1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao luôn
gắn liền với sự vận dụng sáng tạo chủ trương, quan điểm của Đảng cộng sản
Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hơn nửa thế kỷ qua, sự nghiệp TDTT
nước ta không ngừng phát triển và góp phần đắc lực vào mục tiêu tăng
cường sức khoẻ phục vụ công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây
dựng đất nước.
Bởi vậy, ngay trong những năm xây dựng miền bắc XHCN, vấn đề
Giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên đã được Đảng ta chính thức đưa vào
Nghị quyết TW 8 khoá III năm 1961:“Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số
môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông,
chuyên nghiệp và đại học”[20, tr.1]. Trong giai đoạn này, việc Giáo dục thể
chất và vệ sinh học đường được gắn kết với phong trào hai tốt: “Học tốt, dạy
tốt”, phong trào thể dục thể thao và vệ sinh trong các trường học phát triển
mạnh mẽ.
Chỉ thị số: 36- CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 1994 của Ban bí thư Trung
ương Đảng đã nêu rõ “Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác TDTT là hình
thành nền TDTT phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực,
đáp ứng nhu cầu văn hoá, tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt vị trí xứng
đáng trong các hoạt động thể thao quốc tế trước hết là khu vực Đông Nam Á.
Trước mắt là phải thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học là
làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của học sinh,
sinh viên”.[13, tr.2]
Như đã đề cập trên, quan điểm, đường lối phát triển TDTT của Đảng và
Nhà nước ta luôn luôn nhất quán nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể
chất, bồi dưỡng nhân cách đạo đức và xây dựng đời sống văn hoá cho nhân
dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tất cả các nghị quyết và chỉ thị của Đảng
biện pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoạt động dạy
học nói chung, dạy học môn Giáo dục thể chất nói riêng tại Trường Trung cấp
3
Y tế tỉnh Hà Giang góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường, tác giả
chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất
tại Trường Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý dạy học, đánh giá thực trạng
công tác quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất ở Trường Trung
cấp chuyên nghiệp thuộc địa bàn tỉnh Hà Giang, luận văn đề xuất một số biện
pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất ở trường Trung cấp Y
tế tỉnh Hà Giang nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về hoạt động dạy học nói chung và
quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất trong các Trường Trung
cấp chuyên nghiệp.
3.2. Đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và công tác quản lý hoạt động dạy học
môn học Giáo dục thể chất tại Trường Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang hiện nay.
3.3. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất tại
Trường Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang.
3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất trong
luận văn.
4. Khách thể, đối tượng, nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất trong Trường Trung cấp
chuyên nghiệp
4.2. Đối tượng nghiên cứu
nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học nói chung và dạy học môn Giáo dục
thể chất nói riêng tại các trường Trung cấp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát việc quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất tại
Trường Trung cấp Y tế Hà Giang.
7.2.2. Phương pháp điều tra viết
5
Xây dựng các mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin về vấn đề
nghiên cứu trong đề tài.
7.2.3. Phương pháp sử dụng lời nói
Trên thực tế, toàn bộ hoạt động của nhà sư phạm trong quá trình giáo
dục thể chất đều liên quan tới việc sử dụng lời nói.
7.2.4. Phương pháp tổng hợp
Trong thực tế các phương pháp kể trên thường được kết hợp với nhau
thành phương pháp tổng hợp.
7.2.5. Phương pháp thống kê, phân tích và sử lý các số liệu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích và xử lý số liệu điều tra, đánh
giá độ tin cậy của các số liệu, lập các bảng số liệu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục
thể chất trong Trường Trung cấp chuyên nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể
chất tại Trường Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể
trường học. Philin (1976) cũng đã nghiên cứu đưa ra hệ thống phương pháp
quản lý huấn luyện vận động viên thể thao trẻ.
7
Ở Nhật Bản, các nhà khoa học lại chú trọng xây dựng hệ thống hợp tác
không gian (Space Collaboration System) trong dạy học nói chung và dạy
học thể dục thể thao nói riêng.
Ở Hàn Quốc, các nhà khoa học chú trọng xây dựng các trung tâm công
nghệ đa phương tiện (Multimedia) trong dạy học.
Trung Quốc là nước đang phát triển và là một cường quốc về thể dục
thể thao, bởi vậy việc nghiên cứu về công tác tổ chức quản lý thể dục thể thao
nói chung và tổ chức quản lý hoạt động GDTC trường học nói riêng hết sức
được coi trọng. Chỉ tính từ năm 1996 đến 2004, trong 8 năm đã có hàng chục
công trình nghiên cứu về công tác tổ chức quản lý thể dục thể thao và quản lý
hoạt động giáo dục thể chất trường học, nổi bật nhất là các công trình của
Trần Hiếu Tân (1990) nghiên cứu về quản lý giáo dục, đã khái quát cơ sở lý
luận và xây dựng các nội dung phương pháp, phương thức quản lý giáo dục
của Trung Quốc. Còn có rất nhiều tác giả nghiên cứu các lĩnh vực khác
nhau của quản lý thể dục thể thao như Tôn Chí Kiên (1998), Thiệu Nhiên
Mạc (2000) nghiên cứu về quản lý sân bãi tập luyện của các trường học và
của các cơ sở tập luyện. Vương Nghị Cương (1999), Vương Lộ Đức (2001)
nghiên cứu về hệ thống quản lý các môn học cơ sở ở các trường đại học, cao
đẳng và quản lý các số liệu kiểm tra thể chất nhân dân. Vương Chí Kiên
(1999) nghiên cứu các biện pháp tiếp tục bồi dưỡng chuyên môn của giáo
viên thể dục thể thao. Hà Xuân Lợi (2003) nghiên cứu hiện trạng và cơ chế
vận hành quản lý nguồn nhân lực thể dục thể thao ở các trường đại học, cao
đẳng Trung Quốc.
Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài ta có thể dễ
thể dục thể thao mới, và đề cập đến vai trò của giáo dục thể chất trong trường
học là mặt quan trọng nhằm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ tương lai của đất nước,
cung cấp nguồn nhân lực có sức khoẻ, học vấn và đạo đức cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời cung cấp tài năng thể thao cho quốc gia.
Vấn đề giáo dục thể chất trong học đường đã chính thức được Đảng ta
đưa vào Nghị quyết Trung ương VIII khoá III năm 1961. Đến nay, trải qua 53
9
năm việc giảng dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết trong chương
trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học đã đạt được
những kết quả tích cực.. Trong giai đoạn này, việc giáo dục thể chất và vệ
sinh học đường được gắn kết với phong trào hai tốt:“Học tốt, dạy tốt”, phong
trào thể dục và phong trào vệ sinh trong các trường học phát triển mạnh mẽ.
Đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục và đào tạo nói chung và đổi mới
nội dung, phương pháp dạy học nói riêng, nhiều người nghiên cứu trong đó có
những nhà giáo dục học, tâm lý học, đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đổi mới nội
dung dạy học theo phương pháp nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với
thực tiễn sản xuất đời sống, lấy vấn đề học sinh làm trung tâm trong hoạt
động dạy học.
Vấn đề nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục thể chất từ lâu đã
được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là của các
nhà nghiên cứu giáo dục, ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau
nhưng điểm chung mà ta thấy trong các công trình nghiên cứu của họ là:
Khẳng định vai trò của công tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng dạy
và học ở các cấp học.
Ngày nay, Giáo dục thể chất đã trở thành một môn học bắt buộc trong
hệ thống trường học các cấp nói chung và các trường đại học và cao đẳng nói
riêng. Nó có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội
biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất, nhưng lại có
sự khác nhau về cách tiếp cận về vấn đế nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
và địa bàn nghiên cứu.
Vũ Hải Minh nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học giáo dục thể
chất ở Trường Đại học Y Hà Nội, tác giả đã nghiên cứu thực trạng công tác
giáo dục thể chất tại Trường Đại học Y Hà Nội, từ đó đề xuất một số biện
pháp quản lý hoạt động dạy học bộ môn Giáo dục thể chất ở trường này.[22]
Phạm Đình Tâm đã nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động Giáo
dục thể chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Từ việc
đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục
11
thể chất tại trường tác giả đã đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể
chất ở trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nhằm nâng cao
chất lượng dạy và học môn Giáo dục thể chất, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện của nhà trường. [26]
Như vậy, cũng có khá nhiều bài viết, tài liệu, đề tài luận văn thạc
sỹ quan tâm tới biện pháp quản lý hoạt động dạy học giáo dục thể chất trong
nhà trường. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nhiều hoặc chưa có đề tài nào
đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục
thể chất trong các trường Trung cấp chuyên nghiệp nói chung và Trường
Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang nói riêng. Do đó đề tài tập trung nghiên cứu sâu
về cơ sở lý luận của quản lý dạy học, thực trạng các biện pháp quản lý hoạt
động dạy học môn Giáo dục thể chất, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp
quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất tại Trường Trung cấp Y tế
Hà Giang là hoàn toàn mới và hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé trong việc
nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh Hà Giang nói riêng và
của cả nước nói chung.
Sơ đồ 1.1. Các chức năng trong chu trình quản lý [30, tr.49].
1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1. Quản lý giáo dục
Khái niệm Quản lý giáo dục được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau nhưng
có hai cấp độ chủ yếu trong quản lý giáo dục thường thấy là: Cấp vĩ mô và
cấp vi mô
+ Đối với cấp vĩ mô:
Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt
xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường)
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào
tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
+ Đối với cấp vi mô
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể
giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng
xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả
mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Từ những khái niệm nêu trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy
rõ bốn yếu tố của quản lý giáo dục là: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý,
khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Trong thực tiễn, các yếu tố trên không
tách rời nhau chúng có quan hệ tương tác gắn bó mật thiết với nhau nhằm đi
15
đến mục tiêu chung của giáo dục đề ra. Như vậy, quản lý giáo dục với tư cách
là một bộ phận của quản lý xã hội cũng đã xuất hiện từ lâu và tồn tại với mọi
chế độ xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội, mục tiêu, nội dung, phương
pháp. Giáo dục luôn thay đổi và phát triển làm cho công tác quản lý cũng vận
thiện - ác, … từ đó nâng cao tính tự giác làm việc, biến ý chí của tổ chức
thành ý chí và nguyện vọng của cá nhân, trên cơ sở tôn trọng ý kiến và
nguyện vọng của mỗi cá nhân;
- Phương pháp kinh tế: Là sự tác động một cách gián tiếp tới người bị
quản lý bằng cơ chế kích thích lao động thông qua lợi ích vật chất để họ tích
cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
1.2.2.2. Quản lý nhà trường
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, nhà trường
được hiểu là: “Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức
xã hội thực hiện các chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì
và phát triển xã hội”.[12, tr.6]
Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo
dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục,
đối với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh. [20]
Quản lý nhà trường cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo nguyên tắc lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với
toàn bộ công tác giáo dục trong nhà trường;
- Đảm bảo tính khoa học, tính kế hoạch, tính thực tiễn quản lý trường học;
- Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo các công việc
của nhà trường;
- Đảm bảo nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích;
- Đảm bảo nguyên tắc sử dụng toàn diện các phương pháp quản lý;
- Đảm bảo nguyên tắc đổi mới;
- Đảm bảo nguyên tắc hiệu quả.
Công cụ quản lý là những phương tiện, những giải pháp của chủ thể
quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hòa, phối hợp và đánh giá
kết quả hoạt động của các thành viên trong nhà trường hướng vào việc thực
hiện mục tiêu đề ra.
Tổ
Chức
Khách thể
Điều
khiển
Tích
cực
Chủ thể
Chủ
động
Sáng
tạo
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa hoạt động dạy - hoạt động học
18
1.2.3.3. Quản lý hoạt động dạy học
Chúng ta đã biết, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của nhà quản
lý nhằm đạt tới mục tiêu. Nhà quản lý cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên,
học sinh, các lực lượng xã hội…bằng hành động của mình biến mục tiêu đó
thành hiện thực.
19
giáo viên tự chuẩn bị cho các giờ lên lớp là việc quan trọng nhất trong qui
trình lao động sư phạm. Việc tự chuẩn bị của giáo viên là một khâu lao động
trí óc độc lập, giáo viên có thể tự quyết định thực hiện ở nhà hay ở trường
(nơi có điều kiện làm việc thuận lợi nhất). Nếu người giáo viên không có đầy
đủ tinh thần trách nhiệm, không có chế độ làm việc trong ngày rõ ràng, không
chuẩn bị sớm cho các giờ lên lớp thì công việc sẽ hời hợt và mang tính chất
hình thức. Sự chuẩn bị của giáo viên càng chu đáo thì kết quả dạy học càng ít
sai sót. Quản lý việc chuẩn bị giờ lên lớp là một hoạt động quản lý cần thiết
để nâng cao hiệu quả của việc dạy và học. Do đặc điểm đặc thù của lao động
sư phạm nên công tác chuẩn bị giờ lên lớp do giáo viên thực hiện ở nhà và
gắn với thời gian rãnh rỗi của họ.
Việc quản lý công tác chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên gồm những
nội dung sau:
+ Quản lý việc xây dựng kế hoạch của các bộ phận cũng như của mỗi
giáo viên là việc làm đòi hỏi sự sâu sát của cán bộ quản lý. Cán bộ quản lý là
người hướng dẫn giáo viên qui trình kế hoạch, giúp học sinh biết xác định
mục tiêu đúng đắn và biết tìm ra biện pháp để thực hiện mục tiêu đó. Việc
thức hiện tốt kế hoạch đề ra của tổ chuyên môn, của giáo viên, là biện pháp
quan trọng nhất đảm bảo chất lượng dạy học.
+ Quản lý hồ sơ giảng dạy của giáo viên: Theo qui định hiện hành của
Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngoài ra, cần yêu cầu giáo viên phải có thêm sổ theo
dõi học sinh, sổ kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng, sổ sinh hoạt chuyên môn. Để
quản lý tốt hồ sơ của giáo viên, cán bộ quản lý cần phải qui định thống nhất
các loại mẫu, có biện pháp, kế hoạch kiểm tra, đánh giá chất lượng hồ sơ.
- Quản lý giờ dạy lên lớp của giáo viên: Giờ học là yếu tố quan trọng
cơ bản có tính chất quyết định kết quả đào tạo giáo dục của nhà trường. Hoạt
động dạy học được thể hiện chủ yếu bằng hình thức dạy học trên lớp với
các chế độ khen thưởng để giáo viên tự học, tự bồi dưỡng hoặc tham gia các
lớp bồi dưỡng của Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hoặc các lớp chuyên đề,
21
nâng cao trình độ học sau đại học để 100% giáo viên đạt chuẩn hóa và nâng
cao đội ngũ.
- Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn: Cán bộ quản lý cần quan tâm tới
các chuyên đề sinh hoạt của tổ chuyên môn. Nội dung ấy bao gồm trao đổi về
phương pháp giảng dạy, về nội dung bài giảng, bài soạn. Những hoạt động
này có tác dụng thiết thực đối với mỗi giáo viên trong việc bồi dưỡng chuyên
môn chính của bản thân mình vừa nâng cao chất lượng giờ lên lớp, vừa góp
phần nâng cao trình độ sư phạm, nghiên cứu khoa học. Hoạt động ngoại khóa,
hội thảo khoa học được tổ chức sẽ tạo không khí hoạt động chuyên môn, động
viên giáo viên hăng hái, tích cực chuẩn bị tốt bài soạn, bài giảng làm cho giờ
dạy có hiệu quả cao. Để quản lý tốt hoạt động này, cần chú ý:
+ Xây dựng kế hoạch và có biện pháp chỉ đạo ngay từ đầu năm học,
phân công trách nhiệm rõ ràng cho các thành phần.
+ Chọn lọc các chuyên đề phù hợp với tình hình thực tế nhà trường, với đội
ngũ giáo viên, cơ sở vật chất nhà trường, đặc biệt chuyên đề ấy có tính khả thi cao,
thiết thực giải quyết những vấn đề mà nhà trường đang đặt ra cần tháo gỡ.
- Quản lý đổi mới phương pháp dạy học: Đổi mới phương pháp dạy học
là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng dạy học, kích thích tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh. Đổi mới phương pháp giảng dạy được tiến
hành thông qua hoạt động dự giờ rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy,
thông qua hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, sinh hoạt tổ chuyên môn.
- Quản lý việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh: Trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
là một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm
các nội dung thi đua cụ thể nhằm thu hút học sinh vào học tập và các hoạt
động vui chơi giải trí bổ ích. Thông qua các đợt thi đua mà động viên tinh
thần học tập của học sinh.
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh: Các hoạt động ngoại
khóa tạo điều kiện cho học sinh khả năng mở rộng và đào sâu tri thức đã tiếp
thu được ở chương trình bắt buộc. Đồng thời tạo thêm hứng thú học tập và
làm phát triển thêm năng lực riêng của từng học sinh, qua đó góp phần hướng
nghiệp cho học sinh.
23
Các hình thức hoạt động ngoại khóa rất đa dạng và phong phú, tùy điều
kiện của từng nhà trường mà hiệu trưởng định hướng cho các tổ lựa chọn hình
thức phù hợp.
- Quản lý việc kiểm tra hoạt động học tập của học sinh, việc kiểm tra
cần chú ý các yêu cầu sau:
+ Đảm bảo tính khách quan: Tính khách quan của việc kiểm tra đánh
giá tri thức, kỹ năng kỹ xảo là sự phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội
dung tài liệu học tập của học sinh so với yêu cầu do chương trình quy định.
Tính khách quan của việc kiểm tra thể hiện: Nội dung kiểm tra phải
phù hợp với yêu cầu chung của chương trình đề ra, không thể theo ý chủ quan
của người ra đề kiểm tra hay đề thi; tổ chức kiểm tra phải nghiêm túc (bí mật
đề thi, đề kiểm tra; tổ chức coi thi, coi kiểm tra nghiêm túc).
Tính khách quan trong việc đánh giá thể hiện: Chuẩn đánh giá đúng
đắn, rõ ràng toàn diện, tổ chức chấm bài phải nghiêm minh, người chấm bài
có tinh thần trách nhiệm trong việc đánh giá, tránh thiện kiến.
Để đảm bảo tính khách quan trong việc kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo của học sinh, cần cải tiến, đổi mới các phương pháp, hình thức
kiểm tra đánh giá từ khâu ra đề tổ chức thi kiểm tra tới khâu cho điểm.
chất cũng như các loại hình giáo dục khác là quá trình sư phạm với đầy đủ
đặc điểm của nó (vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà
sư phạm phù hợp với học sinh, sinh viên, với nguyên tắc sư phạm...).
Giáo dục thể chất là một hình thức giáo dục nhằm trang bị kỹ năng, kỹ
xảo vận động và những tri thức chuyên môn (giáo dưỡng), phát triển tố chất
thể lực, tăng cường sức khỏe.
Như vậy, giáo dục thể chất có thể chia thành hai mặt tương đối độc lập:
Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục các tố chất thể lực.
Dạy học động tác là nội dung cơ bản của giáo dưỡng thể chất. Đó là
quá trình trang bị những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản, cần thiết cho cuộc
sống và những tri thức chuyên môn.
Bản chất của thành phần thứ hai trong giáo dục thể chất là tác động hợp
lý tới sự phát triển tố chất vận động đảm bảo phát triển các năng lực vận động
(sức nhanh, sức mạnh, sức bền...).
Như vậy, giáo dục thể chất là một loại giáo dục có nội dung đặc trưng
là dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động của con người. Việc dạy
25
học động tác và phát triển các tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ, làm tiền
đề cho nhau thậm chí có thể “chuyển” lẫn nhau. Nhưng chúng không bao giờ
đồng nhất, giữa chúng có quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển thể
chất và giáo dục thể chất khác nhau.
Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất
được gắn liền với trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động. [28]
1.3.2. Phát triển thể chất
Phát triển thể chất là sự thay đổi về kích thước, chức năng cơ thể diễn
ra trong suốt cuộc đời. Sự phát triển thể chất biểu hiện ra bên ngoài như thay
đổi về chiều cao, cân nặng, thay đổi về hình thái kích thước cơ thể, thay đổi