng của nhà văn Tô
Hoài, những bài thơ như Đám ma bác Giun, Mưa, Buổi sáng nhà em, ...của
nhà thơ Trần Đăng Khoa. Đó là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật rất lớn
nhờ biện pháp nhân hóa, qua đây phần nào giúp cho học sinh học tập được
cách sử dụng biện pháp nghệ thuật này.
- Sau khi cho học sinh tiếp cận cách sử dụng nghệ thuật nhân hóa trong
các văn bản nghệ thuật, giáo viên cho các em thực hành vận dụng sử dụng
nhân hóa miêu tả một số sự vật: hoa hồng nhung màu đỏ, mặt trời tỏa nắng
làm cho không khí trở nên nóng nực bằng một trong hai cách.
VD: Chị hồng nhung khoác lên mình một chiếc áo choàng lộng lẫy màu đỏ
21
thắm. Ông mặt trời đang nhuộm đỏ sườn núi phía tây và thổi lửa xuống
mặt đất.
Bằng cách luyện tập này thì việc vận dụng biện pháp nhân hoá vào bài
4.3. Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả để tìm ý cho bài viết.
Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật. Tổ chức cho học
sinh quan sát đối tượng miêu tả là một công việc thuộc về nguyên tắc khi dạy
học văn miêu tả. Nhờ quan sát học sinh có được những hiểu biết chân thực về
sự vật xung quanh, có được những hình ảnh rõ nét và sinh động về đối tượng
miêu tả từ đó có thể thể hiện một cách chính xác sự vật mình tả qua bài viết.
Sau khi cho học sinh tìm hiểu đặc điểm riêng của 3 loại văn nêu tên, tôi
tiến hành hướng dẫn học sinh quan sát các đối tượng miêu tả.
4.3.1. Hướng dẫn học sinh quan sát bằng các giác quan.
Nối đến quan sát, thông thường học sinh chỉ quen sử dụng mắt để quan
sát và nhận xét, ít biết cách dùng các giác quan khác. Đó là cách quan sát một
cách phiến diện, các nhận xét thu được thường là nhận xét và cảm xúc gắn liền
với thị giác nên nó thường không sâu sắc, không bản chất, không toàn diện và
thiếu hoàn chỉnh. Để bài văn miêu tả phong phú, sinh động giáo viên cần
hướng dẫn học sinh tập sử dụng các giác quan khác như tay, mũi, tai, ... để thu
nhận nhiều nhận xét khác nhau giúp cho việc miêu tả sinh động và mới mẻ.
- Quan sát bằng cơ quan thị giác: Dùng mắt để xem hình dáng, kích thước,
màu sắc,... của sự vật như thế nào từ đó có các cảm nhận:
+ Về màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng, ...
Ví dụ: “ Bình minh của hoa phượng là một màu đỏ còn non, nếu có mưa lại
càng tươi dịu... Nhưng hoa càng đỏ, lá lại càng xanh”( Theo Xuân Diệu)
+ Về hình dạng: cao, thấp, ngắn, dài, to, nhỏ, vuông, tròn, .... như cây cao hay
thấp, cái bàn vuông hay cái bàn tròn?
Ví dụ: “ Bên vệ đường sừng sững một cây sồi. Đó là một cây sồi lớn, hai
người ôm không xuể...”( Theo Lép Tôn- xtôi )
+ Về hoạt động: đi, đứng, chạy, đung đưa, ... như con gà sống khi đi cổ thường
nghển cao, con ngan bước đi chậm chạp và lạch bạch...
Ví dụ: “ Bỗng nhiên con mèo chụm bốn chân lại, dặt dặt cái đuôi lấy đà rồi “
phốc” một cái. Thế là con chuột đã nằm gọn ngay trong vuốt của nó...” ( Theo
Hoàng Đức Hải”.
hấp dẫn người đọc.
Để hạn chế việc học sinh quan sát sự vật một cách lộn xộn, không trọng
tâm dễ bỏ sót những đặc điểm quan trọng của sự vật, gây khó khăn cho việc
24
việc tổng hợp sắp xếp ý sau này, giáo viên cần hướng cho học sinh biết cách
quan sát một cách khoa học.
4.3.2. Hướng dẫn học sinh quan sát sự vật theo trình tự hợp lí.
Có thể hướng dẫn cho học sinh quan sát theo hai trình tự sau:
- Quan sát theo trình tự không gian: Quan sát sự vật từ xa đến gần, từ bao quát
đến bộ phận, từ bộ phận chủ yếu đến bộ phận thứ yếu, từ ngoài vào trong, từ
trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên, từ trái qua phải hoặc ngược lại, ...
Ví dụ quan sát để tả chiếc bút máy từ ngoài vào trong: “ Cây bút dài gần một
gang tay. Thân bút tròn, nhỏ nhắn, bằng ngón tay trỏ. Chất nhựa bút vẫn còn
thơm, nom nhẵn bóng. Nắp bút màu hồng, có cài bằng sắt mạ bóng loáng.
Mở nắp ra, em thấy ngòi bút sáng loáng, hình lá tre, có mấy chữ rất
nhỏ, nhìn không rõ...” ( Theo Nguyễn Văn Khiêm)
- Quan sát theo trình tự thời gian: Quan sát sự vật theo mùa : xuân, hạ, thu,
đông đối với cây cối, quan sát sinh hoạt của con gà, con lợn, theo thời gian
trong ngày: buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, ...
Ví dụ tả lá bàng thay đổi theo các mùa trong năm:“ Mùa xuân, lá bàng mới
nảy trông như những ngọn lửa xanh. Sang hè, lá lên thật dày, ánh sáng xuyên
qua chỉ còn là màu ngọc bích. Khi lá bàng ngả sang màu lục, ấy là mùa thu.
Sang đến những ngày cuối đông, mùa của lá rụng, nó lại có vẻ đẹp riêng.
Những chiếc lá bàng mùa đông đỏ như đồng ấy...”
Nếu học sinh biết quan sát theo một trình tự hợp lí thì sẽ thuận lợi trong việc
sắp xếp ý cũng như viết đoạn trình bày bài văn một cách lôgic.
4.3.3. Hướng dẫn học sinh quan sát các đặc điểm riêng biệt của sự vật.
Quan sát để làm bài văn miêu tả cần tìm ra những đặc điểm riêng biệt