VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số
: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tư liệu
và kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 15 tháng 02 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nga
1.3. Quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học ..........25
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC
THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI .................................35
2.1. Khái quát chung về Đại học quốc gia Hà Nội và Trung tâm giáo dục thể chất và
thể thao ......................................................................................................................35
2.2. Thực trạng hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học quốc
gia Hà Nội………………………………………………………………………….38
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại
học quốc gia Hà Nội ..................................................................................................48
2.4. Đánh giá chung về quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh
viên Đại học quốc gia Hà Nội ...................................................................................55
Chương 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC
THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ............................61
3.1. Những nguyên tắc đề xuất biện pháp .................................................................61
3.2. Biện pháp quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất tại Đại học quốc
gia Hà Nội .................................................................................................................62
3.3. Mối liên hệ giữa các biện pháp ..........................................................................68
3.4. Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất ........70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ...........................................................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................76
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt
Cụm từ viết tắt
BP
Biện pháp
Nội dung
RLTT
Rèn luyện thân thể
TBC
Trung bình cộng
TDTT
Thể dục thể thao
SV
Sinh viên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thực trạng nhận thức của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội về tầm
quan trọng của môn học giáo dục thể chất ................................................................38
Bảng 2.2: Thực trạng động cơ học tập môn học giáo dục thể chất của sinh viên Đại
học quốc gia Hà Nội ..................................................................................................39
Bảng 2.3: Thực trạng chương trình đào tạo môn học giáo dục thể chất hiện nay của
Đại học quốc gia Hà Nội ...........................................................................................40
Bảng 2.4: Thực trạng thực hiện hoạt động học tập môn giáo dục thể chất củasinh
viên Đại học quốc gia Hà Nội ...................................................................................42
Bảng 2.5: Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn học giáo
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia phát triển. Nghị
quyết Trung ương II khóa VIII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định
“Muốn tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển giáo dục
và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và
bền vững…” [18, tr.50].
Đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, kể từ khi mới giành độc lập cho đến
nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ
về các mặt: Đức - Trí - Thể - Mỹ, với mục đích là đào tạo ra những người chủ tương
lai của đất nước không những phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức lối sống,
mà còn phải cường tráng về thể chất tinh thần. Điều đó được thể hiện thông qua các
nghị quyết, nghị định, chỉ thị của Đảng và chính phủ về công tác giáo dục thể chất
trong nhà trường. Cụ thể như: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và
Chỉ thị 133/TTg ngày 7/3/1995 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ sự cần thiết phải
chú trọng cải tiến nội dung, phương pháp nhằm đưa vào nề nếp, phát triển thể lực
góp phần nâng cao chất lượng GDTC trong nhà trường các cấp, xây dựng quy
hoạch phát triển và kế hoạch đổi mới công tác GDTC và thể thao học đường từ nay
tới năm 2025. Trong giai đoạn mới, sự nghiệp thể dục thể thao (TDTT) cần được
tiếp tục phát triển và phương hướng, nhiệm vụ đã được Đại hội IX của Đảng xác
định qua Chỉ thị số 17-CT/TW là: " Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng
và tầm vóc của người Việt Nam [2];Chỉ thị 36/CT/TW Ban bí thư có nói rõ về hoạt
động GDTC cũng như việc thực hiện GDTC trong tất cả các trường học. Làm cho
việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên
[3].
Công tác GDTC trong nhà trường là một trong những vấn đề được Đảng,
Nhà nước và các cấp lãnh đạo hết sức quan tâm.GDTC trong các trường đại học là
một bộ phận quan trọng của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt giáo
dục toàn diện cho thế hệ trẻ, tạo ra lớp người trí thức mới, có năng lực, có phẩm
1
2
phương pháp đào tạo, nghiên cứu khoa học tiên tiến; có đội ngũ cán bộ giảng dạy,
nghiên cứu trình độ cao; có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp và đồng bộ [14].
Công tác giáo dục thể chất là một trong những nội dung được Ban lãnh đạo
ĐHQGHN đặc biệt quan tâm và có những định hướng chỉ đạo cụ thể trong từng giai
đoạn với mục đích đào tạo ra những thế hệ sinh viên thực sự khỏe về thể chất, trong
sáng về tinh thần.
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động GDTC trong và ngoài ĐHQGHN
như: Nghiên cứu xây dựng bài tập nâng cao các tố chất thể lực cho sinh viên;
Nghiên cứu về các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý môn học GDTC; Nghiên
cứu quản lý hoạt động đánh giá giảng viên GDTC...Tuy nhiên chưa có tác giả nào
đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động học tập môn học GDTC của sinh
viên mà chỉ được lồng ghép trong một số đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động dạy
học GDTC.
Xuất phát từ thực tế công tác nghiên cứu khoa học còn bỏ ngỏ lĩnh vực quản lý
này, cũng như thực tế quan niệm về môn học còn là môn học phụ, chưa nhận được
sự quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý cũng như của người
học. Để góp phần nâng cao chất lượng môn học cũng như giúp cho sinh viên có
nhận thức và thái độ học tập đúng đắn để có kết quả tốt trong học tập, đề tài ‘‘Quản
lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội”
được lựa chọn nghiên cứu.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình ngiên cứu trên thế giới
Có thể nói tất cả các quốc gia trên thế giới trong lịch sử phát triển của mình
đều quan tâm đến giáo dục và học tập là vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu
cả về lý luận và thực tiễn nhằm phát huy vai trò tích cực học tập của người học.
Các nhà giáo dục trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm về hoạt động học tập
của học sinh, sinh viên dựa trên những cơ sở thuyết tâm lý, thuyết giáo dục khác
chọn, đồng thời chú trọng cải tiến phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính
tự giác tích cực của người học và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong dạy
học nói chung và GDTC nóiriêng [dẫn theo 34].
4
Ở Liên Xô cũ cũng chú trọng công tác quản lý TDTT trường học và thể
thao thành tích cao. Các công trình nghiên cứu về quản lý TDTT trong GDTC của
Novicop Mátveep (1978) đã hình thành hệ thống nguyên lý phương pháp quản lý
huấn luyện vận động viên thể thao trẻ [dẫn theo 34].
Trung Quốc là nước đang phát triển và là một cường quốc về TDTT, bởi
vậy việc nghiên cứu về công tác tổ chức quản lý TDTT nói chung và tổ chức quản
lý hoạt động GDTC trường học nói riêng hết sức được coi trọng. Chỉ tính từ năm
1996 đến 2004, trong 8 năm đã có hàng chục công trình nghiên cứu về quản lý
TDTT và quản lý hoạt động GDTC trường học, nổi bật nhất là các công trình của:
Trần Hiếu Tân (1990) nghiên cứu về quản lý giáo dục, đã khái quát cơ sở lý luận và
xây dựng nên các nội dung phương pháp, phương thức quản lý GDTC của Trung
Quốc [dẫn theo 22].
Các giáo sư bộ môn Quản lý học của học viện TDTT Bắc Kinh (1988), Chu
Nghiêm Kiệt (1988), Trương Lê Chính (1990) đã xây dựng các giáo trình về quản
lý TDTT trường học giúp các giáo viên, cán bộ quản lý GDTC có được các kiến
thức cơ bản trong quản lý TDTT trường học [dẫn theo 22].
Qua các công trình nghiên cứu có thể nhận thấy các tác giả đã quan tâm nghiên
cứu và đã xây dựng được hệ thống lý luận quản lý và các biện pháp quản lý trong công
tác tổ chức quản lý TDTT nói chung, GDTC nói riêng.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, nhiều nhà giáo dục đã tiến hành nghiên cứu hoạt động học tập
của học sinh, sinh viên, trong đó, tập trung vào việc nghiên cứu phương pháp học
tập hiệu quả, vị trí, tầm quan trọng và cách thức tiến hành tự học đạt kết quả.
nhà tổ chức, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục trên khắp cả nước.
Các công trình khoa học đều nêu lên được tính cấp thiết cũng như những
bất cập, chưa hợp lý của công tác GDTC trong các nhà trường. Đồng thời đưa ra các
giải pháp để triển khai thực hiện nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lý hoạt
động dạy và học GDTC trong các nhà trường.
Tác giả Phan Anh Tuấn (2013), "Quản lý hoạt động Giáo dục Thể chất cho
sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Đức” . Đề tài đã tiến hành nghiên cứu điều
6
tra 15 cán bộ quản lý các phòng, khoa chức năng, 7 giáo viên giảng dạy môn GDTC và
200 sinh viên hệ caođẳng [37].
Đề tài tập trung nghiên cứu nhằm hoàn thiện các biện pháp quản lý GDTC
cho sinh viên dưới góc độ tiếp cận quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường
Cao đẳng công nghiệp ViệtĐức với các nhiệm vụ nghiên cứu, đó là: Nghiên cứu cơ
sở lý luận về quản lý hoạt động GDTC cho sinh viên ở trường cao đẳng; Khảo sát,
đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDTC cho sinh viên ở trường Cao đẳng công
nghiệp Việt Đức.
Tác giả đã đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động GDTC cho sinh viên ở
trường Cao đẳng công nghiệp Việt Đức cũng như đã tiến hành khảo nghiệm tính
khả thi, mức độ phù hợp của các biệnpháp đó, bao gồm:
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về vai trò của GDTC cho cán bộ giảng
viên và sinhviên
Biện pháp 2: Nâng cao năng lực chuyên môn cho giảng viên giảng dạy
mônGDTC
Biện pháp 3: Tăng cường cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ tập luyện phục vụ
GDTC cho sinhviên
Biện pháp 4: Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả GDTC cho
sinhviên
trong các trường học. Song công tác quản lý hoạt động học tập môn Giáo dục thể
chất cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội chưa có tác giả nào nghiên cứu, do đó,
qua đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng quản lý
hoạt động học tập môn GDTC, từ đó đưa ra các biện pháp góp phần nâng cao hiệu
quả công tác quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên ĐHQGHN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động học tập môn
GDTC của sinh viên ĐHQGHN , đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động học tập nhằm
nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho sinh viên ĐHQGHN, góp phần tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
8
3.2.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập môn GDTC
3.2.2. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh
viên ĐHQGHN
3.2.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh
viên ĐHQGHN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên
ĐHQGHN
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên ĐHQGHN
Địa bàn nghiên cứu: Đại học Quốc gia Hà Nội
Đối tượng khảo sát: - Cán bộ quản lý GDTC, giảng viên giảng dạy môn
GDTC trong và ngoài ĐHQGHN
- Sinh viên đang học tập tại ĐHQGHN
chất, giảng viên và sinh viên để nắm bắt thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu
của đề tài.
5.2.4. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Dùng phương pháp thống kê để tổng hợp số liệu thu được từ phiếu hỏi, tính
tỷ lệ phần trăm, tính trung bình cộng,... để phân tích, so sánh, đánh giá kết quả
nghiên cứu. Sử dụng các bảng và biểu đồ để biểu thị các số liệu thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn đã xác định được khung lý thuyết nghiên cứu về hoạt động học
tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội. Trong đó đã
xác định được các khái niệm công cụ ( quản lý, hoạt động học tập, hoạt động học
tập môn giáo dục thể chất, quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất…).
Luận văn cũng đã xác định được các nội dung quản lý hoạt động học tập môn
giáo dục thể chất theo hướng tiếp cận mục đích, các nhiệm vụ của hoạt động học
tập môn GDTC và chỉ ra được các lý thuyết về quản lý hoạt động này. Luận văn
đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập môn GDTC và đưa
ra quan điểm đề xuất các biện pháp quản lý, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý hoạt động học tập môn học GDTC của sinh viên ĐHQGHN. Kết quả
10
nghiên cứu lý luận của luận văn có thể góp phần bổ sung thêm một số vấn đề lý
luận về quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã nghiên cứu thực trạng hoạt động học tập môn giáo dục thể
chất, quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học
quốc gia Hà Nội. Qua đó đánh giá được những ưu điểm cũng như chỉ ra những
hạn chế của hoạt động này. Luận văn đã đề xuất các biện pháp có tính khả thi
cao nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất
quản lý ban đầu nào cũng cần hiểu và mong muốn lý giải. Xét trên phương diện
nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào
đó. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng
và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên
quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của
phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì
sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt.
Nói đến hoạt động quản lý người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của
Các Mác “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hành
hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động
và từ những khách quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều
khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [dẫn theo 22].
12
Quản lý (thuật ngữ tiếng Anh là Management) đặc trưng cho quá trình điều
khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế,
thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên [dẫn theo 25].
Đầu thế kỷ 20 nhà quản lý Mary Parker Follet định nghĩa quản lý là "nghệ
thuật khiến công việc được làm bởi người khác" [ dẫn theo 16].
Theo nghĩa chung nhất từ góc độ của Tâm lý học, quản lý được hiểu như sau:
Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống
thông tin của chủ thể đến khách thể của nó [16].
Từ những khái niệm quản lý nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác
động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa
tổ chức vận hành và đạt mục tiêu đề ra [dẫn theo 25].
1.1.1.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội. Lĩnh vực này đang ngày
cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội
cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm
lý lứa tuổi [dẫn theo 25].
Quản lý giáo dục trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo dục chính là
quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách cho người học.
1.1.1.3. Quản lý nhà trường
Trường học là đơn vị cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi tổ chức
các hoạt động dạy học và giáo dục học sinh theo mục tiêu được ghi trong Luật Giáo
dụcLà nơi trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào
quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
cho đất nước [39].
Nhà trường là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống quản lý giáo dục nào từ
trung ương đến địa phương. Vì vậy nhà trường là khách thể cơ bản của tất cả các
cấp quản lý bởi lẽ, việc quản lý trong hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp đều nhằm
tạo điều kiện thuận lợi tối đa để đạt được mục đích, mục tiêu, chất lượng cũng như
hiệu quả của nhà trường [39].
14
Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi
trách nhiệm của mình. Quản lý nhà trường bao gồm nhiều nội dung như: Quản lý tài
chính và cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc học tập, giảng dạy; Quản lý
chương trình giáo dục; Quản lý chất lượng giáo dục theo chương trình của Bộ, của
nhà trường; Quản lý việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD&ĐT; Tổ
chức đội ngũ nhà giáo, cán bộ công nhân viên, tập thể học sinh thực hiện tốt các
nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường [dẫn theo 38].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng " Quản lý trường học là hoạt động của các cơ
quan quản lý, về bản chất là huy động các nguồn lực để tổ chức các hoạt động giáo
đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác. Đây được coi là chức
năng chỉ lối, dẫn đường cho các chức năng chỉ đạo, kiểm tra.
Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, xác định chức năng kế hoạch hoá
có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại, vận hành và phát triển của nhà trường. Bởi
trên cơ sở phân tích các thông tin, những tiềm năng hiện có, những khả năng sẽ có mà
xác định nội dung hoạt động, các phương pháp tiến hành, những điều kiện đảm bảo
để đưa nhà trường đạt tới mục tiêu mong muốn. Chính vì kế hoạch hoá là hướng mọi
hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu để tạo khả năng đạt được một cách hiệu quả
và cho phép người quản lý có thể kiểm soát được quá trình tiến hành nhiệm vụ.
Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền
hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các
mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả.
Như vậy thực chất của tổ chức là thiết lập cấu trúc quan hệ giữa các thành
viên, các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể
thống nhất. Từ đó, chủ thể quản lý tác động đến từng đối tượng quản lý một cách có
hiệu quả thông qua sự điều phối các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, vật lực, tài
lực. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng, cho những động lực khác, tổ chức
không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và làm giảm sút hiệu quả quản lý. Trong quản lý
giáo dục, quản lý nhà trường điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác
định cho được và rõ vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận, đảm bảo mối quan
hệ liên kết giữa các cá nhân, các thành viên, các bộ phận tạo nên sự thống nhất và
đồng bộ.
16
Chức năng chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều
hành tổ chức, nhân lực đã có của đơn vị vận hành theo đúng kế hoạch đã vạch ra.
Chỉ đạo bao hàm cả liên kết, liên hệ, uốn nắn hoạt động của con người, động viên,
khuyến khích họ hoàn thành nhiệm vụ. Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho
cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy tiềm năng của nhân tố con người trong