ĐỀ tài HỨNG THÚ học tập môn GIÁO dục THỂ CHẤT của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học QUẢNG NAM (2) - Pdf 41

1

MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại đã đặt ra những yêu cầu
rất lớn về nguồn nhân lực. Con người hiện đại xã hội cần không chỉ là người có tri
thức, có trình độ khoa học, tay nghề cao, mà còn phải có sức khỏe, thể lực tốt. Chính
vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng nói chung và giáo dục thể chất cho học
sinh, sinh viên nói riêng là vấn đề cấp bách đang được đặt ra trong giai đoạn hiện nay.
Sự phát triển hài hòa, toàn diện giữa thể chất và tinh thần là tư tưởng đã xuất
hiện trong kho tàng trí tuệ tiên tiến từ nhiều thế kỷ trước đây. Bác Hồ kính yêu của
chúng ta khi sinh thành cũng rất chú trọng đến việc rèn luyện thân thể. Trong Lời kêu
gọi toàn dân tập thể dục Bác có viết “giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời
sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu
ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ là cả nước mạnh khoẻ”. Bác
nhấn mạnh muốn có sức khỏe tốt “cần phải rèn luyện thể dục” và đó cũng là “bổn
phận của mỗi người dân yêu nước”. Chính vì vậy, giáo dục thể chất là một trong mục
tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, là một môn học trong chương trình
đào tạo ở bậc Đại học với mục đích góp phần tạo nên sự phát triển hài hòa toàn diện
cho sinh viên không chỉ về trí tuệ mà cả về sức khỏe, ý chí…
Hứng thú học tập giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả của các quá trình học tập, nhờ hứng thú mà trong quá trình học tập sinh viên có


2

thể giảm mệt mỏi, căng thẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy tính tích cực tìm tòi, sáng tạo.
Việc hình thành hứng thú học tập cho sinh viên, đặc biệt là hứng thú học tập môn Giáo


3

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề.
- Điều tra, phân tích thực trạng và nguyên nhân thực trạng hứng thú học tập môn Giáo
dục thể chất của sinh viên trường Đại học Quảng Nam.
- Đề xuất những biện pháp tác động cần thiết để hình thành và nâng cao hứng thú học
tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Quảng Nam.
5. Giả thuyết khoa học
Đa số sinh viên trường Đại học Quảng Nam chưa có hứng thú hoặc có hứng thú
thấp đối với việc học tập môn Giáo dục thể chất. Có sự khác nhau về hứng thú học tập
môn Giáo dục thể chất giữa sinh viên năm 1 và sinh viên năm 2, giữa sinh viên nam và
sinh viên nữ.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trò chuyện
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
+ Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học


4


5

NỘI DUNG



6

được sự bất ổn định và lẫn lộn của khái niệm này, do vậy họ hầu như muốn lảng tránh
khái niệm “hứng thú”.
- B. M.Chieplôp đã coi hứng thú là xu hướng ưu tiên chú ý vào một khách thể nào
đó. Những người khác lại gắn hứng thú với cảm xúc, thái độ (V.A.Miaxisep) với định
hướng của cá nhân (A.G.Côvaliôp, G.I.Sukina).
* Thứ hai, nghiên cứu sâu về hứng thú nhận thức, có các tác giả như:
- Năm 1966, I.V.Lepkôp đã có công trình nghiên cứu về vấn đề “Sự hình thành hứng
thú nhận thức cho học sinh trong quá trình công tác nghiên cứu địa phương”.
- Năm 1971, G.I.Sukina với công trình nghiên cứu về “Vấn đề hứng thú nhận
thức trong khoa học giáo dục”. Tác giả đã đưa ra khái niệm về hứng thú nhận thức
cùng với những biểu hiện của nó, đồng thời nêu ra nguồn gốc cơ bản của hứng thú
nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động học tập.
- Năm 1976, N.G.Marôzôva đã nghiên cứu vấn đề: “Tác dụng của việc giảng
dạy nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của học sinh”. Tác giả đưa ra cấu trúc tâm
lý của hứng thú, đồng thời còn phân tích những điều kiện và khả năng giáo dục hứng
thú trong quá trình học tập và lao động của học sinh cũng như tác dụng của việc giảng
dạy nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của học sinh.
- Những công trình của A.G.Côvaliôp, A.V.Daparôgiet...đã góp phần quan
trọng trong nghiên cứu hứng thú nói chung, hứng thú nhận thức nói riêng.
* Thứ ba, nghiên cứu về hứng thú học tập các môn học của học sinh
- Các nhà nghiên cứu như K.Đ.Usinxky, A.I.Ghecxen, V.G.Bêlinxky,
N.G.Secnưsepxky, N.A.Đapraliulôp luôn luôn thấy được ảnh hưởng lớn lao của hứng
thú tới chất lượng học tập, mà việc lĩnh hội tri thức tồi lại có quan hệ trực tiếp với tình
trạng không có hứng thú học tập và người giáo viên không khơi dậy được hứng thú đó.
- Năm 1955, công trình nghiên cứu của A.Packhudôp về vấn đề “Sự phụ thuộc
giữa tri thức của học sinh và hứng thú học tập”.

học trong những năm gần đây. Ông cho rằng: ”Tất cả những trò chơi có tính toán học
đều tốt cho việc tạo hứng thú học Toán ở trẻ em”. Sudoku cũng có mối quan tâm như
trên và ông tin rằng nếu biết cách giảng dạy, những khó khăn sẽ có thể kích thích
những người trẻ tuổi càng hứng thú hơn khám phá đối tượng.
- Năm 2006, các tác giả Sandstrom Kjellin, Margareta, Granlund, Mats đã
nghiên cứu nhiều trường hợp những đứa trẻ khác nhau gặp khó khăn trong việc đọc và
viết nhằm phát hiện đặc tính về mức độ của sự hấp dẫn qua những hoạt động trong
lớp. Mục đích của nghiên cứu nhằm tìm ra sự giống nhau giữa “việc dạy đọc và viết
một cách có hiệu quả”, qua đó cũng thấy được sự thể hiện của hứng thú và sự quan sát
của những đứa trẻ, cũng như trình độ hiểu biết của chúng trong từng bản chất khác
nhau của các hoạt động trên lớp.


8

Điểm qua một số công trình nghiên cứu trên, chứng tỏ các nhà tâm lý học ở các
nước đã rất quan tâm nghiên cứu những vấn đề lý luận của hứng thú cũng như việc áp
dụng chúng vào thực tiễn hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trường để phát
triển hứng thú nhận thức của học sinh, sinh viên.
b. Nghiên cứu về hứng thú ở Việt Nam
Các vấn đề về hứng thú nói chung và đặc biệt là hứng thú học tập cũng được
nghiên cứu rất sôi nổi ở Việt Nam từ trước đến nay như:
- Năm 1973, Phạm Tất Dong đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ ở Liên Xô
với đề tài “Một số đặc điểm hứng thú nghề của học sinh lớn và nhiệm vụ hướng nghiệp”.
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định sự khác biệt về hứng thú học tập giữa nam và nữ, hứng
thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng phát triển nghề của xã hội, công tác hướng
nghiệp ở trường phổ thông không được thực hiện nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi.
Hứng thú học tập các bộ môn của học sinh là cơ sở để đề ra nhiệm vụ hướng nghiệp một
cách khoa học.
- Năm 1977, Phạm Ngọc Quỳnh với đề tài “Hứng thú với môn văn của học sinh cấp

hứng thú đối với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên tại trường của sinh
viên khoa Tâm lý giáo dục”. Tác giả đã đưa ra những nguyên nhân gây hứng thú là do ý
nghĩa của môn học, trình độ của học sinh, phương pháp giảng dạy của giảng viên.
- Năm 1988, Vũ Thị Nho với đề tài “Tìm hiểu hứng thú với năng lực học văn của
học sinh lớp 6”. Đề tài đã tiến hành thực nghiệm để nghiên cứu bước đầu về hứng thú, năng
lực học văn của các em học sinh lớp 6.
- Năm 1990, Imkock trong luận án Phó Tiến sĩ nhan đề “Tìm hiểu hứng thú đối với
môn toán của học sinh lớp 8”. Tác giả kết luận: Khi có hứng thú học sinh dường như cũng
tham gia vào tiến trình bài giảng, cũng đi theo những suy luận của giảng viên nhờ quá trình
nhận thức tích cực.
- Năm1994, Hoàng Hồng Liên có đề tài “Bước đầu nghiên cứu những con đường
nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông”. Tác giả kết luận dạy học trực quan là biện
pháp tốt nhất để tác động đến hứng thú của học sinh.
- Năm 1996, Đào Thị Oanh đã nghiên cứu về “Hứng thú học tập và sự thích nghi
với cuộc sống nhà trường của học sinh tiểu học”.
- Năm 1998, Phạm Thị Thắng “Nghiên cứu sự quan tâm của cha mẹ đến việc duy
trì hứng thú học tập cho các em thanh thiếu niên”.
- Năm 1999, Nguyễn Hoài Thu nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học môn
ngoại ngữ của học sinh Phổ thông trung học Hà Nội”.
- Năm 1999, Lê Thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng hứng thú học tập các môn lý
luận của sinh viên Trường Đại Học Thể dục thể thao I”. Trong đó phương pháp, năng lực


10

chuyên môn của giảng viên là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học tập của sinh
viên.
- Năm 2000, Trần Công Khanh đã đi sâu nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạng hứng thú
học môn toán của học sinh trung học cơ sở thị xã Tân An”. Kết quả cho thấy đa số học sinh
trong diện điều tra chưa có hứng thú học toán.

trung tâm phát triển kĩ năng con người Tâm Việt”...
1.1.2. Các nghiên cứu về việc học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên
Nghiên cứu khoa học Giáo dục thể chất từ lâu đã được xem như là một nhiệm
vụ quan trọng trong chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như của các nhà trường,
tuy nhiên số lượng các đề tài nghiên cứu còn rất hạn chế. Sau đây là một số đề tài
nghiên cứu và các bài viết về việc học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên.
- Mai Văn Hải, trong nghiên cứu “Tìm hiểu hứng thú học tập môn giáo dục thể
chất của sinh viên trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà
Nội” đã tìm hiểu thực trạng hứng thú học môn giáo dục thể chất của sinh viên trường
Đại học khoa học xã hội và nhân văn và chỉ ra rằng đa phần sinh viên đã nhận thức
đúng được vai trò, mục đích, chương trình giảng dạy của môn học Giáo dục thể chất.
Tuy nhiên, xúc cảm của sinh viên với môn học này lại không tốt và sinh viên chưa
chăm chỉ, thường xuyên học tập môn học này.
- Trần Xuân Thủy có bài viết về “Giáo dục thể chất bậc đại học ở Việt Nam”.
Trần Xuân Đông với đề tài “Tìm hiểu hứng thú học tập môn Giáo dục thể chất của
sinh viên trường Trung học cơ sở Tây Trạch – Bố Trạch”.
- Nguyễn Thị Hạnh, trong bài viết “Vai trò của Giáo dục thể chất trong trường
học hiện nay” đã khẳng định vai trò quan trọng của Giáo dục thể chất đối với học sinh,
sinh viên.
- Th.s Nguyễn Hồ Phong, “Nghiên cứu hiệu quả sử dụng đội ngũ cán sự thể
dục đối với việc nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học
Nha Trang”, đã khẳng định giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng là
một bộ phận quan trọng của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt giáo
dục toàn diện cho thế hệ trẻ.
- Tác giả Trọng Khang, trong bài viết “Giáo dục thể chất, có đủ thể chất? ”, đã
nêu những bất cập trong chương trình giáo dục thể chất của bậc Đại học và Cao Đẳng
trong nền giáo dục nước ta. Giáo dục thể chất trong nhà trường hiện nay có hạn chế là
chương trình quá cứng nhắc, nhiều trường không đủ khả năng thực hiện do thiếu cơ sở
vật chất. Do giảng viên được đào tạo quá chuyên sâu về một môn nên khó dạy tốt các
nội dung khác trong chương trình môn Giáo dục thể chất...

định.
- Theo D.Super hứng thú không phải là thiên hướng, không phải là nét tính
cách của cá nhân nó là một cái gì khác, riêng rẽ với thiên hướng, riêng rẽ với tính
cách, riêng rẽ với cá nhân. Như vậy, hứng thú được coi như một thuộc tính tâm lý có
tính độc lập tương đối của nhân cách, nó có bản chất riêng.


13

- Klapalet nghiên cứu thực nghiệm và đi đến kết luận hứng thú là dấu hiệu của
nhu cầu bản năng khát vọng đòi hỏi cần được thỏa mãn của cá nhân.
- Một số tác giả như: Baram – Tsabari, Sethi, Ricky J, Bry, Lynn’ Yarden,
Anat cho rằng: Hứng thú là động cơ thúc đẩy năng lực của con người.
Nhìn chung các nhà tâm lý học đề cập ở trên đều có quan điểm hoặc là duy tâm
hoặc là phiến diện siêu hình về hứng thú. Các nhà tâm lý học nêu trên thiên về việc coi
hứng thú là thuộc tính có sẵn của con người gắn liền với cơ sở sinh học, quá trình lớn
lên của cá nhân cũng là quá trình bộc lộ dần thiên hướng, hứng thú của họ. Tác hại của
các quan điểm này là nó phủ nhận vai trò của giáo dục và tính tích cực của cá nhân
trong sự hình thành và phát triển của hứng thú.
* Khác với quan điểm các nhà tâm lý học trên, các nhà tâm lý học Mác-xit xem
xét hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng. Coi hứng thú không phải là cái trừu
tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân
cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở con người. Thái
độ đó xuất hiện là do kết quả của sự ảnh hưởng qua lại giữa điều kiện sống và hoạt
động của mỗi cá nhân. Chính vì vậy mà nguyên nhân gây ra hứng thú rất đa dạng
khiến cho khái niệm hứng thú có nhiều cách giải thích khác nhau đối với các tác giả
khác nhau:
- Hứng thú xét theo khía cạnh nhận thức:
+ Trong đó có V.N.Miasixep, V.G.Ivanôp, A.GAckhipop coi hứng thú là thái
độ nhận thức tích cực của cá nhân với những đối tượng trong hiện thực khách quan.

xúc cảm khác nhau.
+ Sbinle giải thích hứng thú là tính nhạy cảm đặc biệt của xúc cảm.
- Một số quan điểm khác như:
+ Trong cuốn “Tâm lý học cá nhân”, A.G.Côvaliốp coi hứng thú là sự định
hướng của cá nhân vào một đối tượng nhất định, tác giả đã đưa ra một khái niệm được
xem là khá hoàn chỉnh về hứng thú “Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối
với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong cuộc sống và sự hấp dẫn về mặt tình
cảm của nó”.
+ L.A.Gôđơn coi hứng thú là sự kết hợp độc đáo của các quá trình tình cảm, ý
chí, trí tuệ, làm cho tính tích cực của hoạt động con người nói chung được nâng cao.
+ Nhà tâm lý học người Đức A.Kossakowski coi hứng thú hướng tích cực tâm
lý vào những đối tượng nhất định với mục đích nhận thức chúng tiếp thu những tri
thức và nắm vững những hành động phù hợp. Hứng thú biểu hiện mối quan hệ tới tính


15

lựa chọn đối với môi trường và kích thích con người quan tâm tới những đối tượng,
những tình huống hành động quan trọng có ý nghĩa đối với mình.
Tóm lại các nhà tâm lý học Macxit đã nghiên cứu hứng thú theo quan điểm duy
vật biện chứng đã chỉ ra tính chất phức tạp của hứng thú, xem xét hứng thú trong mối
tương quan với các thuộc tính khác của nhân cách (nhu cầu, xúc cảm, ý chí, trí tuệ …).
* Một số quan niệm về hứng thú của Việt Nam:
- Tiêu biểu là nhóm tác giả: Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy
cho rằng: Khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức,
ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm
đặc biệt đối với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó
tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó.
- Nguyễn Quang Uẩn trong tâm lý học đại cương đã cho ra đời một khái niệm
tương đối thống nhất: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào

đó tích cực hóa hoạt động của con người theo hướng phù hợp với hứng thú của nó dù
phải vượt qua muôn ngàn khó khăn người ta vẫn thấy thoải mái và thu được hiệu quả
cao…
* Tâm lý học hiện đại có khuynh hướng nghiên cứu hứng thú trong mối quan hệ
với toàn bộ cấu trúc tâm lý của cá nhân. Sau này, nhiều nhà tâm lý học đã đưa ra định
nghĩa tương đối hoàn chỉnh về hứng thú: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của
cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng
đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”. Ở đây, hứng thú thể hiện
mối quan hệ giữa chủ thể với thế giới khách quan, giữa đối tượng với nhu cầu, xúc
cảm, tình cảm của chủ thể hoạt động…Đây cũng là khái niệm chúng tôi sử dụng trong
đề tài này.
b. Cấu trúc hứng thú
Phân tích cấu trúc của hứng thú, tiến sĩ tâm lý học N.G.Mavôzôva đã dựa vào 3
biểu hiện để đưa ra quan niệm của mình về cấu trúc của hứng thú:
+ Cá nhân hiểu rõ được đối tượng đã gây ra hứng thú.
+ Có cảm xúc dương tính sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú.
+ Cá nhân tiến hành những hành động tích cực để vươn tới chiếm lĩnh đối
tượng đó.
Vậy theo ông thì hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm, tình cảm
thực sự với đối tượng mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức
đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích
thích hứng thú, những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động


17

chỉ có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất
hứng thú.
Những năm gần đây, có nhiều nhà tâm lý học đã nghiêng về cách giải thích cấu
trúc hứng thú, tán thành với sự phân tích của ông. Một số tác giả thấy rằng hứng thú

+ Khuynh hướng lựa chọn các quá trình tâm lý con người nhằm vào đối tượng
và hiện tượng của thế giới xung quanh.


19

+ Nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân muốn tìm hiểu một lĩnh vực, hiện tượng
cụ thể, một hoạt động xác định mang lại sự thỏa mãn cho cá nhân.
+ Nguồn kích thích mạnh mẽ, tính tích cực cho cá nhân, do ảnh hưởng của
nguồn kích thích này, mà tất cả các quá trình diễn ra khẩn trương, còn hoạt động trở
nên say mê và đem lại hiệu quả cao.
+ Thái độ đặc biệt (không thờ ơ, không bàng quan mà tràn đầy những ý định
tích cực, một cảm xúc trong sáng, một ý trí tập trung đối với các đối tượng, hiện
tượng, quá trình ...)
- Theo tiến sĩ tâm lý học N.G.Mavôzôva và nhiều nhà tâm lý khác, hứng thú
biểu hiện ở 3 mặt nhận thức – xúc cảm – hành động.
Dựa vào việc chọn lựa việc phân chia các thành phần của hứng thú, trong đề tài
này theo chúng tôi biểu hiện của hứng thú cũng thể hiện ở ba mặt trên: đó là sự nhận
thức đúng, đầy đủ về đối tượng; xúc cảm tích cực đối với đối tượng và cuối cùng là
những hành động tích cực xoay quanh đối tượng đó nhằm chiếm lĩnh nó.
d. Mức độ của hứng thú
Về mức độ của hứng thú, có một số quan điểm sau:
- Hứng thú biểu hiện ở 2 mức độ của nó:
+ Mức độ 1: Chủ thể mới dừng lại ở việc nhận thức về đối tượng. Chưa có xúc
cảm tình cảm với đối tượng đó, chưa tiến hành hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó.
+ Mức độ 2: Đối tượng hứng thú thúc đẩy chủ thể hoạt động.
- Theo TS. Nguyễn Thị Thu Cúc, khi nghiên cứu hứng thú học tập bà đã đưa ra
các mức độ của hứng thú học tập như sau:
+ Mức độ 1: Những học sinh chưa có hứng thú học tập đối với môn học.
+ Mức độ 2: Những học sinh có hứng thú gián tiếp đối với môn học.

hấp thụ.
+ Hứng thú tích cực: Không chỉ chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú, mà
lao vào hoạt động với mục đích chiếm lĩnh được đối tượng. Nó là một trong những
nguồn kích thích sự phát triển nhân cách, hình thành kỹ năng kỹ xảo, nguồn gốc của
sự sáng tạo.
- Căn cứ vào nội dung đối tượng, nội dung hoạt động: Chia ra làm 5 loại:
+ Hứng thú vật chất: Là loại hứng thú biểu hiện thành nguyện vọng như muốn
có chỗ ở đầy đủ, tiện nghi, ăn ngon, mặc đẹp...


21

+ Hứng thú nhận thức: Ta có thể hiểu hứng thú dưới hình thức học tập như:
hứng thú vật lý học, hứng thú triết học, hứng thú tâm lý học...
+ Hứng thú lao động nghề nghiệp: Hứng thú một ngành nghề cụ thể: hứng thú
nghề sư phạm, nghề bác sĩ...
+ Hứng thú xã hội – chính trị: Hứng thú một lĩnh vực hoạt động chính trị.
+ Hứng thú mĩ thuật: Hứng thú về cái hay, cái đẹp như văn học, phim ảnh, âm
nhạc...
- Căn cứ vào khối lượng của hứng thú: Chia ra 2 loại:
+ Hứng thú rộng: Hứng thú bao quát nhiều lĩnh vực, nhiều mặt thường không
sâu.
+ Hứng thú hẹp: Hứng thú với từng mặt, từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể.
Trong cuộc sống cá nhân đòi hỏi có hứng thú rộng - hẹp, vì chỉ có hứng thú hẹp
mà không có hứng thú rộng thì nhân cách của họ sẽ không toàn diện, song chỉ có hứng
thú rộng thì sự phát triển nhân cách cá nhân sẽ hời hợt thiếu sự sâu sắc.
- Căn cứ vào tính bền vững: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú bền vững: Thường gắn liền với năng lực cao và sự nhận thức sâu
sắc nghĩa vụ và thiên hướng của mình.
+ Hứng thú không bền vững: Hứng thú thường bắt nguồn từ nhận thức hời hợt

trước mắt, như muốn ăn một món gì, có những hứng thú gián tiếp phải thông qua một
hoạt động khác, thường không thú vị mới thỏa mãn, như học toán để cuối năm thi đỗ.
Hứng thú gây chú ý và làm cho chủ thể cố gắng hành động”. Như vậy, Nguyễn Khắc
Viện coi hứng thú có bản chất như nhu cầu, là biểu hiện của nhu cầu: Dù “không thú vị”
học toán nhưng vì cần thiết để “cuối năm thi đỗ” nên vẫn nỗ lực và khi đỗ mới cảm thấy
“thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú”.
Đa số các nhà tâm lý học cho rằng: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người
thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”. Trong nhu cầu của con người luôn có
sự thống nhất giữa yếu tố khách quan và chủ quan. Khi con người đứng trước một nhu
cầu khách quan nào đó, trước khi nó trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực của
mình thì nó phải được phản ánh vào đầu óc con người, phải được con người ý thức về
nó. Một khi nhu cầu đã được con người phản ánh và ý thức sẽ trở thành một thuộc tính
chủ quan, một thái độ của nhân cách; nó có xu hướng điều chỉnh hành vi và hoạt động,
xác định hướng tư duy, tình cảm và ý chí của người đó.
Giữa hứng thú và nhu cầu có mối quan hệ qua lại với nhau. Trước hết nhu cầu
có thể không cần yếu tố hấp dẫn nhưng hứng thú phải luôn gắn liền với yếu tố hấp
dẫn. Đối tượng để thỏa mãn nhu cầu có thể cụ thể hoặc trừu tượng, trái lại đối tượng
của hứng thú phải cụ thể rõ ràng. Nhưng giữa hứng thú và nhu cầu có liên quan chặt


23

chẽ với nhau. Nhiều khi hứng thú nảy sinh trên cơ sở của một nhu cầu, ngược lại nhiều
hứng thú có thể tạo ra nhu cầu của cá nhân về đối tượng mà nó say mê.
Tác giả Hoàng Trần Doãn trong nghiên cứu về nhu cầu đã nêu lên mối quan hệ
giữa nhu cầu và hứng thú như sau: Quá trình hoạt động để tồn tại và phát triển của con
người trong xã hội thì nhu cầu xuất hiện như một tất yếu. Khi chủ thể có nhu cầu ý
thức được nó thì bản thân nhu cầu đó sẽ trở thành động cơ thúc đẩy chủ thể hoạt động
để thỏa mãn nhu cầu của mình. Việc thỏa mãn này mang lại lợi ích (lợi ích vật chất
hoặc lợi ích tinh thần) cho họ và tạo ra những hứng thú. Vậy là tồn tại mối quan hệ

Thị hiếu trở thành đối tượng được nghiên cứu như một khái niệm căn bản gắn
liền với sự tiêu dùng của cá nhân và xã hội cũng như đặc điểm thỏa mãn nhu cầu
thưởng thức văn hóa, nghệ thuật của chủ thể.
Sở thích và thị hiếu cũng là biểu hiện của hứng thú về những khía cạnh độc đáo,
riêng biệt, đặc thù thường gắn với tiêu dùng, còn hứng thú gắn với hoạt động của cá
nhân nhiều hơn.
* Hứng thú và tình cảm
Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn định của con người đối với những sự vật,
hiện tượng của hiện thực khách quan, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ với
nhu cầu và động cơ của họ. Tình cảm là sản phẩm cao cấp của sự phát triển các quá trình
xúc cảm trong những điều kiện xã hội.
Giữa hứng thú với xúc cảm- tình cảm có quan hệ chặt chẽ. Thái độ của xúc cảm
- tình cảm đối với đối tượng là dấu hiệu không thể thiếu được đối với hứng thú. Nhưng
hứng thú không phải là xúc cảm - tình cảm. Xúc cảm - tình cảm có thể biểu hiện âm
tính hay dương tính gắn liền với việc đối tượng có thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu
cầu của chủ thể. Hứng thú gắn liền với sự nhận thức ý nghĩa, giá trị của đối tượng và
sự say mê hoạt động hướng về đối tượng để điều chỉnh, khám phá, sáng tạo,...
* Hứng thú và tính tò mò, tính ham hiểu biết
Hứng thú có liên quan chặt chẽ với các hiện tượng gần với nó như tính tò mò,
tính ham hiểu biết...nhưng hứng thú không đồng nhất với các hiện tượng đó.
Tính tò mò là sự chú ý mạnh mẽ vào yếu tố bất ngờ, cái thay đổi, cái mới xuất
hiện ở môi trường bên ngoài. Sự chú ý này có thể kéo dài và đầy xúc cảm nhưng chỉ
xuất phát từ khía cạnh bên ngoài mà không đi vào bản chất của đối tượng. Tính ham
hiểu biết gần gũi với hứng thú nhưng nó không tập trung vào một đối tượng hoặc một
hoạt động nhất định mà nó bị khuyếch tán. Một đứa trẻ ham hiểu biết thường không có
hứng thú sâu sắc với một đối tượng, nhưng lại hứng thú với mọi thứ xung quanh.
Nhiều nghiên cứu về hứng thú đã khẳng định trong quá trình phát triển hứng thú ở cá
thể, tính tò mò là biểu hiện đầu tiên của hứng thú, kế đó tính ham hiểu biết mới xuất



học tập ở học sinh. Kết quả học tập của người học không chỉ tùy thuộc vào những đặc
điểm về mặt trí tuệ của cá nhân, mà còn tùy thuộc cả vào thái độ học tập, hứng thú nhận
thức của các em. Thực tiễn đã cho thấy ở từng học sinh cụ thể, kết quả học tập các môn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status