Rèn luyện kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 3 - Pdf 42

0

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
—————————

ĐỖ LỆ THU

RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 3

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Hà Nội, 2016


0

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
——————————

ĐỖ LỆ THU

RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 3

Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số



0

LỜI CAM ĐOAN
Đề tài Rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh
lớp 3 đƣợc chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phát huy
những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác cộng với sự cố
gắng, nỗ lực của bản thân.
Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứ một công
trình nghiên cứu nào khác đã đƣợc công bố.
Ngƣời thực hiện

Đỗ Lệ Thu


0

MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU ........................................................................................................................... 1
II. NỘI DUNG ......................................................................................................................7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ...............................................................7

1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................................. 7
1.1.1. Lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ ................................................................... 7
1.1.2. Lí thuyết hội thoại .............................................................................................. 11
1.1.3. Văn bản truyện với tư cách là phương tiện giao tiếp và để thực hiện
chức năng giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc ......................................................... 15
1.1.4. Kể chuyện một hình thức giao tiếp đặc biệt..........................................21
1.2. Cơ sở thực tiễn ..............................................................................................................31

2.3.5. Biện pháp hướng dẫn HS biết đóng vai người kể trong truyện để kể lại
câu chuyện. ...................................................................................................... 84
2.3.6. Biện pháp hướng dẫn HS kết hợp diễn xuất của người kể với sử dung
đ dùng trực quan, minh họa cho câu chuyện để kể câu chuyện hấp dẫn
hơn, hiệu quả hơn .................................................................................... 95
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 103
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ......................................................................104
3.1. Mục đích thực nghiệm ................................................................................................104
3.2. Thời gian thực nghiệm ................................................................................................113
3.3. Phạm vi thực nghiệm ................................................................................................. 113
3.4. Lựa chọn đối tƣợng thực nghiệm ................................................................................ 113
3.5. Nội dung thực nghiệm ................................................................................................115
3.6. Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm ..................................................................117

Tiểu kết chƣơng 3.......................................................................................... 124
III. KẾT LUẬN ...............................................................................................................125

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ....................................126
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................127
PHỤ LỤC ......................................................................................................................... 130


0

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. Đối chứng

ĐC

2. Giáo viên

Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, nâng cao không ngừng của văn
hóa, kinh tế đất nƣớc. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nƣớc lớn
mạnh thì cần sự chung sức, đồng lòng của toàn dân mà lực lƣơng chủ
yếu chính là những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc, là nhân vật chính
góp phần tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho Tổ Quốc Việt Nam, đó chính
là trẻ em. Trẻ em là đối tƣợng chủ yếu trong chiến lƣợc con ngƣời của
Đảng, Nhà nƣớc ta và đƣợc cả xã hội quan tâm.
1.2 “Tiểu học là cấp học nền tảng trong nhà trường phổ thông, đặt cơ
sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, là
nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục
quốc dân”. Giáo dục tiểu học “hình thành cho HS những cơ sở ban đầu về sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kĩ năng cơ
bản để học tiếp trung học hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
(Mục tiêu, kế hoạch giáo dục tiểu học)
Nhiều nhà chuyên môn cho rằng bậc Tiểu học là bậc học kĩ năng và
bậc Tiểu học ở bất cứ quốc gia nào cũng vậy, cũng phải hình thành cho HS
kĩ năng cơ bản tối thiểu và đặc trƣng nhất, đó là kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ:
nghe, nói, đọc, viết. Những kĩ năng đƣợc hình thành trên cơ sở tƣ duy phát


2

triển, và ngƣợc lại nhờ có kĩ năng cơ bản đó mà HS tiếp tục học tập tốt hơn,
tạo đƣợc bƣớc phát triển cao hơn.
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học hiện nay là nâng cao chất lƣợng giáo
dục toàn diện. Nhà trƣờng Tiểu học là cái nôi cung cấp cho HS những tri thức
khoa học, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, giúp các em hình thành và phát triển nhân
cách.
1.3 Trong trƣờng tiểu học, kể chuyện là một kiểu bài học nhằm phát
triển lời nói, khả năng giao tiếp cho học sinh, bồi dƣỡng cho các em những

nhiều giáo viên. Song các biện pháp trình bày trong sách chỉ phù hợp với
tiết kể chuyện đƣợc dạy theo phƣơng pháp cũ (thầy kể, trò nghe, ghi nhớ
và kể lại), không phù hợp với phƣơng pháp dạy hiện nay.
Giáo trình R n kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (1996) của hai tác giả Đào
Ngọc và Nguyễn Quang Ninh, Nhà xuất bản Giáo Dục, đã chỉ ra rằ ng việc
rèn luyện kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ gắn liền với các kĩ năng nghiệp vụ ở tiểu
học nhƣ: kĩ năng đọc thầm, kĩ năng đọc diễn cảm, kĩ năng viết chữ, kĩ năng
viết các loại văn bản dạy ở tiểu học, kĩ năng nghe, kĩ năng nói, kĩ năng kể
chuyện.
Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Dự án phát triển giáo viên tiểu học đã cập nhật những thông
tin đổi mới về nội dung chƣơng trình sách giáo khoa và phƣơng pháp dạy học
theo chƣơng trình mới. Cuốn sách đã trình bày một cách chi tiết cụ thể về cấu
trúc nội dung và phƣơng pháp dạy học cho từng phân môn trong môn
Tiếng Việt trong đó có phân môn Kể chuyện.
Một tài liệu viết về đề tài kể chuyện mà không thể không nhắc đến đó
là quyển Kể chuyện

của đồng tác giả Đỗ Lê Chẩn và Nguyễn Thị Ngọc Bảo.

Trong phần lí luận chung các tác giả đã nêu đầy đủ về vị trí, nhiệm vụ cũng
nhƣ phƣơng pháp của dạy học kể chuyện ở lớp 1 cũng nhƣ đối với cấp Tiểu
học. Phần hƣớng dẫn cụ thể các tác giả đã tóm tắt nội dung truyện, hƣớng dẫn


4

tìm hiểu truyện và hƣớng dẫn các bƣớc lên lớp cho từng bài.
Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt -3 do đồng tác giả Lê
Phƣơng Nga và Nguyễn Trí biên soạn năm 2004 cũng đã đề cập đến phƣơng

ngữ học, Lý luận văn học, Thi pháp học v.v… có liên quan tới đề tài.
Phạm vi điều tra, khảo sát ở lớp 3 trƣờng Tiểu học Lĩnh Nam, quận
Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
4. Mục đích nghiên cứu
Xác định đƣợc thế nào là kể chuyện theo quan điểm giao tiếp, ý
nghĩa và các yêu cầu đối với kể chuyện theo quan điểm giao tiếp trong quá
trình kể chuyện.
Đề xuất biện pháp (gồm các bƣớc) rèn kĩ năng kể chuyện theo quan
điểm giao tiếp cho học sinh lớp 3.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
1- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về kể chuyện và kể chuyện theo
quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 3.
2- Xác định giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng cho việc giảng dạy
kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 3 ở trƣờng tiểu học
Lĩnh Nam thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội và trƣờng tiểu học Quỳnh Lôi ở
quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội.
3- Tiến hành dạy thực nghiệm một số bài để đánh giá tính khả thi
và hiệu quả thực tiễn của đề xuất trong khóa luận.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phƣơng
pháp sau:
1- Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu có liên
quan đến kể chuyện theo quan điểm giao tiếp.
2- Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra khảo sát chƣơng
trình sách giáo khoa phƣơng pháp chuyên gia, thống kê, so sánh


6

3- Phƣơng pháp quan sát: Đƣợc cụ thể bằng các hình thức phỏng

Có nhiều phƣơng tiện giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là phƣơng tiện quan trọng
nhất, cơ bản nhất.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: ―Giao tiếp là một hoạt động xảy ra khi có
một chủ thể phát tin, sử dụng một tín hiệu để truyền đến cho chủ thể nhận tin
một nội dung nào đó. Giao tiếp là hoạt động có đích. Nội dung đƣợc truyền
đạt nhằm cung cấp những thông tin (hiểu biết) cho ngƣời nghe hoặc bày tỏ
thái độ tình cảm của ngƣời nói cho ngƣời nghe chia sẻ hoặc tạo lập, duy trì
quan hệ giữa ngƣời nói ngƣời nghe‖ (Cơ sở ngữ nghĩa học và từ vựng NXBGD-H2000 trang 32)
Cùng với quan điểm trên, tác giả Lê A, Đỗ Xuân Thảo cũng cho rằng
―khi có ít nhất hai ngƣời gặp nhau và bày tỏ với nhau điều gì đấy nhƣ nỗi
buồn, vui, ý muốn, hành động, hay nhận xét nào đấy về sự vật xung quanh thì
giữa họ diễn ra một hoạt động giao tiếp (gọi tắt là giao tiếp)”[Giáo trình tiếng
Việt -NXBGD-1997 trang27]
Nhƣ vậy, giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa các thành viên trong xã
hội với nhau, dùng ngôn ngữ để bày tỏ tƣ tƣởng, tình cảm, trao đổi ý kiến,
kiến thức, nhận xét về xã hội, con ngƣời, thiên nhiên. Mỗi cuộc giao tiếp tối
thiểu phải có hai ngƣời và phải dùng cùng một ngôn ngữ nhất định.


8

Giao tiếp tồn tại dƣới hai dạng: giao tiếp bằng lời (giao tiếp miệng) và
giao tiếp bằng văn tự (giao tiếp viết).
Vấn đề đặt ra là tại sao con ngƣời lại phải giao tiếp với nhau? Câu trả
lời chỉ có thể tìm thấy trong mục đích và chức năng của giao tiếp. Vai trò mà
giao tiếp đảm nhận trong đời sống cộng đồng chính là chức năng của ngôn
ngữ. Giao tiếp có 4 chức năng chính:
Chức năng thông tin (chức năng thông báo): Qua các cuộc giao tiếp,
ngƣời ta trao đổi những thông tin (các tin tức thời sự, chính trị, các tri thức
khoa học, văn học nghệ thuật....) dƣới dạng nhận thức, tức là họ đã thực hiện

1. . . . Các nhân tố giao tiếp
Nhân tố giao tiếp là những yếu tố cùng có mặt và tham gia đồng thời
vào một hoạt động giao tiếp nào đấy, có ảnh hƣởng trực tiếp hoặc để lại
những dấu ấn trong hoạt động giao tiếp đó. Vậy có những nhân tố nào tham
gia vào hoạt động giao tiếp. Ngƣời ta thƣờng nhắc đến các nhân tố sau đây đã
tham gia và ảnh hƣởng đến các cuộc giao tiếp.
a) Nhân vật giao tiếp.
Nhân vật giao tiếp là những ngƣời tham gia vào cuộc giao tiếp. Nhân
vật giao tiếp có thể đƣợc chia làm hai loại nhân vật mà theo lý thuyết thông
tin gọi là ngƣời phát (bao gồm ngƣời viết hoặc nói) và ngƣời nhận ( bao gồm
ngƣời đọc hoặc nghe). Có nhiều yếu tố giữa hai loại nhân vật này ảnh hƣởng
đến kết quả giao tiếp nhƣ : trình độ và nghệ thuật nói năng của ngƣời nói;
mức độ quan hệ giữa ngƣời nói và ngƣời nghe.
b). Hiện thực được nói tới
Hiện thực đƣợc nói tới chính là sự vật, hiện tƣợng, những sự kiện diễn ra
trong thế giới tự nhiên và trong đời sống xã hội của con ngƣời. Hiện thực đƣợc
nói tới cấu thành nội dung của cuộc giao tiếp và tạo nên đề tài, chủ đề của các
cuộc nói chuyện. Tuỳ theo đề tài, chủ đề của các cuộc nói chuyện mà cả hai bên
lựa chọn các nội dung chi tiết và phƣơng tiện ngôn ngữ để giao tiếp.


10

c) Hoàn cảnh giao tiếp
Cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một bối cảnh cụ thể. Hoàn cảnh
giao tiếp đƣợc chia làm hai loại:
+ Hoàn cảnh giao tiếp rộng là tổng thể những đặc điểm về điều kiện tự
nhiên, xã hội, lịch sử.
+ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp còn gọi là tình huống giao tiếp, bao gồm
các yếu tố thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khoẻ.

"Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản thƣờng xuyên phổ biến của
hành chức ngôn ngữ" [Đại cương ngôn ngữ học trang 7-NXBGD-1996]
Diễn đạt lại cho cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu hơn thì hội thoại là hoạt
động giao tiếp bằng lời nói miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm
trao đổi những thông tin hoặc tƣ tƣởng, tình cảm… theo một mục đích đã đặt
ra. Lời nói trong hội thoại đƣợc gọi chung là lời thoại.
* Các kiểu hội thoại.
Có nhiều kiểu hội thoại khác nhau, tùy thuộc vào những nhân tố giao
tiếp đƣợc lấy làm cơ sở để phân chia, cụ thể là:
- Dựa vào nhân vật giao tiếp ngƣời ta chia thành hai kiểu: đơn thoại và đa
thoại.
+ Đơn thoại: là kiểu hội thoại chỉ có một ngƣời chủ động nói còn
những ngƣời khác đóng vai trò là ngƣời nghe, thậm chí nói cho chính bản
thân mình nghe (độc thoại). Lời nói trong đơn thoại gọi là lời độc thoại.
+ Đa thoại: là kiểu hội thoại giữa hai hay nhiều ngƣời cùng tham gia
hoạt động giao tiếp nói với nhau. Tùy thuộc vào số lƣợng cụ thể của ngƣời
tham gia giao tiếp mà ngƣời ta chia nhỏ thành: song thoại (hội thoại giữa hai
ngƣời), tam thoại (hội thoại giữa ba ngƣời), tứ thoại (hội thoại giữa bốn
ngƣời)… và đa thoại (nhiều ngƣời). Lời nói trong đa thoại là lời đối thoại, nó
phải nằm trong một mạch của nhiều lời nói do nhiều ngƣời nói lần lƣợt nối


12

tiếp nhau. Mỗi lời nói phải ăn nhập vào mạch chung của nội dung câu chuyện
thì mới đảm bảo cho cuộc hội thoại đạt kết quả tốt. Điều này đòi hỏi giữa
những ngƣời hội thoại phải có sự thỏa thuận ngầm với nhau về nội dung hội
thoại và đặc biệt là họ phải cùng nhau thực hiện tốt những quy tắc hội thoại
nhƣ: phải biết trao lời, tiếp lời đúng lúc; phải tôn trọng thể diện của nhau;
phải có ý thức hợp tác với nhau trong suốt quá trình triển khai cuộc thoại…

(nội dung đƣợc định trƣớc) và hội thoại tự do bao gồm nhiều kiểu đề tài khác nhau
nhƣ: đề tài học tập, đề tài thể thao, truyền thống dân tộc... Ngƣời tham gia hội thoại
cần nắm vững nội dung đề tài để chủ động lời nói cho phù hợp với mỗi tình huống
đặt ra. Kể chuyện là kiểu hội thoại bắt buộc, nội dung kể chuyện đƣợc định trƣớc.
Nhận xét bạn kể và thảo luận về bài học, lời khuyên từ câu chuyện là hội thoại tự
do.
. . . . Các vận động hội thoại
Nói đến hội thoại phải nói đến ngƣời nói và ngƣời nghe với những
hoạt động của ngƣời đó. Họ sẽ thực hiện những vận động chính của một cuộc
thoại là vận động trao lời, vận động đáp lời và vận động tƣơng tác.
* Vận động trao lời:
Trong hội thoại, thông thƣờng khi một ngƣời nào đó nói ra và hƣớng
lời nói của mình tới ngƣời nghe thì ngƣời đó đã thực hiện một vận động, ta
gọi đó là vận động trao lời (trừ trƣờng hợp độc thoại)
* Vận động đáp lời:
Sự đáp lời là một nhu cầu bức thiết của việc nói năng. Khi đã có ngƣời
trao lời mà không có sự đáp lời thì chƣa thể gọi là hội thoại. Trao lời và đáp
lời là hai vận động cơ bản của hội thoại, giữa chúng cần phải có sự phối hợp
nhịp nhàng với nhau, bởi thế ngƣời thực hiện vận động đáp lời cũng phải thể
hiện đƣợc sự nhiệt tình, cởi mở.. . sẵn sàng khi đáp lời để cuộc hội thoại tiến
triển và kết thúc tốt đẹp.
* Vận động tương tác:


14

- Vận động tƣơng tác là vận động tác động lẫn nhau, cùng làm cho
nhau biến đổi. Hội thoại là một vận động tƣơng tác vì những đối tƣợng tham
gia giao tiếp luôn có sự tác động lẫn nhau bằng lời nói, bằng điệu bộ, cử chỉ,
thái độ, ánh mắt…. Kết quả là dù ít hay nhiều, họ cũng sẽ làm cho nhau biến

giữ gìn thể diện cho nhau và cũng là cho chính bản thân mình. Khi giao tiếp,
ngƣời nói phải biết lựa chọn lời nói cho phù hợp với đặc điểm cá tính của
ngƣời nghe. Đồng thời đòi hỏi ngƣời nói phải biết khiêm tốn, không nên nói
quá nhiều về bản thân mình vì có thể nó sẽ khiến cho ngƣời nghe khó chịu.
Đây cũng là điều cần chú ý khi hội thoại.
* Quy tắc cộng tác hội thoại.
Ngƣời nói và ngƣời nghe cần có sự cộng tác với nhau trong suốt
quá trình hội thoại về các mặt: nội dung hội thoại, hình thức hội tho ại,
chất lƣợng hội thoại, quan hệ hội thoại…
Tóm lại, trên đây là những quy tắc hội thoại cơ bản nhất mà mỗi
chúng ta cần tôn trọng và thực hiện tốt để thể hiện tính văn hóa khi giao tiếp.
Những quy tắc này cũng là những cơ sở để cho ngƣời GV tìm ra nguyên nhân
thành công hay thất bại của mỗi cuộc giao tiếp do mình thực hiện, đồng thời
nó cũng là cơ sở để họ xây dựng các bài tập luyện nói với những yêu cầu khác
nhau nhằm rèn luyện kĩ năng nói trong thực hành giao tiếp cho HS.
1.1.3 Văn bản truyện với tư cách là phương tiện giao tiếp và để thực
hiện chức năng giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc
Giao tiếp trong văn bản truyện là hoạt động giao tiếp dùng câu
chuyện làm phƣơng tiện chuyển tải thông điệp giữa ngƣời ―phát‖ (nhà văn) và
ngƣời ―nhận‖ (độc giả). Văn bản truyện là một loại hình nghệ thuật dùng
ngôn ngữ và hình tƣợng để thể hiện đời sống và xã hội con ngƣời. Ngƣời sáng
tác làm ra tác phẩm để chuyển tải tƣ tƣởng, tình cảm của mình, ngƣời đọc nhờ
có tác phẩm mà tiếp nhận những tƣ tƣởng và tình cảm của ngƣời sáng tác.
―Tác phẩm‖ văn bản truyện là đơn vị cơ bản của văn bản truyện, là cầu nối, là


16

phƣơng tiện giao tiếp giữa ngƣời sáng tác và ngƣời đọc. Những hoạt động
―giao lƣu‖ giữa ngƣời sáng tác và ngƣời tiếp nhận qua tác phẩm văn bản

tƣợng cảm xúc này thƣờng rất mãnh liệt và đƣợc thể hiện bằng câu chữ, văn
bản. Ngƣời xƣa nói ―thi ngôn chí‖ (thơ bày tỏ lí tƣởng), ―Thi duyên tình‖ (thơ
bày tỏ tình cảm). Ngày nay, những sáng tác của các nhà văn ít nhiều đều
đƣợc hình thành từ nhu cầu muốn giải thoát nội tâm. Từ mong muốn giao
tiếp, mong muốn giải thoát nội tâm, sáng tạo nghệ thuật đã trở thành một nhu
cầu mãnh liệt một phƣơng tiện mạnh mẽ để giải thoát những tình cảm bị dồn
nén của nhà văn. Nhƣ vậy có thể nói nhƣ Phƣơng Lựu ―Sáng tác văn chƣơng
là một nhu cầu giao tiếp, là một hoạt động giao tiếp với đời sống, với mọi
ngƣời, và với chính bản thân chủ thể sáng tạo.‖ (dẫn theo Nguyễn Văn Lê,
Nhập môn khoa học giao tiếp, trang 224).
Sự đồng cảm chia sẻ của nhà văn bao giờ cũng có ý nghĩa giải bày,
thuyết phục, mong muốn ngƣời khác thấu hiểu những điều mà ông ta quan
sát, suy nghĩ và thể nghiệm. Bằng ―tác phẩm‖ của mình, nhà văn cung cấp
cho ngƣời đọc những hiểu biết mới về con ngƣời và xã hội đồng thời cũng tạo
ra những nhu cầu mới cho ngƣời đọc, thậm chí là tạo ra những bạn đọc mới.
b. Văn bản truyện là hoạt động giao tiếp, đối thoại giữa ngƣời đọc và
nhà văn qua tác phẩm.
Tiếp nhận câu chuyện là hoạt động của ngƣời đọc nhằm chiếm lĩnh
các giá trị cũng nhƣ nghệ thuật của tác phẩm văn bản truyện. Con ngƣời thực
hiện việc tiếp nhận văn bản truyện qua hai con đƣờng hoặc nghe, hoặc đọc
―tác phẩm‖. Hoạt động tiếp nhận văn bản truyện bắt đầu từ việc tiếp xúc với
văn bản ngôn từ (nói hoặc viết) với hình tƣợng nghệ thuật, tiếp theo là phân
tích, lí giải, lĩnh hội những giá trị đƣợc hình thành từ hệ thống ngôn ngữ và
hình tƣợng, cuối cùng là đánh giá tƣ tƣởng, thái độ, cảm hứng nghệ thuật của
nhà văn qua hệ thống ngôn ngữ và hình tƣợng. Tiếp nhận văn bản truyện là
một hoạt động ―giao lƣu‖, khám phá, một hoạt động nhận thức của bạn đọc về


18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status