Kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp đàm thoại trong dạy học môn giáo dục chính trị ở trường trung cấp y dược bắc ninh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ NHUNG
KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH
VỚI PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI TRONG DẠY
HỌC
MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG TRUNG
CẤP
Y DƯỢC BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An - 2014
Nghệ An - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ NHUNG
KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH
VỚI PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI TRONG DẠY
HỌC
MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG TRUNG
CẤP
Y DƯỢC BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thái Sơn
1
Nghệ An - 2014
Nghệ An - 2014

NXB : Nhà xuất bản
PP : Phương pháp
PPDH : Phương pháp dạy học
PPTT : Phương pháp thuyết trình
PPĐT : Phương pháp Đàm thoại
PPDHTT : Phương pháp dạy học truyền thống
PPDHHĐ : Phương pháp dạy học hiện đại
QTDH : Quá trình dạy học
THPT : Trung học phổ thông
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
4
DANH MỤC BẢNG
Trang
5
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mùa xuân năm 1961 trong thời gian miền Bắc nước ta bắt tay vào công
cuộc xây dựng CNXH, Hồ Chí Minh đã từng nói rằng: Muốn xây dựng thành
công Chủ Nghĩa Xã Hội trước hết cần phải có con người Xã Hội Chủ Nghĩa. Đó
là những con người phát triển toàn diện: Đạo đức, trí tuệ, trung với nước, hiếu với
dân, yêu thương con người, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, tinh thần quốc
tế trong sáng. Đồng thời đáp ứng được yêu cầu phát triển của thời đại trong giai
đoạn hiện nay. Từ rất sớm trong các văn kiện của Đảng xác định xem giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Thế nhưng một thực tế cho thấy rằng ngày nay chất lượng giáo dục và đào
tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, nhất là đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao vẫn còn hạn chế chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã
hội. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng về số lượng, quy mô với nâng
cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người hay nói cách khác đó là hiện tượng
thừa thầy thiếu thợ. Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học còn lạc hậu,

cận quan trọng của việc đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay.
Qua thực tế dạy học môn chính trị ở Trường Trung cấp Y Dược Bắc Ninh
cho thấy, nhiều giáo viên còn nặng quan điểm cho rằng đây là môn học phụ cho
nên chậm đổi mới phương pháp dạy học, ngại ứng dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật vào trong quá trình giảng dạy, cách dạy còn thụ động chưa phát huy
được tính độc lập, tích cực, sáng tạo của người học, gây cảm giác nhàm chán ở
người học. Do vậy, kết quả học chưa cao.
Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học môn học chính trị, tác
giả chọn vấn đề “Kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp đàm
thoại trong dạy học môn giáo dục Chính trị ở Trường Trung cấp Y dược
Bắc Ninh” làm Luận văn Thạc sĩ khoa học.
7
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là một trong những
nội dung thu hút được sự quan tâm của nhiều người. Đã có rất nhiều công trình
khoa học nghiên cứu về việc đổi mới phương pháp dạy học như: Tác giả
Nguyễn cẩm Hưởng trong Luận văn Thạc Sĩ “Kết hợp phương pháp thuyết trình
với phương pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy
học môn Giáo dục công dân (qua khảo sát tại trường THPT Phú Tân, huyện
Phú Tân, tỉnh Cà Mau)”.
Tác giả Vũ Hạnh trong Luận văn Thạc sĩ “Vận dụng dạy học nêu vấn đề
dưới hình thức nhóm tại lớp trong quá trình dạy học môn Giáo dục công dân ở
Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng”. Năm 2000, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đã có hội thảo khoa học lý giải việc cần thiết phải vận dụng phương
pháp dạy học nêu vấn đề nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh dưới
hình thức nhóm tại lớp.
Nguyễn Cảnh Toàn - Lê Khánh Bằng, Phương pháp dạy và học, Nxb Đại
học sư phạm năm 2009; GS,TSKH. Thái Duy Tuyên, Phương pháp dạy học
truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục, 2008.
Tác giả Vũ tiến Đảm trong Luận văn Thạc sĩ “Kết hợp phương pháp thuyết

(2010) “Kỷ yếu hội thảo đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh
giá môn giáo dục công dân trung học phổ thông”, với quan điểm chỉ đạo cơ bản
là tăng cường đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn GDCD ở
cấp THPT dựa trên đối tượng HS nhằm phát huy tính tích cực của các em trong
học tập; Nguyễn Văn Cường (2011) “Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH ở
trường THPT” - Dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông, tác giả chỉ rõ
những nội dung cơ bản nhất của đổi mới PPDH ở trường THPT và nhấn mạnh
cần thiết phải kết hợp linh hoạt các PP vào dạy học để phát huy vai trò của
9
người học; Vơ Hải An (2009) “Giải pháp nâng chất lượng dạy học phần công
dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học”. Gần đây,
có rất nhiều hội thảo về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học các môn khoa học
Mác - Lênin trong việc học tập môn Chính trị trong các trường Đại học, Cao
đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp trong cả nước.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã bàn khá sâu sắc về việc đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Vấn đề kết hợp phương pháp thuyết
trình với phương pháp đàm thoại trong dạy học môn giáo dục chính trị ở nước ta
nói chung; Trong đó có trường Trung cấp Y dược Bắc Ninh nói riêng. Tuy nhiên
bản thân tôi nhận thấy các đề tài còn tập trung chủ yếu vào đối tượng là học sinh
THPT còn đối tượng học sinh trung cấp chuyên nghiệp tương đối ít chưa được
phân tích một cách cụ thể trong quá trình dạy học. Do vậy chúng tôi nhận thấy,
việc kết hợp PPTT với PPĐT trong dạy học môn giáo dục chính trị ở bậc trung
cấp chuyên nghiệp là một trong những vấn đề đang được quan tâm hiện nay.
Chính vì thế, nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học của các tác giả có vai
trò quan trọng, giúp chúng tôi tiếp tục phát triển và hoàn thiện hơn về cơ sở lý
luận của việc kết hợp PPTT với PPĐT, từ đó xác định được quy trình kết hợp
kết hợp PPTT với PPĐT, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn giáo
dục chính trị ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp nói chung và trường Trung
cấp Y dược Bắc Ninh nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

chứng, duy vật lịch sử. Các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo
dục và đổi mới giáo dục; Nội dung, chương trình môn học chính trị; Lý luận dạy
học và phương pháp dạy học môn giáo dục Chính trị.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, thu thập các tài liệu có liên
quan đến đề tài kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp đàm thoại
trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
11
- Phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan
sát, phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp thống kê toán học
6. Giả thuyết khoa học
Đề tài luận văn nêu ra giả thiết nếu kết hợp phương pháp thuyết trình với
phương pháp đàm thoại trong dạy học môn giáo dục chính trị thì sẽ phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học môn giáo dục chính trị ở trường Trung cấp Y dược Bắc Ninh
nói riêng và trường Trung cấp chuyên nghiệp nói chung.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Đề tài về việc kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp đàm
thoại góp phần nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn, phát huy tính năng
động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức cho người học.
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết hợp phương pháp
dạy học thuyết trình với phương pháp dạy học đàm thoại trong dạy học môn
giáo dục Chính trị.
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục chính trị ngày
càng đạt hiệu quả cao hơn.
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý giáo dục
và giáo viên dạy môn giáo dục chính trị ở các trường Trung cấp, cao đẳng, đại học.
8. Kết câu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài
gồm có 3 chương, 2 tiết.

Theo tác giả Phùng Văn Bộ trong cuốn “Phương pháp dạy học Giáo dục
Công dân” - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999: “Phương pháp
thuyết trình là phương pháp dạy học trong đó giáo viên dùng lời nói sinh động,
13
gợi cảm thuyết phục để truyền thụ hệ thống tri thức Giáo dục Công dân cho học
sinh theo chủ đích nhất định, nhờ vậy học sinh tiếp thu bài giảng một cách có ý
thức” [2, 25].
PPTT là phương pháp trình bày có hệ thống, sáng tạo bằng lời nói sinh
động theo một trình tự lôgic chặt chẽ, một khối lượng tri thức phong phú cho
người học. Thông qua diễn giảng giáo viên trình bày có tính chất thời sự phức
tạp, mới mẻ trong khoảng thời gian ngắn, thông thường trong quá trình dạy học
là các tri thức chương trình những vấn đề này tác động mạnh mẽ đến tư tưởng,
tình cảm của học sinh đồng thời tiết kiệm về mặt kinh tế vì chỉ cần một giáo viên
có thể phục vụ một số lượng lớn học sinh.
Phương pháp thuyết trình thể hiện dưới các hình thức: Kể chuyện, giảng
giải, diễn giảng, giảng thuật:
+ Kể chuyện là phương pháp thuyết trình, trong đó giáo viên dùng lời nói
biểu cảm và các thao tác dẫn dắt học sinh tiếp cận và làm nổi bật nội dung của
tri thức cần truyền thụ.
+ Giảng thuật là một trong những phương pháp thuyết trình, trong đó có yếu
tố miêu tả, trần thuật. Giảng thuật không chỉ được sử dụng trong các môn khoa học
xã hội - Nhân văn mà còn cả những bộ môn khoa học tự nhiên. Nó được sử dụng
khi miêu tả những thí nghiệm, hiện tượng hoặc trình bày cuộc đời và sự nghiệp của
nhà bác học lỗi lạc, những thành tựu nổi tiếng trong khoa học - công nghệ… Trong
giảng thuật, giáo viên có thể trích những đoạn văn, thơ ngắn, những câu nói hay
những đoạn trích từ các tác phẩm văn học, các văn kiện lịch sử… Để làm cho bài
giảng thêm sinh động, diễn cảm, giàu hình ảnh. Cũng có thể kết hợp sử dụng các
phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học để minh họa cho việc t‹nh bày
của Œnh. Cũng có thể đặt ra những câu hỏi nhằm thu hút sự chú ý, định hướng sự
lắng nghe hoặc kích thích tính tích cực cũng như để kiểm tra hiệu quả việc lĩnh hội

và phương pháp thuyết trình nói riêng.
15
1.1.1.2. Ưu điểm, hạn chế của phương pháp thuyết trình trong dạy học môn
chính trị
Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm nhất định. Phương pháp
thuyết trình có những ưu điểm sau:
- Thứ nhất: PPTT dễ thực hiện, không đòi hỏi bất cứ phương tiện nào
trong quá trình dạy học.
- Thứ hai: Trong một khoảng thời gian nhất định có thể truyền tải được
một khối lượng kiến thức lớn đến với người học cùng một lúc, nó sẽ mang lại
hiệu quả kinh tế trong giáo dục. Những kiến thức trừu tượng nhờ khả năng tài
nghệ sư phạm của giáo viên có thể làm cho nó cụ thể, sống động hơn, người học
có thể học được cách lập luận một vấn đề khó từ giáo viên, cách trình bày, cách
mô tả, giải thích, giảng giải một vấn đề như sự kiện lịch sử, các chuyên đề, các
nguyên tắc, quy luật mà PP khác khó có thể đem lại hiệu quả cao hơn. Nếu giáo
viên biết sử dụng ngôn ngữ truyền cảm của mình, đặc biệt là giọng điệu và âm
sắc thì càng dễ đi vào lòng người hơn bao giờ hết.
- Thứ ba: Cho phép giáo viên truyền đạt những nội dung lý thuyết tương
đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà học sinh tự mình không dễ
dàng tìm hiểu được một cách sâu sắc.
- Thứ tư: Giúp học sinh nắm được hình mẫu về cách tư duy logic, cách đặt
và giải quyết vấn đề khoa học, cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt những vấn đề
khoa học một cách chính xác, rõ ràng, xúc tích thông qua cách trình bày của
giáo viên. Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên tác động mạnh mẽ đến tư tưởng,
tình cảm của học sinh qua việc trình bày tài liệu với giọng nói, cử chỉ, điệu bộ
thích hợp và diễn cảm.
- Thứ năm: Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý và kích thích tính tích
cực tư duy của học sinh, vì có như vậy học sinh mới hiểu được lời giảng của
giáo viên và mới ghi nhớ được bài học.
16

đạo đức và tâm huyết nghề nghiệp”. Đây là điều mà những giáo viên lên lớp
hàng ngày rõ hơn ai hết.
1.1.1.3. Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp thuyết trình
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần:
- Thứ nhất, muốn thuyết trình một vấn đề nào đó giáo viên cần làm chủ
kiến thức trong bài giảng, không gặp phải những “tình huống khó xử” trong
dạy học.
- Thứ hai, khi lên lớp giáo viên phải giữ tư cách mẫu mực trước học sinh.
- Thứ ba: Lời giảng của giáo viên.
+ Phải chính xác, rõ ràng.
+ Lời giảng phải gợi cảm.
+ Tốc độ và cường độ của lời giảng phải phù với trình độ nhận thức của
đối tượnghọc sinh.
- Thứ tư, lựa chọn những vấn đề có khả năng thuyết trình mà học sinh
cảm thấy hấp dẫn, phù hợp với trình độ nhận thức, tâm trạng của người học. Đi
sâu vào đời sống tâm lí, lứa tuổi học sinh.
- Thứ năm, luôn luôn làm chủ cảm xúc và biết điều chỉnh cảm xúc của
giáo viên theo những tình huống sư phạm, điều này tạo nên sự cân bằng tâm lí,
không rơi vào sự sa đà, tản mạn kiến thức, thái độ tiêu cực nửa vời trong quá
trình giảng bài.
- Thứ sáu, biết sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cú pháp chính xác, trình
bày mạch lạc, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nghe, nhịp độ và âm lượng vừa phải
(khoảng 80-120 từ/phút) và được minh họa bằng thực tiễn sinh động.
- Thứ bảy, khả năng quan sát đối tượng làm sao có thể bao quát được toàn
bộ lớp và từng cá nhân để từ đó điều chỉnh nội dung cũng như cá biệt hóa trong
dạy học.
18
- Thứ tám: Trình bày chính xác các hiện tượng, sự kiện, khái niệm, định
luật, vạch ra bản chất của vấn đề, ý nghĩa tư tưởng, chính trị của tài liệu học tập.
Đảm bảo tính tuần tự logic, rõ ràng, dễ hiểu với lời nói gọn, rõ, sáng sủa, giàu

quan trọng trong dạy học, là một trong các công cụ đắc lực cho GV đặt câu hỏi
là “một trong những cách cơ bản để GV kích thích HS suy nghĩ về học tập”. Tuy
nhiên để đặt được những câu hỏi phù hợp, tạo cơ hội cho học sinh tham gia lĩnh
hội kiến thức một cách tích cực nhất, kích thích và phát triển tư duy, đồng thời
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh không
phải là việc đơn giản. Trong thực tế, thường những giáo viên nhiều kinh nghiệm
sẽ làm việc này tốt hơn những giáo viên ít kinh nghiệm; Rất nhiều giáo viên
thường chỉ dừng lại ở việc sử dụng câu hỏi để tái hiện kiến thức, như vậy chưa
kích thích được học sinh tư duy.
Theo lý luận dạy học bộ môn giáo dục chính trị, Phương pháp đàm thoại
(vấn đáp) là phương pháp giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để HS trả lời
nhằm gợi mở cho HS sáng tỏ những vấn đề mới; Tự khai phá những tri thức mới
bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũy được
trong cuộc sống, nhằm giúp HS củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa
tri thức đã tiếp thu được nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp HS tự kiểm tra,
tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình dạy học.
Phương pháp đàm thoại (PPĐT) phát hiện là một trong những phương
pháp dạy học tích cực, HS không những lĩnh hội được nội dung tri thức một
cách tích cực mà còn học được cả PP nhận thức và diễn đạt tư tưởng bằng lời
nói. Trong phương pháp dạy học này hệ thống câu hỏi có vai trò vô cùng quan
trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng lĩnh hội của cả lớp, do đó, phải
hướng tư duy của HS đi theo một logic hợp lí, kích thích tích cực tìm tòi, trí tò
mò khoa học và cả sự ham muốn giải đáp.
Phương pháp đàm thoại là phương pháp hỏi và đáp. Giáo viên tổ chức học
sinh học tập thông qua sử dụng hệ thống các câu hỏi và trả lời. Các
20
Câu hỏi được sắp xếp theo một chủ đề từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp để dẫn học sinh đến mục tiêu nắm vững kiến thức.
1.1.2.2. Các hình thức, ưu điểm, hạn chế của phương pháp đàm thoại
Các hình thức của phương pháp đàm thoại:

- Đàm thoại tái hiện: GV đặt ra những câu hỏi chỉ đòi hỏi HS nhớ lại kiến
thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ không cần suy luận. Đàm thoại tái hiện có
nguồn gốc từ lối dạy giáo điều.
- Đàm thoại giải thích - minh họa: Có mục đích làm sáng tỏ một đề tài
nào đó. GV nêu ra một hệ thống các câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa để
HS dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này vẫn còn có thể áp dụng có hiệu quả trong
một số trường hợp như khi GV biểu diễn phương tiện trực quan.
- Đàm thoại tìm tòi - phát hiện: Phương pháp đàm thoại này vận dụng bản
chất của phương pháp đàm thoại Xoocrat. GV tổ chức cuộc trao đổi ý kiến, kể
cả tranh luận giữa GV và cả lớp, có khi giữa GV với HS, thông qua đó HS nắm
được tri thức mới. Hệ thống câu hỏi của GV phải mang tính chất nêu vấn đề
ơrixtic để buộc HS luôn luôn phải cố gắng phát huy trí tuệ, tự lực tìm lời giải
đáp. Hệ thống câu hỏi - lời giải đáp mang tính chất nêu vấn đề, tạo nên nội dung
trí dục chủ yếu của bài học, là nguồn kiến thức và là mẫu mực của cách giải
quyết một vấn đề nhận thức. Như vậy, thông qua phương pháp này, HS không
những nắm vững được cả nội dung trí dục mà còn học được cả phương pháp
nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ nói.
Trong phương pháp này hệ thống câu hỏi của GV giữ vai trò chỉ đạo chỉ
có tính chất quyết định đối với chất lượng lĩnh hội của cả lớp. Hệ thống câu hỏi
của GV vừa là kim chỉ nam, vừa là bánh lái hướng tư duy của HS đi theo một
logic hợp lí, nó kích thích tính tìm tòi, trí tò mò khoa học và sự ham muốn giải
đáp của HS.
22
Vì thế khi kết thúc đàm thoại, HS có vẻ như tự lực tìm ra chân lí và chính
khía cạnh này đã tạo ra cho người học niềm vui sướng của nhận thức, một tình cảm
rất tốt đẹp cần phát triển ở HS. Đến cuối của quá trình đàm thoại, GV cần khéo léo
kết luận vấn đề dựa vào ngôn ngữ, ý kiến và chính nhận xét của HS, tất nhiên có
thêm bớt những ý kiến chính xác và cấu tạo lại kết luận cho chặt chẽ xúc tích và
hợp lí. Làm như vậy, HS càng hứng thú và tự tin vì thấy kết luận của GV vừa nêu
rõ ràng có sự đóng góp quan trọng của chính mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status