LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Đình Mạnh - TS.
Giảng viên chính tổ Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
-
người đã tần tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp em thực hiện tốt đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường, các cô giáo của trường
Mần non Ngô Quyền - Thành phố Vĩnh Yên đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ
em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Với điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc
chắn đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng
góp của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài này thực sự có chất lượng
và hữu ích.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2009 Sinh viên Trần Thị Mến
1
LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em
đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Đăng Mạnh, cùng với sự
giúp đỡ của quý thầy cô và sự đóng góp ý kiến của các bạn trong khoa Tiểu học.
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, em đã đọc những tài liệu tham khảo có liên
quan đến những vấn đề trong đề tài của mình. Em xin cam đoan những kết quả
trong khóa luận này là của riêng em. Kết quả nghiên cứu không trùng với bất cứ
một kết quả nào của những tác giả khác.
Hà Nội, tháng 04 năm 2009 Sinh viên Trần Thị Mến
2
nhi lên để tiến tới một chặng đường phát triển tương đối ổn định. Có thể coi đây
là một thời kỳ phát triển rực rỡ của những nét tâm lý đặc trưng cho tuổi mẫu giáo.
Từ trước đến nay ở một số nơi, việc phát triển tiếng mẹ đẻ ở nhà trẻ và
trường Mẫu giáo chưa được quan tâm đúng mực, đặc biệt là trong trò chơi đóng
vai theo chủ đề. Việc phát triển tiếng mẹ đẻ chậm trễ sẽ cản trở sự hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ thơ.
Vấn đề xây dựng nội dung và tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các
trường mầm non có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo
5
nhỡ. Trong khi đó, việc nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Việt Nam còn chưa có công trình
nghiên cứu cụ thể. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” là quan trọng và cần thiết.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Việc sử dụng trò chơi trong dạy học không phải là vấn đề mới được đặt ra
mà ngay từ đầu thế kỷ XX, nhà tâm lý học Thụy Sỹ J. Paget đã rất quan tâm đến
phương pháp này “thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập”.
Năm 1974, trong tạp chí văn học ở trường học Mat-xcơ-va số 2 (trang 53)
B.C. Giê-nhi-xkai-a đã cho rằng “chúng ta không những phải tạo cho trẻ thì giờ
để chơi mà còn phải làm cho toàn bộ cuộc sống của trẻ được nuôi dưỡng bằng trò
chơi”.
ớ Việt Nam cũng có nhiều tác giả quan tâm đến việc sử dụng phương pháp
này trong từng môn học cụ thể. Đó là PGS. TS Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn sách
6
qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
* Tìm hiểu nguyên nhân chủ quan và khách quan có ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ (đặc biệt là trò chơi đóng vai
theo chủ đề).
* Thực nghiệm tác động vào qua trình phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo
nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1.
Khách thể nghiên cứu
8
Trẻ mẫu giáo nhỡ trường Mầm non Ngô Quyền - Thành phố Vĩnh Yên.
4.2.
Đối tượng nghiên cứu
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai
theo chủ đề.
5. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
5.1.
Khách thể nghiên cứu
* 109 trẻ, lớp 4 tuổi A và 4 tuổi B trường Mầm non Ngô Quyền - Thành phố
Vĩnh Y ên.
5.2.
10
Trao đổi, tọa đàm với các cô giáo về đề tài nghiên cứu. Trò chuyện với trẻ,
hỏi trẻ một số câu hỏi nhằm làm rõ hơn vốn từ và khả năng diễn đạt của trẻ, chẳng
hạn, về cảm xúc, hứng thú của trẻ khi trẻ đóng vai.
7.3.
Phương pháp thực nghiệm tác động
Đề tài đã sử dụng phương pháp thực nghiệm tác động như sau:
Chia lớp nghiên cứu thành hai nhóm có số lượng trẻ và chất lượng ngôn ngữ
tương đương.
Nhóm thực nghiệm được tác động bằng nội dung trò chơi đóng vai theo chủ
đề và phương pháp to chức đặc biệt (xin xem thêm ở mục thực nghiệm tác động
trong phần nội dung khóa luận).
Nhóm đối chứng được dạy bằng nội dung và phương pháp to chức trò chơi
đóng vai theo chủ đề như ở trường Mầm non Ngô Quyền vẫn dạy.
Sau một thời gian thực nghiệm tác động xem sự phát triển ngôn ngữ ở nhóm
thực nghiệm và nhóm đối chứng có sự khác nhau không?
11
7.4.
Phương pháp trắc nghiệm
Khóa luận sử dụng phương pháp trắc nghiệm để đo vốn từ và khả năng sử
dụng cấu trúc ngữ pháp của trẻ (xin xem cụ thể ở phần nội dung khóa luận).
và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. Ngôn ngữ đồng
thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa - lịch
sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tùy theo hoàn cảnh lịch sử mà sự hình thành dân tộc và ngôn ngữ dân tộc
mỗi nơi, mỗi thời kỳ một khác, theo những con đường khác nhau. Mác và
Ăngghen đã viết: “Trong bất cứ ngôn ngữ phát triển nào hiện nay, cái nguyên
nhân khiến cho một ngôn ngữ phát sinh một cách tự phát, được nâng lên thành
ngôn ngữ dân tộc, thì một phần là do ngôn ngữ đó được phát triển một cách lịch
13
sử từ chỗ nó được chuẩn bị đầy đủ về tư liệu, như ngôn ngữ La Mã và ngôn ngữ
Giécmani chẳng hạn, một phần là do sự giao dịch và hỗn hợp của các dân tộc, như
tiếng Anh chẳng hạn; một phần nữa là do các phương ngữ tập trung thành ngôn
ngữ dân tộc thống nhất và sự tập trung đó lại do sự tập trung kinh tế, chính trị
quyết định”.
1.1.2.
Các bộ phận và các đơn vị của ngôn ngữ
a. Các bộ phận của ngôn ngữ
Ba bộ phận cấu thành của ngôn ngữ là từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp. Trong
kết cấu ngôn ngữ, từ vựng thuộc vào ngoại biên về nghĩa vì nó trực tiếp gọi tên
các sự vật, hiện tượng của thực tế; còn ngữ âm phụ thuộc vào ngoại biên về chất
liệu vì nó trực tiếp được tích lũy bởi giác quan con người. So với ngữ âm và từ
vựng thì ngữ pháp luôn luôn là gián tiếp, không có tính chất cụ
14
tên và chức năng ngữ nghĩa. Ví dụ các từ: Tủ, ghế, đi, cười.v.v..
* Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là chức năng
thông báo.
Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản.v.v..
bất cứ thứ tiếng (ngôn ngữ) nào, cũng chứa đựng hai phạm trù: Phạm trù ngữ
pháp và phạm trù logic. Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống các quy định việc
thành tập từ và câu cũng như quy định sự phát âm, phạm trù này ở các thứ tiếng
khác nhau là khác nhau. Phạm trù logic là quy luật, vì vậy tuy dùng các thứ tiếng
khác nhau, nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau.
16
Tóm lại, ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt, dùng làm phương tiện
giao tiếp và là công cụ tư duy.
1.1.3.
Chức năng của ngôn ngữ
a. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người
Không ai có thể phủ nhận ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người.
Ngay cả những bộ lạc lạc hậu nhất mà người ta mới phát hiện ra cũng dùng ngôn
ngữ để nói chuyện với nhau. Ngoài ngôn ngữ, con người còn có những phương
tiện giao tiếp khác như cử chỉ, các loại dấu hiệu, ký hiệu khác nhau (ký hiệu toán
học, đèn tín hiệu giao thông.v.v..), những kết hợp âm thanh của âm nhạc, những
kết hợp màu sắc của hội họa.v.v.. nhưng ngôn ngữ là phương tiện trọng yếu nhất
của con người.
Chính nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh
hoạt và lao động, mà người ta có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư
a. Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức
Quá trình hình thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để phát
triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là hiện thực (sự hiện hữu)
của tư duy.
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi: Đây là những hoạt động chủ
yếu của trường mầm non. Giống như việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác,
phát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu “kép”. Đó là, trẻ
học để biết tiếng mẹ đẻ đồng thời sử dụng nó như một công cụ để vui chơi, học
19
tập. Như vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt động
tạo cho ngôn ngữ trẻ phát triển.
b. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
“Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là một đặc
trưng quan trọng của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất” (Lênin). Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau
hành động vì những mục đích chung. Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp
được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu ớt rất cần
đến sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn.
Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng
của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển. Giáo dục
trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt
động hình thành nhân cách trẻ.
1.2.
Sự hình thành, phát triển ngôn ngữ của cá nhân
20
.3. Trẻ mâu giáo
1.3.1.
Khái niệm trẻ em
Theo quan niệm cổ: “Trẻ em là người lớn thu nhỏ lại”.
ớ thể kỷ XVIII, nhà giáo dục, nhà văn, nhà triết học J.J. Kơrutxô quan niệm:
“Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại. Trẻ em là trẻ em, phát triển theo quy
luật riêng của trẻ em. Người lớn không thể hiểu được tâm lý trẻ em và không nên
can thiệp vào sự phát triển của trẻ em”.
Quan niệm khoa học về trẻ em:
Trẻ em là một thực thể đang phát triển, là một thực thể tự vận động theo quy
luật của bản thân nó. Người lớn là hình thức phủ định của trẻ em, là giai đoạn
phát triển mới của đời sống cá thể. Sự vận động tất yếu của trẻ em do quá trình
22
phát triển bên trong của nó, sự tự phủ định bản thân mình để chuyển hóa sang một
trình độ mới khác về chất - trở thành người lớn - Nên Người.
1.3.2.
Sự phát triển vốn từ của trẻ
Năng lực tư duy trừu tượng gắn liền với sự phát triển vốn từ. Được biết rằng
từ 5 đến 9 tuổi vùng trán trên vỏ đại não đã tham gia tích cực vào sự phát triển lời
nói, chữ viết. Vốn từ của trẻ được phát triển thuận lợi. Từ 1,5 tuổi trở đi trẻ đã
biết mở rộng phạm vi áp dụng vốn từ của mình vào những đối tượng khác.
Theo một nghiên cứu của Lưu Thị Lan (1994) sự phát triển vốn từ của trẻ
mẫu giáo ở nước ta như sau:
Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo nhỡ
Để xử lý tình huống xảy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ là cả một
nghệ thuật, nhất là khi trẻ em còn ở độ tuổi thơ dại. Chính vì vậy để vận dụng khả
năng sư phạm của mình trong việc giải quyết tốt các tình huống xảy ra giáo viên ở
các trường mẫu giáo ngoài tình yêu nghề, yêu trẻ; tinh thần trách nhiệm cao, sự
cần mẫn, kiên trì còn cần phải có sự hiểu biết nhất định về đặc điểm tâm lý của
trẻ.
24
Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ đặc điểm đầu tiên là đặc điểm về hoạt động vui
chơi. ớ độ tuổi nào con người cũng đều tham gia vào hoạt động vui chơi, nhưng
chỉ ở tuổi mẫu giáo mà ở chính giữa cái tuổi ấy (tức là tuổi mẫu giáo nhỡ) thì hoạt
động vui chơi mới mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất, cũng tức là nó đạt tới dạng
chính thức và biệu hiện đầy đủ nhất đặc điểm của hoạt động vui chơi, nhiều hơn
cả là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Do đã có ít nhiều vốn kinh nghiệm về cuộc
sống nên trẻ mẫu giáo nhỡ đã có thể tự lựa chọn chủ đề và nội dung chơi cũng
như cần có bạn chơi “tâm đầu ý hợp” để vui chơi bền hơn, vui hơn.
Đặc điểm thứ hai của trẻ mẫu giáo nhỡ là sự phát triển mạnh tư duy trực
quan hình tượng và có khả năng suy luận.
Tiếp theo là sự phát triển đời sống tình cảm. Trong lứa tuổi ấu nhi cũng như
lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm lý của
trẻ; nhưng đặc biệt ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ thì đời sống tình cảm của trẻ có một
25