Nghiên cứu kiến trúc hướng dịch vụ và ứng dụng dịch vụ web vào hệ thống thông tin địa lý - Pdf 42

LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Khoa Công Nghệ Thông Tin trường Đại Học
CNTT&TT đã tạo điều kiện tốt cho em thực hiện đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn tới Cô giáo Th.s Phạm Bích Trà đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Và em cũng xin chân thành cảm ơn tới các quý Thầy Cô trong khoa đã tận
tình giảng dạy, trang bị cho chúng em những kiến thức quý báu trong những năm
học vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, các anh chị và bạn bè đã giúp đỡ, ủng
hộ và động viên em trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Mặc dù em cũng đã cố gắng hoàn thành thật tốt đồ án. Nhưng do còn hạn
chế về mặt kiến thức và kinh nghiệm nên em không thể tránh khỏi những sai sót
và khuyết điểm. Em xin kính mong nhận được sự cảm thông và chỉ bảo góp ý
của các quý Thầy Cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Chải

1


LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp đúng thời gian quy định và đáp ứng được
nhu cầu đề ra, bản thân em đã cố gắng nghiên cứu, học tập và làm việc trong thời
gian dài cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Thạc Sỹ Phạm Bích Trà và
sự giúp đỡ của các anh chị, các bạn sinh viên cùng bộ môn. Em đã tham khảo
một số tài liệu nêu trong phần “tài liệu tham khảo” và không sao chép nội dung
từ bất kỳ đồ án nào khác. Toàn bộ đồ án là do em xây dựng nên.
Em xin cam đoan những lời nói trên là hoàn toàn đúng sự thật mọi thông
tin sai lệch em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng.


Chương 2 HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ VÀ CÁC CHUẨN OPENGIS
................................................................................................................................37
2.1 Hệ thống thông tin địa lý (GIS)...........................................................................37
2.1.1 Khái niệm GIS.............................................................................................37
2.1.2 Các thành phần của GIS..............................................................................37
2.1.3 Thành phần dữ liệu GIS...............................................................................38
3


2.1.4 Hệ thống thông tin địa lý trên Web và các thách thức..................................42
2.1.5 Kiến trúc hệ thống thông tin địa lý trên web..............................................42
2.2 Các chuẩn mở OpenGIS......................................................................................45
2.2.1 Web Map Service .......................................................................................46
2.2.2 Web Feature Service ...................................................................................47

Chương 3 ỨNG DỤNG DỊCH VỤ WEB VÀO HỆ THỐNG THÔNG TIN
ĐỊA LÝ..................................................................................................................50
3.1 Xây dựng hệ thống thông tin trên Web với mã nguồn mở...................................51
3.2 Các vấn đề liên quan đến bài toán và phương hướng giải quyết..........................53
3.3 Sơ đồ kiến trúc chi tiết áp dụng...........................................................................54
3.4 Khảo sát hệ thống.................................................................................................55
3.5 Phân tích - thiết kế................................................................................................62
3.5.1 Xây dựng mô hình Use-Case........................................................................62
3.5.2 Thiết kế cơ sở dữ liệu..................................................................................68

KẾT LUẬN...........................................................................................................74

4





trọng phát triển bởi cả cơ quan nhà nước và cộng động doanh nghiệp và được kỳ
vọng sẽ đem đến một hướng phát triển mới đầy tiềm năng.
Vì vậy, nội dung chính đề tài của em là “Nghiên cứu kiến trúc hướng
dịch vụ và xây dựng ứng dụng dịch vụ web vào hệ thống thông tin địa lý”,
khả năng xây dựng ứng dụng WebGIS trên cơ sở mã nguồn mở, trên cơ sở đó
ứng dụng xây dựng WebGIS phục vụ phân tích số liệu bản đồ.

6


Chương 1 KIẾN TRÚC HƯỚNG DỊCH VỤ (SOA) VÀ
WEBSERVICE

1.1 Kiến trúc hướng dịch vụ (SOA)
1.1.1 Khái niệm về kiến trúc hướng dịch vụ
Kiến trúc hướng dịch vụ (Service-Oriented Architecture - SOA) là một
hướng tiếp cận với việc thiết kế và tích hợp các phần mềm, chức năng, hệ thống
theo dạng module, trong đó mỗi module đóng vai trò là một “dịch vụ” (service)
tự hoạt động và liên kết lỏng lẻo, và có khả năng truy cập thông qua môi trường
mạng. Hiểu một cách đơn giản thì một hệ thống SOA là một tập hợp các dịch vụ
được chuẩn hóa trên mạng trao đổi với nhau trong một ngữ cảnh tiến trình nghiệp
vụ. Một giải pháp SOA bao gồm một tập các dịch vụ nghiệp vụ mà thực hiện một
quy trình nghiệp vụ.
SOA là một kiểu kiến trúc có khả năng mở rộng, bao gồm các service có
khả năng tương tác, khả năng khám phá, tự trị, có thể phục vụ cho nhiều khách
hàng khác nhau, và có khả năng sử dụng lại.
 Một Architecture: Là một mô tả có tính hình thức của hệ thống, xác định
mục đích, chức năng, thuộc tính, giao diện, … của hệ thống. Nó cũng bao gồm

dính của hệ thống ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chỉnh sửa hệ thống. Kết dính
càng chặt bao nhiêu thì có nhiều thay đổi chỉnh sửa khi có sự thay đổi nào đó xảy

8


ra. Mức độ coupling tăng dần khi bên sử dụng dịch vụ càng cần biết nhiều thông
tin ngầm định của bên cung cấp dịch vụ để sử dụng dịch vụ được cung cấp.
Nghĩa là nếu bên sử dụng dịch vụ biết vị trí và chi tiết định dạng dữ liệu của bên
cung cấp dịch vụ thì quan hệ càng chặt. Ngược lại, nếu bên sử dụng dịch vụ
không cần biết mọi thông tin chi tiết của dịch vụ trước khi triệu gọi nó thì quan
hệ giữa 2 bên càng có tính loose coupling.
Loose coupling làm cho sự phụ thuộc là nhỏ nhất. Khi sụ phụ thuộc là nhỏ
nhất thì sự thay đổi là có ảnh hưởng nhỏ nhất và hệ thống vẫn có thể chạy khi có
thành phần nào đó bị hỏng. Sự phụ thuộc là nhỏ nhất nó làm cho hệ thống linh
hoạt, và lỗi xảy ra là ít.
SOA hỗ trợ tính loose coupling thông qua việc sử dụng hợp đồng và ràng
buộc (contract and binding). Một người sử dụng truy vấn đến nơi lưu trữ và cung
cấp thông tin dịch vụ (service registry) để lấy thông tin về loại dịch vu cần sử
dụng. Registry sẽ trả về tất cả các dịch vụ tìm kiếm. Cho nên người dùng chỉ việc
chọn dịch vụ mà mình cần tìm, và thực thi phương thức trên đó theo mô tả dịch
vụ nhận được từ registry. Bên sử dụng không cần phụ thuộc trực tiếp vào cài đặt
của dịch vụ mà chỉ dựa trên hợp đồng mà dịch vụ đó hỗ trợ.
Tính loose coupling giúp gỡ bỏ những ràng buộc điều khiển giữa những hệ
thống đầu cuối. Mỗi hệ thống có thể tự quản lý độc lập nhằm tăng năng xuất, khả
năng mở rộng và khả năng đáp ứng cao. Những thay đổi cài đặt cũng được che
dấu đi. Loose coupling đem đến sự độc lập giữa bên cung cấp và bên sử dụng
nhưng nó đòi hỏi các giao diện phải theo chuần và cần một thành phần trung gian
quản lý, trung chuyển yêu cầu giữa các hệ thống đầu cuối.
 Sử dụng lại dịch vụ

nghiệp vụ trong khi nhóm điều hành và nhóm hỗ trợ tập trung vào các luật kết
hợp.
 Khả năng cộng tác
Kiến trúc hướng dịch vụ nhấn mạnh đến khả năng cộng tác, khả năng mà
các hệ thống có thể giao tiếp với nhau trên nhiều nền tảng và ngôn ngữ khác
nhau. Mỗi dịch vụ cung cấp một giao diện có thể được triệu gọi thông qua một
dạng kết nối. Một kết nối gọi là interoperable chứa bên trong nó một giao thức và
10


một định dạng dữ liệu mà mỗi client kết nối đến nó đều hiểu. Khả năng cộng tác
đạt được bằng cách hỗ trợ các giao thức và định dạng dữ liệu chuẩn của dịch vụ
và các client. Kỹ thuật này đạt được bằng cách ánh xạ mỗi tính chất và ngôn ngữ
qua một đặc tả trung gian. Đặc tả trung gian này sẽ chịu trách nhiệm ánh xạ giữa
định dạng của dữ liệu khả kết (interopersble) đến định dạng dữ liệu tùy thuộc
vào nền tảng hệ thống.
 Tự động dò tìm và ràng buộc động
SOA hỗ trợ khái niệm truy tìm dịch vụ (service discovery). Một người sử
dụng cần đến một dịch vụ nào đó có thể tìm kiếm dịch vụ dựa trên một số tiêu
chuẩn khi cần. Người sử dụng chỉ cần hỏi một registry về một dịch vụ nào thỏa
yêu cầu tím kiếm. Ví dụ, một hệ thống chuyển khoản (consumer) yêu cầu một
registry tìm tất cả các dịch vụ có khả năng kiểm tra thẻ tín dụng. Registry trả về
một tập các entry thỏa yêu cầu. Các entry chứa thông tin về dịch vụ, bao gồm cả
phí giao dịch. Bên sử dụng sẽ chọn một dịch vụ có phí giao dịch thấp nhất trong
danh sách các dịch vụ trả về, kết nối đến nhà cung cấp dịch vụ dựa trên thông tin
registry entry để sử dụng dịch vụ kiểm tra thẻ tín dụng. Trong phần mô tả dịch vụ
kèm theo đã có tất cả các tham số cần thiết dùng để thực thi dịch vụ, bên sử dụng
chỉ cần định dạng dữ liệu yêu cầu đúng theo mô tả cung cấp và gửi đi. Nhà cung
cấp dịch vụ sẽ thực thi kiểm tra thẻ tín dụng và trả về một thông điếp có định
dạng đúng như trong phần mô tả dịch vụ. Mối ràng buộc duy nhất giữa bên cung

1.1.3 Lợi ích của SOA
► Sử dụng lại những thành phần có sẵn
Như một công ty bán lẻ có thể có một nhóm phần mềm cho hệ thống phân
phối, một nhóm phần mềm cho hệ thống lưu kho và một nhóm phần mềm cho
những chức năng liên kết. Thông thường những nhóm phần mềm này đựơc phát
triển trên nhiều nền tảng khác nhau, sử dụng nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau
và thường có nhiều tính năng lặp lại giữa chúng. Một hệ thống SOA cho phép
các công ty tránh tình trạng lặp dư thừa, tạo ra những đơn thể dịch vụ chia sẻ
giữa các ứng dụng. Thay vì phải “thay đổi” , với SOA ta chỉ cần tạo ra các “cầu
nối” liên hệ giữa những hệ thống và ứng dụng khác nhau, thay vì chỉnh sửa hoặc
xây dựng lại từ đầu. Bởi vì có đa phần các dịch vụ mới sử dụng lại những dịch vụ
12


sẵn có nên chi phí phát triển các thành phần mới được giảm đến mức tối thiểu.
Nghĩa là :


Nhằm giảm tính dư thừa.

• Các công ty có thể triển khai những tiến trình xử lý mới nhanh hơn
rất nhiều.
• Chi phí dành cho phát triển và kiểm thử giảm đáng kể
• Giảm rủi ro khi dịch vụ tạm ngưng hoạt động


Rủi ro về lỗi phần mềm giảm đi và tăng chất lượng dịch vụ.




thông tin nhỏ vừa đủ để sử dụng dịch vụ. Tương tự cho điều ngược lại, nếu đối
tác đã xây dựng một hệ thống SOA thì việc đem sử dụng chức năng một số dịch
vụ của họ vào sử dụng bên trong hệ thống của mình cũng trở nên dễ dàng và
nhanh chóng. Đặc tính này của SOA hứa hẹn tăng hiệu suất và tự động hoá. Cuối
cùng một lợi ích là tăng khả năng triển khai.
► Thích ứng với những thay đổi trong tương lai
Các phương pháp tiếp cận truyền thống trong quy trình phát triển phần mềm
có thể mô tả ngắn gọn là người dùng mô tả họ cần gì – công ty phát triển phần
mềm – triển khai hệ thống theo yêu cầu. Quy trình này đôi khi gặp khó khăn khi
gặp những tình huống thay đổi không định trước. Với SOA, công ty phát triển
phần mềm có thể tạo nên những quy trình nghiệp vụ uyển chuyển, phức tạp biến
đổi tùy “theo yêu cầu” và theo “thời gian thực“.
► Hỗ trợ đa thiết bị và đa nền tảng
SOA cung cấp một tầng giao tiếp trừu tượng từ các nền tảng bên dưới. Điều
này cho phép hỗ trợ nhiều loại thiết bị đầu cuối khác nhau bao gồm cả những
trình duyệt và thiết bị di động như pager, điện thoại di động, PDA và các thiết bị
chuyên dụng khác sử dụng cùng một chức năng mà vẫn có thông tin trả về tùy
theo dạng thiết bị. Tính độc lập công nghệ này giúp cho các công ty tiết kiệm chi
phí rất nhiều nhất là khi phải xử lý với vô số công nghệ hiện đang được sử dụng.
► Tăng khả năng mở rộng và khả năng sẵn sàng cung cấp
Nhờ tính độc lập địa chỉ của SOA, ta có thể tăng khả năng mở rộng bằng
cách thêm nhiều thể hiện (instance) của một service. Công nghệ chia tải (load14


balancing) sẽ tự động tìm và định tuyến yêu cầu đến thể hiện service thích hợp.
Tương tự, SOA có thể chuyển tiếp nội dung yêu cầu đến một thể hiện khác khi
cần,nhờ đó tăng khả năng sẵn sàng phục vụ.
Cần nhấn mạnh là lợi ích mà SOA mang lại không phải là ít mà là rất ấn
tượng. Thực tế giá trị kinh tế mà SOA mang lại lớn đến nỗi các tạp đoàn trên thế
giới đang suy xét xem làm thế nào để chuyển toàn bộ các kiến trúc phần mềm có

đưa đến việc cài đặt và cấu hình cho các thành phần phân tán, các giao diện
dịch vụ, và nhiều sản phẩm trung gian (middleware products) kết hợp với
nhau thành những server.
● Pha quản trị dịch vụ (Service administration): Sau khi các dịch vụ
được triển khai, vấn đề quản lý các ứng dụng trở thàn hàng đầu, mối quan tâm
cho hệ thống phân tán, và các ứng dụng dựa trên các thành phần (componentbased applications), ngoại trừ chúng là áp dụng cho các dịch vụ như một tổng
thể.
 Phương pháp top-down (The top-down strategy)
Trong xây dựng một hệ thống SOA, thì phương pháp top-down là phương
pháp mà điểm xuất phát của nó sẽ là từ các yêu cầu ngiệp vụ để xác định các yêu
cầu chức năng, các tiến trình và tiến trình con, các trường hợp sử dụng (use
cases) để tới xác định các thành phần hệ thống (components), các dịch vụ, …
Trong phương pháp top-down hỗ trợ tạo ra các bước để hình thành tầng
dịch vụ (service layers). Phương pháp này phổ biến để đưa ra những kiến trúc
dịch vụ có chất lượng cao, trong quá trình tạo ra nhiều những nghiệp vụ được sử
dụng lại và các dịch vụ ứng dụng.

16


Hình 1.3 – Quy trình các bước của phương pháp top-down
 Bước 1: Define relevant ontology: Bước này là để xác định, phân loại
các tập thông tin được xử lý bởi các cơ cấu tổ chức của hệ thống. Các kết quả
này là các từ vựng phổ biến, như sự định nghĩa mối quan hệ giữa các tập thông
tin này với tập thông tin khác là như thế nào. Các tổ chức có phạm vi rộng lớn
hơn cùng với nhiều phạm vi nghiệp vụ có thể có vài ontology, với mỗi sự cai
quản thì các nghiệp vụ chia ra một cách rõ ràng. Nếu có nhiều từ vựng nghiệp vụ
không tồn tại cho bất cứ các tập thông tin nào mà một giải pháp được yêu cầu
thực hiện, thì bước này nó sẽ được định nghĩa. Một số lượng đáng kể của tập các
thông tin trước và kết quả phân tích nghiệp vụ ở mức cao có thể là được yêu cầu.


Hình 1.4 – Quy trình các bước của phương pháp bottom-up
 Bước 1: Model application services: Trong bước này kết quả là sự định
nghĩa của các yêu cầu ứng dụng được thỏa mãn thông qua việc sử dụng Web
service. Các yêu cầu này bao gồm những thiết lập lên các kênh tích hợp point-topoint giữa hệ thống cũ (legacy system) hoặc giải pháp B2B (Business-to-

18


Business). Các yêu cầu phổ biến khác sẽ hiện ra để thay công nghệ truyền thông
truyền thống bằng những framework truyền thông điệp SOAP.
Các dịch vụ ứng dụng cũng sẽ được mô hình hóa bao gồm các logic và
quy tắc cho nghiệp vụ cụ thể. Trong trường hợp này, nó là giống như hai tầng
dịch vụ ứng dụng là sẽ hiện ra, gồm có các dịch vụ tiện ích và nhân bản.
 Bước 2: Design applicaion services: Một vài các dịch vụ ứng dụng được
mô hình hóa trong bước 1 có thể được trình bày bằng thành bản thiết kế. Các
dich vụ có thể cung cấp thêm vào cho thiết kế. Các dịch vụ ứng dụng tùy ý sẽ cần
được trải qua quá trình thiết kế, ở một khía cạnh nào đó thì tồn tại những chuẩn
thiết kế được áp dụng để đảm bảo mức độ vững chắc.
 Bước 3: Deploy application service: Các dịch vụ ứng dụng được phát
triển theo sự mô tả dịch vụ và bản thiết kế chi tiết ứng dụng.
 Bước 4: Test service: Các dịch vụ, môi trường kết hợp của chúng, và
logic của những hệ thống cũ là được kiểm thử để đảm bảo chắc chắn rằng xử lý
các yêu cầu là phù hợp. Sự thực thi và tiêu chuẩn kiểm thử được nhấn mạnh
thường là được thiết lập lên các tham số cho hệ thống cũ thông qua các dịch vụ.
Kiểm tra bảo mật cũng là phần quan trọng của giai đoạn này.
 Bước 5: Deploy services: Những giải pháp và các dịch vụ ứng dụng của
nó là được triển khai thành sản phẩm. Sự cân nhắc thực thi cho các dịch vụ ứng
dụng thường bao gồm sự thực thi và các yêu cầu bảo mật.
 Phần lớn các tổ chức hiện nay là đang xây dựng Web service áp dụng

giao thức chuẩn SOAP (Simple Object Access Protocol) và đặc tả Web
Service dựa trên ngôn ngữ WSDL (Web Services Description Language).
Những tài liệu XML chứa các thông tin để trao đổi giữa các thành phần.
Trong khi đó, SOAP cung cấp chuẩn đóng gói và định tuyến cho việc trao đổi
20


những tài liệu XML trên một mạng, còn WSDL cho phép tổ chức đặc tả
những tài liệu XML và những thông điệp mà nó phải sử dụng để tương tác với
những Web Service. Cuối cùng là UDDI (Universal Description, Discovery,
and Integration) cho phép những tổ chức đăng ký những Web Service của họ
với một thư mục chung, vì vậy những client có thể xác định được những Web
Service của họ và biết làm thế nào để truy xuất đến chúng.
Dữ liệu và các ứng dụng từ máy tính cá nhân tới các máy phục vụ của một
nhà cung cấp dịch vụ web. Các máy phục vụ này cũng cần trở thành nguồn cung
cấp cho người dùng cả về độ an toàn, độ riêng tư và khả năng truy cập. Các máy
phục vụ ứng dụng sẽ là phần quan trọng của các Web Service bởi vì thường thì
các máy phục vụ này thực hiện các hoạt động ứng dụng phức tạp dựa trên sự
chuyển giao giữa người sử dụng và các chương trình kinh doanh hay các cơ sở
dữ liệu của một tổ chức nào đó.
Web Service là công nghệ tương đối mới mà nó nhận được sự hưởng ứng
rộng lớn, một trong đó là khả năng thực thi kiến trúc hướng dịch vụ (SOA). Đây
là điều tạo sao Web Service cung cấp khả năng phân tán cho những ứng dụng
không đồng nhất với nhau qua mạng Interrnet. Những đặc tả Web Service không
lệ thuộc vào các ngôn ngữ lập trình, hê điều hành và phần cứng. Công nghệ của
Web Service dựa trên các công nghệ mở như:
 eXtensible Markup Language (XML)
 Simple Object Access Protocol (SOAP)
 Universal Description, Discovery and Integration (UDDI)
 Web Service Description Language (WSDL)

phần mềm khác nhau chạy trên những nền tảng khác nhau.
 Sử dụng các giao thức và chuẩn mở. Giao thức và định dạng dữ liệu dựa

trên văn bản giúp các lập trình viên dễ dàng hiểu được.
 Nâng cao khả năng tái sử dụng.
 Thúc đẩy đầu tư các hệ thống phần mềm đã tồn tại bằng cách cho phép

các tiến trình/chức năng nghiệp vụ đóng gói trong giao diện dịch vụ Web.
 Tạo mối quan hệ tương tác lẫn nhau và mềm dẻo giữa các thành phần

trong hệ thống, dễ dàng cho việc phát triển các ứng dụng phân tán.
 Thúc đẩy hệ thống tích hợp, giảm sự phức tạp của hệ thống, hạ giá thành

hoạt động, phát triển hệ thống nhanh và tương tác hiệu quả với hệ thống của các
doanh nghiệp khác.
► Nhược điểm:

22


 Những thiệt hại lớn sẽ xảy ra vào khoảng thời gian chết của dịch vụ Web,

giao diện không thay đổi, có thể lỗi nếu một máy khách không được nâng cấp,
thiếu các giao thức cho việc vận hành.
Có quá nhiều chuẩn cho dịch vụ Web khiến người dùng khó nắm bắt.
 Phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề an toàn và bảo mật.

1.2.4 Kiến trúc web service

Hình 1.6: Kiến trúc web service

tính phổ biến và hiệu quả mã nguồn mở.
Do dịch vụ Web là sự kết hợp của nhiều thành phần khác nhau nên nó sử
dụng các tính năng và đặc trưng của các thành phần đó để giao tiếp. XML là
công cụ chính để giải quyết vấn đề này và là kiến trúc nền tảng cho việc xây
dựng một dịch vụ Web, tất cả dữ liệu sẽ được chuyển sang định dạng thẻ XML.
Khi đó, các thông tin mã hóa sẽ hoàn toàn phù hợp với các thông tin theo chuẩn
của SOAP hoặc XML-RPC và có thể tương tác với nhau trong một thể thống
nhất.
● SOAP - Simple Object Accesss Protocol
SOAP là một giao thức giao tiếp có cấu trúc như XML. Nó được xem là
cấu trúc xương sống của các ứng dụng phân tán được xây dựng từ nhiều ngôn
ngữ và các hệ điều hành khác nhau. SOAP là giao thức thay đổi các thông điệp
dựa trên XML qua mạng máy tính, thông thường sử dụng giao thức HTTP.

24


Một client sẽ gửi thông điệp yêu cầu tới server và ngay lập tức server sẽ gửi
những thông điệp trả lời tới client. Cả SMTP và HTTP đều là những giao thức ở
lớp ứng dụng của SOAP nhưng HTTP được sử dụng và chấp nhận rộng rãi hơn
bởi ngày nay nó có thể làm việc rất tốt với cơ sở hạ tầng Internet.
 Cấu trúc một thông điệp theo dạng SOAP
Thông điệp theo định dạng SOAP là một văn bản XML bình thường bao gồm các
phần tử sau:

Hình 1.7 - Cấu trúc thông điệp SOAP
▪ Phần tử gốc - envelop: phần tử bao trùm nội dung thông điệp, khai báo
văn bản XML như là một thông điệp SOAP.
▪ Phần tử đầu trang – header: chứa các thông tin tiêu đề cho trang, phần
tử này không bắt buộc khai báo trong văn bản. Header còn có thể mang những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status