PHÒNG GDĐT CHÂU PHÚ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG TH A ĐÀO HỮU CẢNH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Xã Đào Hữu Cảnh, ngày 24 tháng 11 năm 2018
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao
chất lượng dạy học Tập làm văn lớp 4.
I. Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên : Trần Thị Thúy Vân
Nam, nữ: Nữ
- Ngày tháng năm sinh : 20 / 7 / 1977
- Nơi thường trú : Hưng Thới xã Đào Hữu Cảnh huyện Châu Phú tỉnh An
Giang
- Đơn vị công tác : Trường TH A Đào Hữu Cảnh
- Chức vụ hiện nay : Giáo viên
- Trình độ chuyên môn : Đại học
- Lĩnh vực công tác : Giáo dục tiểu học
II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:
1. Thuận lợi :
- BGH nhà trường đã quan tâm nhiều đến việc nâng cao chất lượng giảng
dạy. Vì vậy, đã chỉ đạo tốt việc lên kế hoạch, soạn giảng dạy học bồi dưỡng HS
hoàn thành tốt, phụ đạo học sinh chưa hoàn thành.
và thể hiện “cái đẹp” đó bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh. Song một thực tế mà
chúng ta đều biết là hiện nay, trong các cấp học mà đặc biệt là bậc Tiểu học,
phần lớn học sinh viết văn rất khô khan.
Qua thực tế dạy môn Tập làm văn nhiều năm ở lớp 4, tôi nhận thấy bài viết
của các em hầu như chỉ diễn đạt nội dung. Câu văn chỉ mang tính chất thông báo
chứ chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc. Đây là điều tất nhiên, vì ở lứa tuổi này
vốn sống và vốn kiến thức của các em còn hạn hẹp. Đứng trước thực tế đó, tôi
rất băn khoăn và trăn trở: “ Làm thế nào để giúp các em yêu thích môn văn? Để
giúp các em có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, của cảnh vật, thiên
nhiên đất nước? Giúp các em có cơ hội bộc lộ cảm xúc của cá nhân, mở rộng
tâm hồn và phát triển nhân cách cho các em?”.
Trả lời câu hỏi này, ngay từ đầu năm học nhận nhiệm vụ chủ nhiệm lớp 4A
Trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh. Tôi đã cố gắng dùng mọi khả năng và kinh
nghiệm của mình để khơi dậy những tiềm năng văn học đang ẩn dấu trong mỗi
học sinh. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày một vài kinh
nghiệm “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn lớp 4 “
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:
Khi bắt đầu tìm hiểu việc học tập Tập làm văn của học sinh, tôi thấy đa số
học sinh rất thụ động, ít phát biểu, khi cần hỏi điều gì các em chậm đứng lên, dẫn
đến việc thực hành làm văn chưa đạt yêu cầu, trình bày bài văn thì chưa rõ bố
Trần Thị Thúy Vân / A Đào Hữu Cảnh
2
cục, câu văn thiếu mạch lạc, viết thiếu ý, diễn đạt ý chưa phù hợp, bài văn không
có tính sáng tạo, lệ thuộc rất nhiều vào bài văn mẫu. Bên cạnh đó, còn tồn tại các
em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, ít quan tâm đến việc học tập của con em
mình đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của các em. Trong khi đó
thì giáo viên chỉ dành ít thời gian để sửa chữa những sai sót cho các em học sinh
64,51%
8
25,81%
bài văn
Chưa hoàn
thành bài văn
Tôi thấy học sinh học tập còn thụ động , bố cục bài văn lủng cũng, ý tứ, câu cú
chưa rõ ràng. Kỹ năng thực hành nói, viết còn nhiều hạn chế các em chưa biết
nhận xét lẫn nhau do vậy khi tiến hành khảo sát kết quả đạt được là không khả
quan .
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến:
Trong quá trình giảng dạy và tìm hiểu tình hình thực tế ở lớp, bản thân tôi
có nhiều trăn trở. Là người nhà giáo đang đứng trên bục giảng và đồng thời là
một người yêu văn, thích tìm hiểu về bộ môn văn, tôi không khỏi băn khoăn và
lo lắng trước thực trạng học sinh ngày càng yếu môn tiếng việt nhất là bộ môn
tập làm văn.
Bản thân tôi hằng ngày được tiếp xúc trong môi trường giáo dục, trực tiếp
giảng dạy các em do vậy hơn ai hết tôi là người nắm bắt, nhìn thấy thực trạng
học tập của học sinh. Qua việc khảo sát, chấm bài học sinh tôi nhận thấy học
sinh làm bài còn quá yếu, ngôn từ nghèo nàn, ý thức học tập cũng như chất
lượng của bài làm là chưa cao. Các em vẫn chưa hình dung rõ cách thức viết một
bài văn như thế nào. Bên cạnh đó vốn sống, kinh nghiệm thực tế của các em còn
quá ít ỏi. Nội dung chương trình, cấu tạo của sách giáo khoa thiếu tính khoa học,
chưa phù hợp với những đối tượng học sinh ở những vùng có hoàn cảnh khó
khăn như trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh .
+ Viết thư : 3 tiết.
+ Trao đổi ý kiến : 2 tiết.
+ Giới thiệu hoạt động : 2 tiết.
+ Tóm tắt tin tức : 3 tiết.
+ Điền vào giấy tờ in sẵn : 3 tiết.
Như vậy chuơng trình Tập làm văn lớp 4 được chú trọng vào hai thể loại
chính đó là: kể chuyện (19 tiết) và miêu tả (30 tiết). Điều này khẳng định lượng
kiến thức trọng tâm của Tập làm văn lớp 4 là văn kể chuyện và văn miêu tả.
b) Yêu cầu kiến thức, kỹ năng phân môn Tập làm văn lớp 4.
1 Yêu cầu kiến thức:
+ Thể loại văn kể chuyện.
- Học sinh phải hiểu như thế nào là kể chuyện?
Trần Thị Thúy Vân / A Đào Hữu Cảnh
4
- Hiểu được nhân vật trong truyện. Kể lại hành động của nhân vật. Tả ngoại
hình của nhân vật trong bài văn kể chuyện. Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật.
- Bên cạnh đó học sinh phải hiểu cốt truyện .
- Biết xây dựng đoạn văn, biết mở bài và biết kết bài trong bài văn kể chuyện.
Từ đó, học sinh biết viết và nói một bài văn kể chuyện hoàn chỉnh.
+ Thể loại văn miêu tả.
- Học sinh phải hiểu như thế nào là miêu tả?
- Miêu tả đồ vật : Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả đồ vật.
- Miêu tả cây cối : Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả cây cối.
- Miêu tả con vật : Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả con vật.
+ Các loại văn bản khác.
- Viết thư : Nắm được mục đích của việc viết thư, nội dung cơ bản, cách xưng hô
và cách trình bày một bức thư.
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt.
2. Yêu cầu đối với giáo viên.
- Giáo viên phải nắm được quan điểm đổi mới phương pháp dạy học phân môn
Tập làm văn theo Chương trình và sách giáo khoa mới.
- Xác định được các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
trong dạy Tập làm văn.
- Phải thiết kế được một kế hoạch bài học thể hiện sự đổi mới của phương
pháp dạy học phân môn Tập làm văn.
Đó là toàn bộ yêu cầu kiến thức, kỹ năng trọng tâm mà học sinh cần đạt
được và những yêu cầu đối với giáo viên lớp 4 cần nắm vững để áp dụng khi dạy
phân môn Tập làm văn.
Để nâng cao chất lượng làm văn cho học sinh lớp 4 đòi hỏi người giáo viên
phải kiên trì và bền bỉ vì đây là công việc rất khó khăn. Xuất phát từ vấn đề đó,
tôi đã tiến hành một số biện pháp như sau:
3.3. Biện pháp thực hiện
3.3.1. Đối với loại bài viết thư:
Trong chương trình làm văn lớp 3 và 4, các em được học kiểu bài viết thư:
Nhiều bạn cho rằng: học viết thư bây giờ là "cổ" quá, cần thông tin gì thì "chat"
qua thư điện tử hoặc điện thoại hỏi thăm. Nhưng viết thư cũng là một nét văn
hóa đẹp mà các em cần biết và cũng cần có thói quen viết thư. Rất nhiều bức thư
đã đi vào lịch sử như: Bức thư của Bác Hồ gửi học sinh nhân ngày khai trường.
Viết thư không hề khó, không quan trọng ở vấn đề viết dài hay ngắn mà cần thiết
là bày tỏ được tình cảm chân thành của mình với người nhận thư.
Cần phân biệt rằng, một bức thư của học sinh tiểu học không như một bức
thư của người lớn, nghĩa là học sinh tiểu học viết thư ở mức độ đơn giản, đầy đủ
yêu cầu cơ bản của một bức thư. Ở nội dung bài dạy này, giáo viên cần hình
thành chắc cho học sinh mục đích viết thư và viết thư cho ai ?. Giáo viên giải
thích cho học sinh hiểu rõ, có thể viết thư cho bạn bè, cho người thân để thăm
hỏi, động viên, chúc mừng, chia sẻ, thông báo tình hình học tập, bày tỏ ước mơ
… Để học sinh viết thư đúng theo yêu cầu, tôi đã tiến hành một số cách sau đây:
ngôn ngữ của bản thân để các em kể lại truyện.
Ở tiết văn kể chuyện, giáo viên và học sinh được giao hoà tình cảm một
cách hồn nhiên, được sống trong giây phút hồi hộp và xúc cảm.
Nếu người giáo viên dạy tốt tiết văn kể chuyện chính là động lực mang lại
hiệu qủa cho các tiết học khác và các môn học khác. Đồng thời cũng là điều kiện
tốt cho sự phát triển năng khiếu ở nhiều học sinh, tạo điều kiện ươm mầm cho
những nhân tài mai sau.
-Một bài văn kể chuyện bao giờ cũng gồm ba phần :
Mở bài: Có hai cách mở bài. Đó là mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp
.Mở bài trực tiếp tức là kể ngay vào sự việc mở đầu câu chuyện, mở bài gián tiếp
tức là nói chuyện khác để dẫn vào câu chuyện định kể.
7
Trần Thị Thúy Vân / A Đào Hữu Cảnh
Thân bài: Đây chính là cốt truyện mà khi viết yêu cầu học sinh phải nhớ
lại được những sự việc chính của câu chuyện và phải biết kể lại theo trình tự hợp
lí.
Kết bài: Có hai cách kết bài là kết bài mở rộng và kết bài không mở rộng.
Kết bài mở rộng là các em phải nêu đựơc ý nghĩa hoặc đưa ra lời bình luận về
câu chuyện. Kết bài không mở rộng tức là học sinh chỉ cho biết kết cục của câu
chuyện mà không bình luận gì thêm.
Để học sinh thực hiện tốt được kỹ năng kể chuyện ở lớp 4, giáo viên tạo
điều kiện cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với đối tượng kể. Yêu cầu học sinh về
nhà tìm các câu chuyện khác sách giáo khoa để kể hay nhớ lại câu chuyện do
chính học sinh tham gia tìm ra. Giáo viên cần phát huy có hiệu quả đồ dùng dạy
học (tranh ảnh, mô hình, vật thật …) để học sinh tri giác, từ đó kể được dễ dàng,
chính xác, nhớ lâu câu chuyện đã kể.
Chẳng hạn: Kể chuyện bài: “Ba lưỡi rìu”.
- Giáo viên chuẩn bị 06 tranh minh họa đẹp, tương ứng 06 sự việc của
1. Mở bài: Tả hoặc giới thiệu bao quát về đồ vật, con vật, cây cối.
2. Thân bài: Tả từng bộ phận của đồ vật, con vật, cây cối (hoặc từng thời kì
phát triển của cây).
3. Kết bài: Nêu cảm nghĩ về đồ vật, con vật, cây cối cần tả.
b) Vận dụng tối đa kĩ năng quan sát khi miêu tả.
Đối với loại bài này, tôi dặn dò học sinh về nhà quan sát các đồ vật, con vật,
cây cối gần gũi mà các em thường thấy ở xung quanh. Vào lớp, tôi cho học sinh
thi đua cá nhân, nhóm tìm nhanh các đồ vật có thể tả. Sau đó gợi ý cho các em
cách lập dàn ý một đoạn, một bài hoàn chỉnh và yêu cầu mỗi em phải tự làm
việc, tự quan sát, tự ghi chép khi quan sát một đồ vật, một con vật và có nhiệm
vụ giúp các em hệ thống lại các ý đã quan sát để lập thành dàn bài chi tiết đạt
yêu cầu, có hệ thống.
Ví dụ 1: Dạy bài:"Quan sát đồ vật" (Tiếng Việt 4/I trang 153). Giáo viên sử dụng
phương pháp trực quan, phương pháp quan sát ở chỗ giáo viên cho học sinh quan
sát đồ chơi mà các em đem tới lớp kết hợp quan sát tranh một số đồ chơi như gấu
bông, con lật đật, con búp bê...
Học sinh đọc phần gợi ý sách giáo khoa (đọc cá nhân) trang 54, sau khi giáo
viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu. Giáo viên sử dụng phương pháp rèn
luyện theo mẫu, học sinh luyện tập theo mẫu đã gợi ý.
Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh:
Trần Thị Thúy Vân / A Đào Hữu Cảnh
9
- Hãy quan sát một số đồ chơi em thích và ghi lại những điều quan sát được.
Học sinh vừa quan sát vừa ghi chép lại ý quan sát, sau đó sắp xếp ý để tạo
thành một dàn ý tả đồ chơi mà em thích.
- Giáo viên cho học sinh trình bày những ý đã ghi được sau khi quan sát
theo một dàn bài sẽ luyện thực hành giao tiếp cho học sinh.
10
+ HS3: Phía bên trong có ba ngăn. Ngăn lớn đựng sách, ngăn thứ hai đựng
bảng con, đồ dùng khác …, ngăn thứ ba nhỏ nhất đựng bút, thước, và các đồ
dùng như: áo đi mưa, chai nước, …
+ HS4: Chiếc cặp giúp em đựng sách vở không bị rơi rớt và không bị mưa
ướt.
Ví dụ 3: Kiểu bài tả về cây cối: “Tả cây có bóng mát”
- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát cây các cây bóng mát có trên sân sân
trường ( cây bàng, cây phượng … ). Tôi cho học sinh mang giấy viết ra sân ghi
chép những gì quan sát được. Có phân công nhiệm vụ cụ thể của từng thành viên
trong nhóm khi quan sát .
- Thảo luận nhóm 4, nêu lên kết quả quan sát.
+ HS1: Tả bao quát cây: hình dáng, cao hay thấp, màu sắc.
+ HS2: Tả cụ thể: thân cây, lá cây, hoa quả, vỏ cây xù xì, rễ cây ngoằn
ngoèo nổi cả trên mặt đất.
+ HS3: Chim chóc, ong bướm bay vòng quanh.
+ HS4: Nêu ích lợi của cây phượng.
Ví dụ 4: Kiểu bài tả con vật.: (Tuần 29) Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật.
Lập dàn ý chi tiết tả một vật nuôi trong nhà (gà, chim, chó, lợn. trâu,). Dạy bài
này, giáo viên cũng dặn học sinh quan sát vật nuôi từ trước. Sau đây là một dàn ý
tả con gà trống
1. Mở bài : Giới thiệu con vật muốn tả : Một chú gà trống lai đã trưởng thành.
2. Thân bài : - Tả bao quát : toàn thân
được bao phủ lớp lông vàng rực pha lẫn
những chiếc lông đen óng ánh, nặng
3kg.
- Tả đặc điểm từng bộ phận :
+ Đầu : cổ cao được bao phủ lớp lông
chuột . Ví dụ : tả vể hoạt động bắt chuột của con mèo : “Bọn chuột chính là kẻ
thù số một của chú. Một hôm, em thấy chú mèo đang rình ở bồ thóc. Số là hằng
ngày bọn trộm chuột thường đến ăn vụng ở đây. Bỗng chú co mình lại, dặt dặt
cái đuôi lấy đà rồi “phốc” một cái, tên chuột ngu ngốc kia đã nằm gọn trong
móng vuốt .”
- Hay khi nói về thói quen của con chó “ Buổi chiều, em đang ngồi học bài, Misa
rón rén lại gần, dụi dụi vào tay em như muốn em vuốt ve bộ lông mượt mà của
chú…” và hoạt động giữ nhà của nó khi có người lạ đến nhà .
e) Giúp học sinh biết cách biểu lộ sắc thái tình cảm với đối tượng mình yêu
thích khi miêu tả.
- Biết yêu thương và chăm sóc những con vật gần gũi, có ích như chó, mèo. Biết
được những giá trị kinh tế do các con vật mang lại cho gia đình mình như bò,
lợn, gà, vịt,… Giáo viên phải gợi ý, dẫn dắt để học sinh biết dùng từ ngữ diễn đạt
được tình cảm của mình.
- Ví dụ: Khi tả về con lợn một học sinh đã viết như sau:
“… Vào những ngày nghỉ, em thường ra vườn hái cho chú một ít rau lang hay
rau muống, chú ta tỏ vẻ thích chí lắm, phẩy phẩy cái đuôi ngước nhìn như có ý
cảm ơn em…”
Trần Thị Thúy Vân / A Đào Hữu Cảnh
12
Đối với các em học sinh chưa hoàn thành, tôi cho các em trình bày phần mở
bài và kết luận. Thường thì học sinh chưa hoàn thành tôi gọi trong lúc này là để
các em có thể trình bày ngắn gọn các ý khi sai sót, ngoài những nụ cười cởi mở
giáo viên chỉ nên nhẹ nhàng sửa sai và động viên cho các em này.
Đến tiết trả bài viết, tôi cho học sinh tự do phát biểu ý kiến sửa sai về câu,
từ, ý diễn đạt. Qua việc đọc bài hay, các em nêu lên được chỗ nào hay cần học
hỏi ở bạn, ý nào còn thiếu sót được các bạn bổ sung và hoàn thiện ngay tại lớp.
13
Trần Thị Thúy Vân / A Đào Hữu Cảnh
- Kết bài là phần cuối cùng, là phần sau hết đến với người đọc, gây cho người
đọc cảm giác, ấn tượng cuối cùng về bài viết, tạo ra âm hưởng chung cho toàn
bài.
- Phần này có một vai trò và tầm quan trọng đặc biệt vì một kết bài gọn gàng,
nhẹ nhàng, đặc sắc sẽ lưu lại tình cảm tốt đẹp ở người đọc.
Ví dụ : Em hãy tả cái cặp của em. (kết bài theo hai kiểu )
Với đề bài như trên, thông qua các câu hỏi gợi mở, giáo viên hướng dẫn học
sinh phân tích đề xác định được các yếu tố cần nêu ở kết bài như sau:
- Không mở rộng : hiểu giá trị, lợi ích của cái cặp yêu quý cái giữ gìn, bảo quản
tốt.
- Mở rộng: Nêu một câu hỏi - Nêu một ý mới lạ - Đưa ra một lời bình - Đưa ra
một câu văn hoặc một câu thơ ….
3.3.4. Đối với loại bài tóm tắt tin tức, điền vào giấy tờ in sẵn:
- Tóm tắt tin tức đòi hỏi học sinh phải có khả năng phân tích, tổng hợp, trí
nhớ tốt khi đọc qua một đoạn văn đã cho trước. Để lớp học sinh động, tôi phân
nhóm học sinh thi đua nhau tóm tắt một bản tin do giáo viên đưa ra, sau đó chỉ
định 02 nhóm trình bày trên bảng bằng giấy khổ to, các nhóm khác nhận xét, bổ
sung cho nhau, giáo viên bên cạnh uốn nắn, sửa chữa cho hoàn thiện.
Ví dụ: Tóm tắt các tin (sách Tiếng Việt 4, tập hai, trang 109) bằng một hoặc hai
câu.
Bản tin a: (thảo luận nhóm 6).
+ Tóm tắt bằng một câu: thỏa mãn những ý thích khác lạ, ở Vát-te-rát (Thụy
Điển), người ta làm một khách sạn treo trên ngọn cây sồi cao 13 mét.
+ Tóm tắt bằng hai câu: tại Vát-te-rát (Thụy Điển), có một khách sạn treo trên
một cây sồi cao 13 mét dành cho những người thích nghỉ ở những chỗ khác lạ.
Giá phòng nghỉ khoảng hơn sáu triệu đồng, một người, một ngày.
đoạn ... Dạng bài tóm tắt tin tức cũng chưa thực tế và phù hợp với học sinh vùng
sâu.
Mặt khác, một số bài học kể chuyện trong phân môn Tập làm văn lớp 4 còn
có một số điểm chưa thực sự hợp lí, ví dụ trong bài " Luyện tập phát triển câu
chuyện " phần bài tập đã đưa ra những yêu cầu quá khó đối với học sinh, định
hướng phát triển câu chuyện còn mờ nhạt, hay ở bài " Luyện tập xây dựng đoạn
văn trong bài văn kể chuyện" chưa có câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu cốt truyện và
nghĩa của truyện. Điều này ảnh hưởng tới hoạt động dạy và học kiểu bài kể
chuyện.
Phân môn Tập làm văn là phân môn khó dạy so với các môn học khác, do
đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học ham chơi, khả năng tập trung chú
ý nhận thức các sự vật còn hạn chế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa thật phát
triển, nên việc học tập ở phân môn Tập làm văn gặp những khó khăn như : Thiếu
vốn sống, vốn hiểu biết về đối tượng cần miêu tả, kể chuyện…hoặc không biết
cách diễn đạt về đối tượng cần kể, cần tả.
IV. Hiệu quả đạt được
Sau thời gian thực hiện các “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy
học Tập làm văn lớp 4 ”, tôi đã nhận được những kết quả hơn cả sự mong đợi.
Tất cả các em đều đã nắm được cấu tạo các dạng bài tập văn kể chuyện, miêu tả.
Khi đã nắm vững cách viết một bài văn, các em tỏ ra yêu thích, luôn thi đua nhau
tìm tòi, sáng tạo hơn trong các bài viết.
Lớp học sinh động, vui vẻ, có nền nếp khi học tập làm văn. Các học sinh
chưa hoàn thành cũng đã viết được hoàn thành bài làm văn có đủ ba phần . Tuy
Trần Thị Thúy Vân / A Đào Hữu Cảnh
15
lời văn không bóng bẩy, mượt mà nhưng các em cũng đã có ý tưởng, dạn dĩ và tự
tin khi làm bài. Tất cả học sinh trong lớp đạt yêu cầu về hoàn thành bài viết văn.
TL
SL
TL
SL
TL
7
22,58%
24
77,42%
0
0
2. Những bài học kinh nghiệm.
- Vận dụng linh hoạt các phương hướng dạy học giúp học sinh hứng thú,
tranh luận sôi nổi trong giờ học.
- Tạo điều kiện cho học sinh trao đổi, học hỏi nhau qua các bài học.
- Giáo viên có sự đầu tư suy nghĩ trong từng kiểu bài Tập làm văn cụ thể,
điều chỉnh, bổ sung hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt hợp lý giúp học sinh đều
có thể làm bài được và làm bài tốt.
và câu, Kể chuyện. Bởi chúng có tác động trực tiếp đến Tập làm văn. Nó giúp
học sinh tích luỹ vốn từ, hiểu và vận dụng từ, vận dụng những câu văn, đoạn văn
hay của bài Tập đọc vào bài văn của các em. Mặt khác thông qua những bài văn
hay cần cho học sinh nhận xét việc sử dụng từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật, từ
đó giúp các em tích luỹ được vốn kiến thức văn học. Hay trong giờ Luyện từ và
câu tôi luôn khuyến khích, hướng dẫn học sinh tìm các từ hay (theo chủ đề), đặt
câu văn giàu hình ảnh, phân tích từ, so sánh câu. Môn Tập làm văn quả là khó
đối với học sinh. Bài Tập làm văn là một tác phẩm văn học của các em. Tác
phẩm này hay, dở còn phụ thuộc vào năng lực của mỗi em, kĩ năng giao tiếp,
điều kiện sống của gia đình. Với lòng nhiệt tình, ý thức trách nhiệm, lòng yêu
nghề, tôi đã khắc phục được khó khăn và giúp học sinh lớp tôi ngày càng yêu
thích môn Tập làm văn hơn và tôi thấy các em học văn thực sự có hiệu quả.
Trên đây là một số suy nghĩ tìm tòi của tôi trong quá trình dạy học sinh thực
hành Tập làm văn. Do không có nhiều thời gian nghiên cứu, và trình độ, kinh
nghiệm có hạn nên những vấn đề nêu trên không khỏi những sai sót rất mong
nhận được sự đóng góp để đề tài ngày một hoàn thiện hơn.
Trần Thị Thúy Vân / A Đào Hữu Cảnh
17
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến
Người viết sáng kiến
Trần Thị Thúy Vân
18