Công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực quân đội nhân dân việt nam giai đoạn hiện nay - Pdf 42

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Các số
liệu, tài liệu sử dụng trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Đức Lự


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG
TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG XÂY
DỰNG CHÍNH QUY Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ CÁC BINH
ĐOÀN CHỦ LỰC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1.1.
Đơn vị cơ sở và xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các
binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam
1.2.
Những vấn đề cơ bản về công tác đảng, công tác chính
trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binh
đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CÔNG


Trang

5
10

28
28
44

73
73
95

112
112

127
171
173


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

174
190


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT


Công tác đảng, công tác chính trị
Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng ủy Quân sự Trung ương
Đơn vị cơ sở
Hà Nội
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân

CTĐ, CTCT
ĐCSVN
ĐUQSTW
ĐVCS
H
Nxb. QĐND

Quân ủy Trung ương

QUTW

13

Sẵn sàng chiến đấu

SSCĐ

14

Tổng cục Chính trị

TCCT

và CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam;
đánh giá đúng thực trạng, rút ra những kinh nghiệm CTĐ, CTCT trong XDCQ;
xác định yêu cầu, đề xuất giải pháp tăng cường CTĐ, CTCT trong XDCQ ở
ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay.
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy là yêu cầu khách
quan, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo đảm cho quân đội luôn
tập trung thống nhất, chặt chẽ về tổ chức và hoạt động; chuẩn mực về lễ tiết,
tác phong quân nhân; nghiêm minh về kỷ luật; tập trung thống nhất trong lãnh
đạo, chỉ huy, hiệp đồng tác chiến; mọi quân nhân có ý chí, trách nhiệm cao
trong huấn luyện, SSCĐ và công tác. XDCQ đã trở thành nhiệm vụ cơ bản,
thường xuyên của các cơ quan, ĐVCS trong toàn quân.


6
CTĐ, CTCT trong xây dựng chính quy luôn giữ vai trò đặc biệt quan
trọng, là nhân tố quyết định giữ vững định hướng chính trị, tạo nên sự thống nhất
ý chí và hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao chất lượng, hiệu
quả XDCQ. Tiến hành CTĐ, CTCT trong XDCQ vừa là vấn đề có tính nguyên
tắc, vừa là nội dung, nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết đối với các cấp ủy, tổ chức đảng,
cơ quan chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên và cán bộ, đảng viên ở
ĐVCS trong toàn quân hiện nay.
Đơn vị cơ sở ở các BĐCL có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong
quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ; huấn luyện quân sự, trực ban sẵn
sàng chiến đấu, XDCQ, thực hiện chức năng, nhiệm vụ chiến đấu, sản xuất,
công tác của các BĐCL. Nhiệm vụ XDCQ và CTĐ, CTCT trong XDCQ của
các BĐCL được thực hiện chủ yếu ở ĐVCS. Tiến hành CTĐ, CTCT trong
XDCQ ở ĐVCS là vấn đề đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần xây dựng
đơn vị cơ sở VMTD, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu
của các BĐCL ngang tầm đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ xây dựng quân đội

BĐCL đang diễn biến nhanh chóng và ngày càng phức tạp đang đặt ra đòi hỏi
phải tăng cường CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL.
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Công tác đảng, công tác chính
trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân
dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ Xây dựng Đảng và
Chính quyền Nhà nước. Đây là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Luận giải làm rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn và đề
xuất những giải pháp tăng cường CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các
BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về XDCQ và CTĐ, CTCT
trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam.


8
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm
CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp tăng cường CTĐ,
CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam giai
đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL
Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn, thực trạng, kinh nghiệm, yêu cầu và giải pháp CTĐ, CTCT
trong XDCQ ở ĐVCS đủ quân, làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ ở các BĐCL
Quân đội nhân dân Việt Nam.
Các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát ở ĐVCS các BĐCL (Binh đoàn

tăng cường CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân
Việt Nam giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sâu sắc hơn những vấn
đề lý luận về CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL; cung cấp thêm
cơ sở khoa học giúp cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị
các cấp nghiên cứu, vận dụng vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tiến
hành CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS. Luận án có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn CTĐ,
CTCT ở các học viện, trường sĩ quan quân đội.
8. Kết cấu của luận án
Gồm phần: Mở đầu; 3 chương (6 tiết); kết luận; danh mục các công
trình của tác giả đã được công bố; danh mục các tài liệu tham khảo; phụ
lục.


10
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Vấn đề xây dựng quân đội chính quy và CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ xây
dựng quân đội chính quy đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước và
nước ngoài có liên quan được công bố dưới dạng sách, giáo trình, tài liệu
tham khảo, đề tài khoa học nghiên cứu cơ bản, đề tài luận án, các bài báo
khoa học, các bài viết tham gia hội thảo khoa học... Theo đó, tác giả lựa chọn
tổng quan về một số công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án.
1. Các công trình nghiên cứu về xây dựng quân đội chính quy
1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về xây dựng quân
đội chính quy
“Các lực lượng vũ trang Liên Xô” [20] ; “Lực lượng vũ trang các
nước trên thế giới” [84]; “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thế kỷ

Chính quy hóa là bước đi tất yếu của mọi quân đội khi mà tổ chức quân
đội đã phát triển đến một trình độ hoàn chỉnh nhất định. Quân đội càng
tiến lên hiện đại thì yêu cầu tập trung thống nhất càng cao, vấn đề chính
quy hóa càng phải được đẩy mạnh” [67, tr.135].
Đồng thời, tác giả chỉ rõ: chính quy hóa là thực hiện sự thống nhất quân
đội về mặt tổ chức dựa trên những chế độ, điều lệnh, quy định nhằm đưa toàn
bộ hoạt động của quân đội vào nền nếp thống nhất, nâng cao tính tổ chức, tính
tập trung, tính kỷ luật, tính khoa học, đạt đến trình độ kiên quyết và nhất trí
cao, đến sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận của quân đội trong chiến
tranh. Chính quy hóa gắn với việc xây dựng, ban hành và không ngừng hoàn
thiện các chế độ, điều lệnh, điều lệ và việc chấp hành các chế độ, điều lệnh,
điều lệ đó. Yêu cầu về xây dựng chính quy quân đội phải trên cơ sở các
nguyên tắc về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản và cần phải
xuất phát từ tình hình và nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu
không ngừng phát triển của quân đội. Để đẩy mạnh chính quy hóa quân đội,
một trong những vấn đề hết sức quan trọng là phải nâng cao ý thức tổ chức và


12
kỷ luật của quân đội. Cần phải tiếp tục làm cho bộ đội có nhận thức sâu sắc về
vai trò và yêu cầu của kỷ luật đối với một quân đội chính quy, hiện đại; phải tạo
nên một bước chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tổ chức, kỷ luật cũng như nền nếp
quản lý bộ đội, làm cho toàn quân nghiêm chỉnh thực hiện các chế độ, điều lệnh,
điều lệ, triệt để chấp hành mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Trong quá trình
đẩy mạnh chính quy hóa quân đội, cần phải giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa
tập trung và dân chủ, giữa sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và vai trò của người chỉ
huy, chủ trì, quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới. Phải kết
hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức, gắn chặt việc giáo dục
thuyết phục với việc rèn luyện, quản lý nghiêm ngặt; kết hợp nâng cao tính tự
giác với yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ cần phải làm; tiến hành thưởng

thống nhất về kỷ luật (khen thưởng và xử phạt …). Thực hiện đầy đủ, có chất
lượng và hiệu quả các nội dung chính quy hóa quân đội là:
“nhằm nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật, tính tập trung thống nhất, tính
khoa học trong toàn bộ hoạt động của quân đội, tăng cường sự thống nhất
đến mức cao độ của quân đội ta cả trong chiến đấu, xây dựng, học tập,
công tác và sinh hoạt, khiến cho quân đội ta khi hành động thì trăm vạn
người chỉ như một người, phát huy đến mức cao độ sức mạnh của mình,
chiến thắng quân thù, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ” [30, tr. 6].
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề xây
dựng sức mạnh tổng hợp của quân đội càng trở nên cấp thiết. Nghiên cứu về
“Xây dựng quân đội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
[74], Đại tướng Đoàn Khuê nhấn mạnh:
“Vấn đề mấu chốt hiện nay là tập trung sức tạo một bước chuyển
biến mạnh mẽ về chất lượng tổng hợp, toàn diện của quân đội nhân dân
trong đó lấy chất lượng chính trị làm cơ sở, bảo đảm cho quân đội luôn
là một lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy
của Đảng, của Nhà nước và nhân dân” [74, tr. 251].


14
Nội dung xây dựng sức mạnh tổng hợp của quân đội bao gồm: Xây
dựng quân đội nhân dân thực sự là quân đội cách mạng; tập trung xây dựng
quân đội thực sự chính quy, có trình độ tổ chức kỷ luật cao, tự giác và nghiêm
minh, bảo đảm cho toàn quân, từ ĐVCS đến các học viện, nhà trường và các
cơ quan chiến lược, là một khối thống nhất, vững chắc trong tư tưởng và hành
động, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao
phó; tiếp tục chấn chỉnh, ổn định tổ chức, biên chế quân đội, phù hợp với yêu
cầu của thời bình và sẵn sàng đối phó có hiệu quả với các tình huống xảy ra;
nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội theo yêu cầu mới của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và vấn đề xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại.

tình huống. Đây là những khối lượng kiến thức mà tác giả có thể tiếp thu có
chọn lọc để tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận của đề tài luận án.
Đề tài “Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân về mọi mặt trong giai
đoạn mới” [169], là đề tài thuộc Chương trình khoa học “Những luận cứ khoa
học của chiến lược quốc phòng - an ninh trong giai đoạn mới”, mã số KX-0913, theo Quyết định 246-CT, ngày 08 tháng 8 năm 1991 của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Mục tiêu của đề tài bao gồm
việc xác định những luận cứ khoa học xây dựng Lực lượng vũ trang nhân dân
trong giai đoạn mới; kiến nghị phương hướng và giải pháp tổng quát xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân, giải pháp riêng xây dựng Quân đội nhân
dân và Công an nhân dân. Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm bộ đội chủ
lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; an ninh nhân dân, cảnh sát nhân
dân, bộ đội biên phòng và an ninh quần chúng, là những lực lượng nòng cốt
của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; trong đó, đối tượng nghiên
cứu chủ yếu là Quân đội nhân dân gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương
và Công an nhân dân gồm an ninh nhân dân và cảnh sát nhân dân. Phạm vi
nghiên cứu của đề tài KX-09-13 tập trung nghiên cứu xây dựng Quân đội
nhân dân và Công an nhân dân về chính trị, tổ chức, cán bộ, chính sách.
Nghĩa là tập trung xây dựng con người, các yếu tố chính trị - tinh thần và kinh


16
tế - xã hội của lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng mối quan hệ giữa con
người và con người trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, xây dựng
mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang nhân dân với toàn xã hội. Trên cơ sở đó,
đề xuất những giải pháp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về
mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN trong giai đoạn mới.
Đề tài cấp BQP “Xây dựng chính quy Quân đội nhân dân Việt Nam
trong thời kỳ mới” [166], trong đó đã luận giải làm rõ những tư tưởng chủ yếu
của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan

[79]; Trần Văn Kình, “Sư đoàn 3 đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện
kỷ luật” [75]; Tô Đình Phùng, “Đẩy mạnh xây dựng chính quy Quân đội
nhân dân Việt Nam trong tình hình mới” [102]; Nguyễn Công Tính,
“Kinh nghiệm xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện ở đoàn 968” [134];
Nguyễn Đức Hải, “Một số giải pháp xây dựng Binh đoàn Tây Nguyên
vững mạnh toàn diện” [68]; Nguyễn Tân Cương, “Quân đoàn 1 đẩy mạnh
xây dựng chính quy” [27]; Phan Thành Chung, “Một số giải pháp xây
dựng chính quy ở Trung tâm Huấn luyện thực hành và huấn luyện kíp
tàu” [22]; Nguyễn Văn Thái, “Ngành kỹ thuật Quân khu 1 đẩy mạnh xây
dựng chính quy” [121]; Nguyễn Văn Cốc, “Lữ đoàn Công binh 229 tập
trung nâng cao chất lượng huấn luyện” [24]; Nguyễn Văn Khánh, “Tiếp
tục đẩy mạnh chiến lược cải cách tư pháp trong quân đội” [73]; Nguyễn
Quang Luyến, “Sư đoàn Phòng không 365 tập trung xây dựng vững mạnh
toàn diện [83]; Lương Đình Lành, “Sư đoàn 9 tập trung xây dựng vững
mạnh toàn diện” [78]; Lê Minh Quang, “Sư đoàn 330 gắn công tác quản lý
tư tưởng với giáo dục pháp luật” [103]; Ngô Xuân Lịch, “Đẩy mạnh xây
dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại” [82]; Trương Quang Lệnh, “Giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện,
sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn Pháo binh 572” [81]; Nguyễn Văn Nhạc, “Sư


18
đoàn Phòng không 375 tập trung huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị kỹ
thuật” [94].
Đây là các công trình nghiên cứu quán triệt và cụ thể hóa Nghị quyết
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI, XII của Đảng vào thực tiễn xây
dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại; đồng thời tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm chỉ thị 37CT/ĐUQSTW, ngày14/4/1993 của Thường vụ ĐUQSTW (nay là QUTW) về
“Đẩy mạnh xây dựng quân đội chính quy trong giai đoạn mới” [51] và Chỉ
thị 917/1999/CT-QP, ngày 22/6/1999, của Bộ trưởng BQP về “Xây dựng đơn

công tác chính trị của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc” [65]; “Điều
lệ Công tác chính trị Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc” [60];
Dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây
dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản và đặc điểm hoạt động của quân
đội các nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, các công trình nghiên cứu
đã đi sâu luận giải làm rõ về vị trí, vai trò, bản chất, chức năng, nhiệm vụ của
quân đội; bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng sức mạnh chiến đấu tổng
hợp của quân đội và khẳng định: tiến hành CTĐ, CTCT trong xây dựng quân
đội vô sản là một nguyên tắc cơ bản, bất di, bất dịch; đồng thời chỉ rõ vị trí,
vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành CTĐ,
CTCT trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của quân đội, bảo đảm cho việc xây
dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng
hợp, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, quân đội. Hoạt động
CTĐ, CTCT luôn chịu sự tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố như cơ sở
chính trị, kinh tế - xã hội, tiềm lực quốc phòng, ... Các chủ thể, các lực lượng
tiến hành CTĐ, CTCT cần nắm vững xu hướng vận động phát triển của tình
hình, đặc điểm tổ chức và hoạt động của quân đội và yêu cầu nhiệm vụ xây
dựng quân đội để không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng, hiệu quả
CTĐ, CTCT trong quân đội. Tuy nhiên, vấn đề tiến hành CTĐ, CTCT trong
XDCQ ở đơn vị chủ lực cơ động, làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ chưa có


20
công trình nào luận bàn một cách trực tiếp, cụ thể, có hệ thống với tính chất là
một công trình khoa học chuyên biệt.
2.2. Các công trình nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính trị
trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy
Nghiên cứu về vị trí, vai trò, chủ thể, lực lượng, đối tượng, nội dung,
hình thức, biện pháp CTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ, đã có một số sách, giáo
trình, tài liệu, bài tham luận hội thảo, các đề tài nghiên cứu cơ bản, các đề tài

quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta;
gắn liền với đặc điểm hoạt động của ĐVCS, phổ biến những kinh nghiệm
thực tiễn và hướng dẫn tay nghề CTĐ, CTCT phù hợp với mục tiêu, yêu cầu
đào tạo của các học viện, nhà trường quân đội.
“Giáo trình CTĐ, CTCT (Dùng cho đào tạo cán bộ cấp phân đội)”
[142], khẳng định rằng, CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ xây dựng chính quy ở
đại đội có vai trò rất quan trọng, nhằm góp phần tạo nên sự thống nhất ý chí
và hành động trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng đơn vị chính quy,
VMTD. Đồng thời, xác định các yêu cầu và nội dung, hình thức, biện pháp
CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ XDCQ ở đại đội.
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên cho thấy: CTĐ, CTCT trong
lực lượng vũ trang, quân đội và trong các nhiệm vụ của đơn vị quân đội có vị trí,
vai trò rất quan trọng, là linh hồn, mạch sống của Quân đội ta. Vì vậy, tiến hành
CTĐ, CTCT ở từng cơ quan, ĐVCS, trong tất cả các nhiệm vụ, trong đó có
nhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy, đây vừa là vấn đề có tính nguyên tắc,
vừa là một hoạt động cơ bản trong xây dựng và hoạt động của mỗi đơn vị và
toàn quân. Các công trình trên, một mặt đang đề cập chung cho các đối tượng;
mặt khác, do mục đích, mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên cách tiếp cận và đi
vào nghiên cứu từng đối tượng cụ thể, đa dạng và phong phú. Song, chưa có
công trình nào đề cập một cách toàn diện, hệ thống, cụ thể về vị trí, vai trò, nội
dung, hình thức, biện pháp CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ XDCQ ở ĐVCS các
BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam.


22
Ngô Văn Quỳnh,“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật vào
giáo dục, rèn luyện kỷ luật bộ đội” [114]; Nguyễn Văn Nghĩa, “Công tác
đảng, công tác chính trị trong xây dựng thế trận phòng không bảo vệ Tổ
quốc giai đoạn hiện nay” [97; Nguyễn Như Hội, “Công tác đảng, công
tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh trên địa bàn Tây

giả của nhóm công trình trên đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
CTĐ, CTCT trong huấn luyện, SSCĐ, XDCQ, rèn luyện kỷ luật; đánh giá
thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm; đề xuất giải
pháp tăng cường, nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong XDCQ và rèn
luyện kỷ luật ở các cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội hiện nay. Đây là
các tài liệu có giá trị về mặt lý luận mà tác giả có thể kế thừa và tiếp thu có
chọn lọc trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu.
2.3. Các công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng công tác
đảng, công tác chính trị trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam
chính quy
“Nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội
nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới” [139]; “Dân chủ và kỷ
luật” [160].
Các công trình trên đã tập trung luận giải làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn,
đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng và bước đầu rút ra một
số kinh nghiệm thực tiễn của từng đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, đưa ra
những nhận định về những yếu tố tác động, xác định yêu cầu và một số giải
pháp nâng cao hiệu lực CTĐ, CTCT, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong giai đoạn mới.
Thành công của các công trình trên đã cung cấp thêm những luận cứ
khoa học cho việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân
đội; giúp cho cấp ủy, chỉ huy, các cơ quan, đơn vị các cấp, nhà trường trong
toàn quân nghiên cứu, vận dụng vào quá trình xác định những chủ trương,
biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT trong
các nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, xây dựng các cơ quan,
đơn vị trong toàn quân VMTD, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn


24
mới. Song, các công trình này chưa đi vào luận giải một cách có hệ thống về

25
mạch sống” của quân đội, là nhân tố giữ vững định hướng chính trị, là cơ
sở bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động của mọi quân nhân và mọi
tổ chức của quân đội. Đồng thời, các tác giả đã xác định rõ mục tiêu, đối
tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của từng đề tài. Đi sâu nghiên cứu,
phân tích làm rõ những luận cứ khoa học cả trên phương diện lý luận và
thực tiễn; khảo sát và đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân của những
khuyết điểm và hạn chế, bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm thực
tiễn trên từng đối tượng nghiên cứu. Dự báo những nhân tố tác động đến
hoạt động CTĐ, CTCT trong một số nhiệm vụ cụ thể của quân đội, ĐVCS
trong thời gian tới; trên cơ sở đó xác định yêu cầu và đề xuất một số giải
pháp nhằm tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT trong
huấn luyện, SSCĐ, rèn luyện kỷ luật, quản lý, bảo quản, sử dụng vũ khí
trang bị kỹ thuật quân sự; xây dựng khu vực phòng thủ; phòng chống bạo
loạn lật đổ…
Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây đã cung cấp bổ
sung những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, QUTW, BQP trong việc
xác định phương hướng, nội dung, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt
Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; các cấp ủy, chỉ huy
các cấp trong toàn quân nghiên cứu, vận dụng trong xây dựng cơ quan, đơn vị
VMTD, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội và nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc trong giai đoạn hiện nay. Song, chưa có công trình nào nghiên cứu
chuyên biệt về CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL. Do đó, những
thành công của các công trình đã nghiên cứu vừa là cơ sở khoa học để tác giả
xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài luận án của mình không bị trùng
lắp với các đề tài trước đó, vừa là những đơn vị kiến thức mà tác giả có thể kế
thừa có chọn lọc phục vụ cho việc nghiên cứu, hoàn thiện đề tài luận án.
3. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình
khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung
giải quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status