Trường Đại học sư phạm Hà Nội
Luận văn:
Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của
trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn
viên thể dục thể thao cơ sở bản làng
MỤC LỤC
2
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1. Khái quát về nội dung chương trình đào tạo của Trường Trung cấp
y tế Hà Giang Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Phân phối nội dung và thời gian học tập trong chương trình Giáo
dục thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang Error: Reference
source not found
Bảng 2.3. Bảng tổng hợp ý kiến đánh giá của giảng viên và các chuyên gia về
nội dung chương trình GDTC hiện hành của trường Trung cấp Y tế Hà
Giang (n=35). Error: Reference source not found
Bảng 2.4. Tổng hợp kết quả phỏng vấn các chuyên gia, giảng viên TDTT
(n=35)và sinh viên (n=350 ) về thái độ học tập môn GDTC của sinh
viên trường trung cấp Y tế Hà Giang. Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Tổng hợp kết quả phỏng vấn sinh viên trường trung cấp y tế Hà
Giang về tính tích cực và tự giác trong học tập môn GDTC (n=350)
Error: Reference source not found
Bảng 2.6. Kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên trường trung
cấp y tế Hà Giang khóa K12, K13, K14 (n=1216) Error: Reference
source not found
Bảng 2.7. Bảng tổng hợp kết quả kiểm tra thể lực của sinh viên trường trung
cấp y tế Hà Giang (n =615) Error: Reference source not found
Bảng 2.8. So sánh phân loại thể lực chung cho sinh viên trường trung cấp y tế
Hà Giang theo tiêu chuẩn đánh giá thể lực HS-SV ở lứa tuổi 20 Error:
Reference source not found
Bảng 2.9. Bảng tổng hợp ý kiến của sinh viên về những nguyên nhân ảnh
với tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh, sinh viên ở độ tuổi 20 Error:
Reference source not found
Bảng 3.9: Đánh giá kiến thức và kĩ năng tổ chức hoạt động thể thao cơ sở của
sinh viên sau thực nghiệm Error: Reference source not found
Bảng 3.10: Kết quả điều tra về Đánh giá chương trình môn học GDTC của
giảng viên và sinh viên tham gia thực nghiệm Error: Reference source
not found
2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Bản đồ 1.1: Vị trí địa lý của trường trung cấp y tế Hà Giang Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ phân loại thể lực chung của sinh viên trường trung cấp y tế
Hà Giang khóa 14 Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.1: So sánh thành tích nằm ngửa gập bụng của nhóm đối chứng và
nhóm thực nghiệm Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.2: So sánh thành tích bật xa tại chỗ của nhóm đối chứng và nhóm
thực nghiệm Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.3: So sánh thành tích chạy 30m xuất phát cao của nhóm đối chứng
và nhóm thực nghiệm Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.4: So sánh thành tích chạy tùy sức 5 phút của nhóm đối chứng và
nhóm thực nghiệm Error: Reference source not found
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay thể dục thể thao thâm nhập rộng rãi vào đời sống học sinh,
sinh viên Việt Nam, góp phần giáo dục và rèn luyện học sinh, sinh viên tăng
cường sức khỏe, nâng cao tính tích cực trong lao động và học tập.
Hệ thống Giáo dục Thể chất (GDTC) trong các nhà trường là một bộ
phận hữu cơ của hệ thống giáo dục và đào tạo Việt Nam. Mục đích của
GDTC là củng cố sức khỏe, phát triển năng lực thể chất của con người, hình
thành và hoàn thiện kỹ năng vận động quan trọng trong cuộc sống để chuẩn bị
Khai, Thành phố Hà Giang, Tỉnh Hà Giang). Trải qua 15 năm xây dựng và
phát triển, trường trở thành một trung tâm đào tạo cán bộ Y tế cho tỉnh nhà và
một số tỉnh lân cận, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển mạng lưới
Y tế của tỉnh. Hiện nay, trường có tổng số 10 ngành đào tạo, với 1280 học
sinh hệ trung cấp chính quy, 105 sinh viên đại học Điều dưỡng và 21 học viên
chuyên khoa cấp II. Với đặc thù về ngành nghề nên tỷ lệ học sinh nữ chiếm
phần lớn, khoảng 70%. Do đó mức độ phát triển và yêu cầu về mặt thể chất
đối với học sinh cũng có sự khác biệt nhất định so với các trường Trung cấp
chuyên nghiệp khác trong cả nước. Chính vì vậy, công tác GDTC cũng như
hoạt động Thể dục Thể thao (TDTT) trong nhà trường cần hướng tới việc
phát triển thể chất cho học sinh sao cho phù hợp với yêu cầu và đặc điểm
ngành nghề. Mặt khác, Hà Giang là tỉnh vùng cao có tới 22 dân tộc cùng sinh
sống và tỷ lệ học sinh là con em dân tộc trong tỉnh đang học tập tại trường
chiếm tỷ lệ khoảng 75%, sau khi tốt nghiệp đa số các em trở về làm việc tại
địa phương, họ trở thành người chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, hướng dẫn
2
nhân dân giữ gìn vệ sinh để nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì vậy trên cơ sở
các em đã có các kiến thức cơ bản về Y học, việc đào tạo cho các em có khả
năng tổ chức, hướng dẫn nhân dân biết tập luyện TDTT đúng cách, đúng yêu
cầu là hết sức cần thiết.
Song trên thực tế chương trình GDTC của trường Trung cấp Y tế Hà
Giang vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như việc học sinh vẫn phải học theo
chương trình bắt buộc (Môn Điền kinh: Chạy ngắn 08 tiết, chạy cự ly trung
bình 04 tiết, nhảy xa 08 tiết. Môn thể dục cơ bản 08 tiết. Môn tự chọn: Bóng
chuyền 30 tiết), chương trình vẫn còn mang tính cứng nhắc, chưa phát huy
được hết năng lực của người học, chưa tạo ra được sự chủ động và tích cực
trong học tập của học sinh. Đồng thời chưa có được sự lựa chọn môn học theo
sở thích và năng lực cá nhân.
Chính vì vậy việc đổi mới nội dung chương trình môn học GDTC theo
hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng của trường
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nhiệm vụ 1
Tổng quan vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng của hoạt động GDTC
và cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy trong trường Trung cấp Y tế Hà Giang,
tìm hiểu nhu cầu hoạt động TDTT của học sinh và nhu cầu tập luyện thể dục
thể thao của nhân dân tại cơ sở bản làng .
5.2.Nhiệm vụ 2
Nghiên cứu đổi mới nội dung chương trình môn học GDTC của trường
Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên cơ sở bản làng
và đánh giá hiệu quả.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Định hướng và cơ sở đổi mới nội dung chương trình giáo dục thể chất
của trường trung cấp Y tế Hà Giang.
4
- Đổi mới nội dung chương trình môn học giáo dục thể chất theo hướng
đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao ở cơ sở bản làng.
- Thực nghiệm nội dung chương trình đổi mới trong thực tiễn và đánh
giá hiệu quả.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau đây:
7.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích tiếp nhận các thông tin, tài
liệu khoa học đã được công bố. Sưu tầm tổng hợp và nghiên cứu trên các tư
liệu, văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục và đào tạo,
ngành Thể dục Thể thao về công tác GDTC trong trường Đại học, cao Đẳng,
TCCN, các công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả đi trước… Từ
đó hình thành nên cơ sở lý luận và giả thuyết khoa học cho đề tài.
7.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu, thu thập và xử
xử lý và tính toán, đảm bảo cho kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ mở ra một giai đoạn mới trong việc
dạy và học môn học GDTC cho học sinh trường trung cấp Y tế Hà Giang.
Đồng thời đây cũng là một trong những chương trình mà các trường Trung
cấp Y tế trong cả nước đang hướng tới.
- Tạo điều kiện cho học sinh trường trung cấp Y tế Hà Giang có điều
kiện nâng cao năng lực công tác sau khi ra trường bổ sung lực lượng hướng
dẫn viên cho sự nghiệp xã hội hóa TDTT của Đảng và nhà nước.
6
9. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào nội dung, yêu cầu, điều kiện thực tiễn của đề tài, đề tài được
tiến hành từ tháng 5/2013 đến tháng 6/2014 và được chia thành 3 giai đoạn sau:
Giai
đoạn
Nội dung
Cá nhân
và đơn vị phối
Thời gian
Sản phẩm
Bắt đầu Kết thúc
Chuẩn
bị
- Lựa chọn đề tài, tên
đề tài nghiên cứu
- Đọc và phân tích tài
liệu chuẩn bị cơ sở lý
luận cho luận văn
- Xây dựng đề cương và
bảo vệ đề cương trước hội
của các biện pháp đề
xuất
- Xử lý kết quả nghiên
cứu
- Trường ĐHSP
Hà Nội
- Người hướng
dẫn
- Chuyên gia thể
thao, chuyên gia
giáo dục
- Cán bộ quản lý
thể thao tại cơ
sở
- Cán bộ quản
lý, giáo viên thể
thao, học sinh
trường trung cấp
Y tế Hà Giang
07/2013
12/2013
11/2013
04/2014
Hoàn
thành
nhiệm vụ
1
Hoàn
thành
nhiệm vụ
1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Giáo dục thể chất trường học
Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập ra nền TDTT cách mạng Việt
Nam luôn coi trọng vai trò của TDTT đối với thế hệ trẻ. Về giáo dục thể chất
trường học, Hồ Chí Minh xác định là một bộ phận quan trọng của nền giáo
dục quốc dân của nước Việt Nam độc lập và dân chủ: “Một nền giáo dục sẽ
đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một
nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.
Từ quan điểm đó, sau này Hồ Chí Minh đã chỉ ra một cách cụ thể về giáo dục
nói chung và giáo dục thể chất nói riêng:“Thể dục kết hợp với gìn giữ vệ sinh
chung và riêng, trí dục, mỹ dục, đức dục.” Bốn mặt giáo dục đó có quan hệ
mật thiết với nhau, trong đó Thể dục là tiền đề đầu tiên để phát triển các mặt
giáo dục khác.
Hồ Chí Minh luôn cho rằng
TDTT là một công tác cách mạng, TDTT
được đặt ngang bằng với các công tác khác như: Chính trị, tư tưởng, văn
hoá, y tế, giáo dục và sự nghiệp TDTT nước nhà không phải là trách
nhiệm riêng của ngành TDTT mà là trách nhiệm chung của các cấp uỷ
Đảng, chính quyền, của toàn dân và toàn xã hội. TDTT sẽ tác động tíc
cực đến việc chăm sóc sức khỏe cho quần chúng nhân dân cũng như
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Chính vì vậy mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Dân cường thì nước thịnh” [27].
Nhân dân khoẻ mạnh thì mọi việc mới hiệu quả. Vì vậy, TDTT
phải trở thành nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn dân.
Để đáp ứng điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Lời kêu gọi toàn dân
9
tập thể dục". “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục” của Người như ánh dương
tỏa chiếu, định hướng cho sự hình thành và phát triển nền TDTT mới của
nước Việt Nam mới.
Hồ Chủ tịch viết lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, nội dung do người tự
tay viết với văn phong bình dị, rõ ràng, ai cũng có thể hiểu được. Cuộc vận
vận động viên trẻ kế cận rất mỏng. Còn nhiều biểu hiện tiêu
cực trong các hoạt động thể thao. Đội ngũ cán bộ thể dục thể
thao rất thiếu và yếu về nhiều mặt. Tổ chức của ngành thể dục
thể thao trong nhiều năm không ổn định, có lúc còn bị thu hẹp,
hoạt động kém hiệu lực. Các tổ chức xã hội về thể dục thể thao
còn yếu kém. Cơ sở vật chất và khoa học kỹ thuật của thể dục
thể thao vừa thiếu, vừa lạc hậu, ngay cả ở các thành phố lớn,
các địa bàn tập trung dân cư, các trường học và các cơ sở của
lực lượng vũ trang. Nhiều sân bãi, cơ sở tập luyện bị lấn
chiếm, sử dụng vào việc khác. [5]. Nguyên nhân chủ yếu của
những yếu kém là do nhiều cấp uỷ Đảng, chính quyền chưa
nhận thức được đầy đủ và còn xem nhẹ vai trò của TDTT sự
nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, chưa thực sự
coi TDTT là một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an
ninh, quốc phòng, chưa có chế độ phù hợp với yêu cầu phát triển của
TDTT; Quản lý của ngành còn kém hiệu quả, chưa phát huy hết vai trò
chủ động sáng tạo của toàn xã hội để phát hiện tình hình mới. Đảng đã
đưa ra định hướng: Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong
11
chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi
dưỡng và phát huy nhân tố con người. Công tác TDTT phải góp phần tích
cực nâng cao sức khỏe thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành
mạnh làm phong phú đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, nâng cao
năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang
[6], [10], [20].
Để phát triển sự nghiệp TDTT, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về
TDTT nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực toàn dân, góp phần hình
thành và bồi dưỡng nhân cách con người Việt Nam, phục vụ công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.Trong Luật TDTT được quốc hội khoá X thông qua
đã khẳng định: “TDTT là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân”. “
công tác GDTC trong nhà trường trở thành một khâu quan trọng, cũng như
xác định nhận thức đúng về vị trí GDTC trong nhà trường các cấp, Bộ Giáo
dục và Đào tạo đã khẳng định: “GDTC được thực hiện trong hệ thống nhà
trường từ mầm non đến đại học, góp phần đào tạo những công dân phát triển
toàn diện. GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo,
nhằm giúp con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong
phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức. Thể chất - sức khỏe tốt là nhân tố
quan trọng trong việc phát triển sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Bộ
cũng khẳng định: “GDTC trong nhà trường các cấp nhằm từng bước nâng cao
trình độ văn hoá thể chất và thể thao của học sinh, sinh viên, góp phần phát
triển sự nghiệp TDTT của đất nước đáp ứng nhiệm vụ giao tiếp của học sinh,
sinh viên Việt Nam và Quốc tế” [
17].
GDTC có tác dụng tích cực trong việc hoàn thiện cá tính nhân cách,
những phấm chất cần thiết và hoàn thiện thể chất cho học sinh, sinh viên.
Việc tiến hành GDTC nhằm giữ gìn sức khỏe và phát triển thể lực, tiếp thu
những kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản, còn có tác dụng chuẩn bị tốt về
13
mặt tâm lý và tinh thần của người cán bộ tương lai.
Trong Điều 16 - Luật Thể dục, thể thao đã khẳng định: “Nhà trường có
trách nhiệm thực hiện chương trình GDTC cho người học. Tổ chức hoạt dộng
TDTT ngoại khoá, xây dựng cơ sở vật chất cần thiết đáp ứng việc giảng dạy
và hoạt động TDTT trong nhà trường” [21].
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ của
sự nghiệp thể dục, thể thao đến năm 2020, năm 2011 Bộ Chính trị đã ban
hành nghị quyết số 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước
phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020, trong đó yêu cầu các
cấp uỷ Đảng quán triệt quan điểm và thực hiện tốt 6 mục tiêu cơ bản, 3 nhiệm
vụ, đồng thời đưa ra 6 giải pháp trong quá trình thực hiện [
11].
phát triển hài hoà về mọi mặt, có tư tưởng tác phong đạo đức XHCN cho
sinh viên, đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước [13], [14], [15], [34], [36].
Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chăm lo GDTC
trong nhà trường và đạt được những thành quả nhất định. Ngành TDTT cũng
đã quan tâm và có sự cam kết với Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ đó hai ngành đã
phối hợp chỉ đạo và tổ chức các hoạt động nhằm đẩy mạnh nâng cao chất
lượng GDTC trong trường học. Công tác GDTC trong trường học các cấp có
một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ tri thức
mới, để thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”. Trong các mặt giáo dục thì GDTC có vai trò rất to lớn.
Thông qua các hoạt động TDTT,
sinh viên, sinh viên trong trường
học có thể phát triển một cách hài hoà, cân đối, tăng cường
sức khỏe, nâng cao năng lực làm việc, nhanh chóng thích nghi
15
với điều kiện học tập, sinh hoạt mới [1], [4], [13], [14], [15], [21],
[33
Để thực hiện tốt các mục tiêu đó, công tác GDTC trong trường học các
cấp phải giải quyết đồng thời các nhiệm vụ cơ bản sau:
Giáo dục đạo đức XHCN, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức
kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, giáo dục tinh
thần tự giác học tập và rèn luyện TDTT, chuẩn bị sẵn sàng lao động và
bảo vộ Tổ quốc.
Cung cấp cho sinh viên những lý luận cơ bản về nội dung và phương
pháp luyện tập mới, kỹ năng vận động và kỹ thuặt cơ bản một số môn thể
thao thích hợp. Trên cơ sở đó bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện và
rèn luyện TDTT, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt
dộng TDTT ở cơ sở. Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên,
phát triển cơ thể một cách hài hoà, xây dựng những thói quen lành mạnh và
tinh thần và xã hội ở một con
người
cụ thể - một thực thể tâm-sinh học-xã
hội. Thể dục thể thao (TDTT) có giá trị đặc biệt đối với việc bảo vệ, nâng cao
sức khỏe, phát triển và hoàn thiện thể chất con người. Hơn nữa, TDTT còn có
giá trị xã hội to lớn là làm cho con người có khả năng tự thể hiện, tự khẳng
định và hoàn thiện mình; tạo cho con người niềm vui giao tiếp, gắn bó với tập
thể, cộng đồng và xã hội; góp phần xây dựng lối sống lành mạnh, nâng cao
tính tích cực xã hội, tiếp nhận những định hướng giá trị của xã hội.
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ trên thế giới đã
và đang có những bước chuyển biến vĩ dại, đó là thời đại của “cuộc cách
mạng đại công nghệ” “thời đại nhân văn”, “thời đại của giáo dục
đào tạo”. Những sự chuyển biến lớn lao về đời sống xã hội và sự
phát triển như vũ bão khoa học công nghệ đòi hỏi người làm việc
17
trong nền sản xuất hiện đại phải có năng lực cả về thể chất lẫn
tinh thần ngày càng hoàn thiện hơn. Để đáp ứng những yêu cầu
của đất nước trong tình hình mới thì công tác TDTT phải góp phần
tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách đạo đức,
lối sống lành mạnh, làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh
thần của nhân dân, nâng cao chất lượng lao động
xã hội và sức
chiến đấu của lực lượng vũ trang [3], [5] [7], [17], [21], [39].
Chương trình tăng cường sức khỏe, phát triển thể lực, cải tạo giống
nòi và xây dựng lối sống văn hoá thể chất lành mạnh cho thanh thiếu
niên nước ta không chỉ có ý nghĩa nhân đạo, xã hội mà còn có ý nghĩa
chiến lược về kinh tế, do đó các ngành Y tế, TDTT và giáo dục đào tạo
phối hợp xây dựng dự án chương trình với mục tiêu nâng cao chất lượng
GDTC trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm tác động tích cực đến
việc bảo vệ, tăng cường sức khỏe, phát triển thể lực, nâng cao tính tích