PHÁT TRIỂN NĂNG lực tư DUY BIỆN CHỨNG TRONG dạy học NHỮNG NGUYÊN lý cơ bản của CHỦ NGHĨA mác – LÊNIN về TRIẾT học ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NÔNG lâm ĐÔNG bắc - Pdf 42

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
--------

V TH YN HI

PHáT TRIểN NĂNG LựC TƯ DUY BIệN CHứNG TRONG DạY HọC
NHữNG NGUYÊN Lý CƠ BảN CủA CHủ NGHĩA MáC LÊNIN
Về TRIếT HọC ở TRƯờNG CAO ĐẳNG NÔNG LÂM ĐÔNG BắC
Chuyờn ngnh : LL & PP ging dy Giỏo dc chớnh tr
Mó s: 60.14.01.11

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC

Ngi hng dn khoa hc:TS o c Doón

H NI 2015


Lời cảm ơn
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc đến thầy giáo TS. Đào Đức Doãn - người đã chỉ dẫn, hỗ trợ em một
cách tận tâm, chu đáo giúp đỡ em trong việc học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo khoa Lí luận
chính trị - Giáo dục công dân, phòng sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà
Nội đã hết sức tạo điều kiện để em có thể học tập và nghiên cứu.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu nhà
trường cùng các em sinh viên và cán bộ giáo viên, nhân viên trường Cao đẳng
Nông Lâm Đông Bắc đã hợp tác và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian thực nghiệm tại trường.

GV

: Giáo viên

HĐH

: Hiện đại hóa

NLTDBC

: Năng lực tư duy biện chứng

PBC

: Phép biện chứng

PP

: Phương pháp

PPDH

: Phương pháp dạy học

PPL

: Phương pháp luận

SV



SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.......Error: Reference source not
found
Sơ đồ 2: Các đặc trưng cơ bản về sự phát triển Error: Reference source not
found


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, chất lượng giáo dục đã và đang trở thành một trong những vấn
đề quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia, trong đó, xu hướng dạy học đang
rất phổ biến là dạy học không chỉ cung cấp kiến thức cho người học mà quan
trọng hơn là phải rèn luyện phương pháp học tập, hình thành, phát triển năng lực
tư duy và kỹ năng giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực tiễn. Đổi mới
phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy biện chứng cho học sinh,
sinh viên là vấn đề cần thiết nằm trong xu hướng dạy học hiện đại đó.
Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc được thành lập theo quyết định
số 7191/QĐ – BGD ĐT ngày 12/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo, là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ chiến lược phát triển kinh
tế nông nghiệp, lâm nghiệp của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và của đất nước
nói chung. Thực tế cho thấy nhiều sinh viên của Trường Cao đẳng Nông Lâm
Đông Bắc tốt nghiệp ra trường còn hạn chế về năng lực chuyên môn, khả
năng tư duy còn máy móc, chưa thực sự sáng tạo và chưa vận dụng linh hoạt
các tri thức đã học vào thực tiễn. Trong nhiều nguyên nhân dẫn tới những hạn
chế trên, không thể không kể đến thiếu sót của việc dạy và học các môn khoa
học trong nhà trường, đặc biệt là dạy và học Những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác – Lênin về triết học – một môn học có mục tiêu chủ yếu là cung cấp cho
người học thế giới quan, phương pháp luận khoa học, mà hạt nhân của nó là
năng lực tư duy biện chứng. Nhiều sinh viên vẫn không nhận thức đúng về

Ở Việt Nam, vấn đề này được quan tâm đặt ra rất sôi nổi vào những
năm đầu thời kỳ đổi mới (1986), tiêu biểu như: Đổi mới tư duy và phong cách
tư duy của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1987);
Quán triệt tư duy biện chứng duy vật và nội dung quan trọng của đổi mới tư
duy của Dương Phú Hiệp (Tạp chí Triết học, số 2/1987); Năng lực duy lý luận
trong quá trình đổi mới tư duy của Nguyễn Ngọc Long (Tạp chí Cộng Sản, số
10/1987); v.v...
2


Về phương pháp dạy học triết học nhằm phát triển năng lực tư duy
biện chứng cho người học, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Đổi
mới phương pháp giảng dạy và nghiên cứu triết học - một số kết quả và vấn
đề đặt ra của Nguyễn Trọng Chuẩn (Tạp chí Triết học, số 12/1991); Rèn
luyện, nâng cao năng lực tư duy khoa học cho học sinh, sinh viên của Vũ Văn
Viên (Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 2/1992); Triết học Mác
– Lênin với việc nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên của
Hoàng Thúc Lân (Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 96/2004); v.v...
Nhiều đề tài luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ cũng đã đề cập đến vai trò của
giảng dạy triết học đối với việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cũng như
năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên. Đó là các đề tài như: Phát triển
năng lực tư duy lý luận cho sinh viên thông qua giảng dạy triết học Mác –
Lênin của Trần Viết Quang (Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 1996); Rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho sinh viên trong quá trình dạy học của Nguyễn Xuân Tạo (Luận văn Thạc
sĩ Triết học, Viện Triết học, 1998); Góp phần rèn luyện và phát triển tư duy
biện chứng cho học sinh thông qua dạy học hình học ở trường trung học phổ
thông của Nguyễn Thanh Hưng (Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục,
Trường Đại học Vinh, 2003); Giảng dạy triết học Mác – Lênin với việc nâng
cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên các trường đại học của Hoàng

biện chứng cho sinh viên trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: nghiên cứu về biện pháp phát
triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên trường Cao đẳng Nông Lâm
Đông Bắc trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
về triết học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về lý luận: đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu những vấn đề lý luận về dạy

4


học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về triết học nhằm
phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên.
- Về thực tiễn: đề tài chỉ giới hạn khảo sát, đánh giá thực trạng và đề
xuất biện pháp dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
về triết học nhằm phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên ở một
trường Cao đẳng là Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc.
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
5.1 Những luận điểm cơ bản
Luận văn có luận điểm cơ bản là:
Một là: Làm rõ cơ sở lý luận của dạy học Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin về triết học trong việc phát triển năng lực tư duy biện
chứng ở trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc.
Hai là: Phân tích thực trạng dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin về triết học nhằm phát triển năng lực tư duy biện chứng ở
trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc.
Ba là: Đề xuất những phương pháp dạy học Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin về triết học nhằm phát triển năng lực tư duy biện chứng

sát, điều tra xã hội học, thực nghiệm sư phạm, thống kê toán học và các
phương pháp hỗ trợ khác.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được bố cục làm 3 chương 7 tiết:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc phát triển năng lực biện chứng
cho sinh viên trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin về triết học.
Chương 2: Phương pháp dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin về triết học nhằm phát triển năng lực tư duy biện chứng
cho sinh viên Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc
Chương 3: Thực nghiệm phương pháp dạy học Những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về triết học nhằm phát triển năng lực tư duy
biện chứng cho sinh viên trường Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc
6


7


Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY
BIỆN CHỨNG TRONG DẠY HỌC NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ TRIẾT HỌC
1.1.Cơ sở lý luận của việc phát triển năng lực tư duy biện chứng trong
dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về triết học
1.1.1. Năng lực tư duy biện chứng
• Tư duy
Tư duy là một thuộc tính cố hữu của con người, là một trong những tiêu
chí để đánh giá năng lực hoạt động nhận thức và thực tiễn của các chủ thể, là vấn

• Tư duy biện chứng
Kế thừa có chọn lọc những thành quả của các nhà triết học tiền bối, mà
trực tiếp là phép biện chứng (PBC) của Hêghen, dựa trên việc khái quát
những thành quả mới nhất của khoa học đương thời cũng như thực tiễn lịch
sử, C. Mác và Ph. Ăngghen đã xây dựng nên PBC duy vật, và được V.I. Lênin
bổ sung, hoàn thiện, làm nó trở nên sâu sắc và phong phú hơn. Đó là “học
thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không
phiến diện” [22, tr. 53].
Trong PBC duy vật, biện chứng (BC) khách quan và BC chủ quan là
những khái niệm của nó. “BC khách quan thì chi phối toàn bộ giới tự nhiên,
còn BC chủ quan tức là TDBC, thì chỉ phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới
tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập và sự chuyển hóa từ
mặt đối lập này sang mặt đối lập kia, hoặc lên những hình thức cao hơn đã
quy định sự sống của giới tự nhiên”[1, tr. 321]. Sự thống nhất BC của BC
khách quan và BC chủ quan là cơ sở phương pháp luận (PPL) chung nhất của
hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
TD không chỉ dựa trên các quy luật của tự nhiên, xã hội mà TD còn
dựa trên các quy luật BC riêng của TD được phản ánh trong lôgic BC mác xít.
TDBC mác xít có một số đặc điểm cơ bản sau:

9


Một là, nắm bắt và vận dụng được trong TD các quy luật phổ biến của
PBC duy vật, bao gồm: quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập;
quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và
ngược lại; quy luật phủ định của phủ định.
TDBC không chỉ cấu thành từ các quy luật cơ bản mà còn từ các quy
luật không cơ bản của PBC – những quy luật được thể hiện trong các cặp
phạm trù: cái chung – cái riêng, bản chất – hiện tượng, nguyên nhân – kết

là mức độ đạt được về nội dung và phương pháp TD. Càng có năng lực TD
phát triển, chủ thể càng có thể hình dung được rõ ràng kết quả công việc của
mình với những cách thức, biện pháp hoạt động cần thiết.
Để xác định phạm trù NLTDBC, cần thấy được thực chất của hoạt
động tư duy con người. Cũng như mọi hoạt động khác, hoạt động TD bị chi
phối bởi PPL chung nhất định với chức năng định hướng, gợi mở cho quá
trình hoạt động. TDBC được định hướng bởi PPL biện chứng duy vật – PPL
khoa học của nhận thức và thực tiễn. Sự am hiểu PP biện chứng, sự thành
thạo trong sử dụng cũng như năng lực sáng tạo PP biện chứng là thước đo về
NLTDBC của chủ thể.
Muốn nhận thức một cách đúng đắn, chủ thể không những phải vận
dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo PPL biện chứng duy vật mà còn phải vận dụng
thành thục các thao tác của TD lôgic, tuân thủ nghiêm ngặt các quy luật, các
quy tắc lôgic. Nói cách khác, chủ thể vừa phải có năng lực PPL biện chứng
duy vật, vừa phải có năng lực TD lôgic.
Như vậy, năng lực tư duy biện chứng là tổng hợp những phẩm chất tâm,
sinh lý, trí tuệ của chủ thể, đáp ứng yêu cầu nhận thức và cải tạo thế giới, đảm
bảo cho hoạt động của con người phù hợp với quy luật, đạt hiệu quả. Nó biểu
hiện ở khả năng nắm vững và vận dụng một cách chủ động, nhuần nhuyễn,
sáng tạo những tri thức phương pháp cũng như các thao tác của tư duy lôgic
11


tạo khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin, hình thành tri thức mới về sự vật,
từ đó lựa chọn phương pháp, ra quyết định đúng cho hành động.
Mối quan hệ giữa năng lực TD lôgic và NLTDBC
TD lôgic là hoạt động TD sử dụng các thao tác, PP cụ thể để sản xuất
ra các tri thức phản ánh ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn về
hiện thực khách quan. Năng lực TD lôgic (khả năng TD chặt chẽ, nhất quán)
đảm bảo cho hoạt động của chủ thể phù hợp với quy luật, đạt hiệu quả, là điều

PBC duy vật và đều phải tuân theo các nguyên tắc, quy luật của TD đảm bảo
tính khách quan, chính xác, tính khoa học nghiêm ngặt và chặt chẽ.
Trong giai đoạn hiện nay, năng lực TD đang trở thành nguồn lực cơ
bản, quan trọng nhất của mỗi con người. Vì vậy, việc phát triển NLTDBC có
ý nghĩa to lớn trong chiến lược đào tạo con người của Việt Nam.
1.1.2. Nội dung phát triển năng lực tư duy biện chứng trong dạy học triết học
Thực chất của việc phát triển năng lực tư duy biện chứng cho SV trong
dạy học triết học hiện nay là phát triển cho họ năng lực nhận thức và vận dụng
phương pháp luận biện chứng duy vật, năng lực tư duy lôgíc, năng lực tổng
kết thực tiễn trong học tập, nghiên cứu, tổng hợp tri thức cũ, sáng lập ra tri
thức mới để trở thành tri thức của bản thân. Trên cơ sở đó giúp họ nâng cao
năng lực khái quát hóa, trừu tượng hóa theo các nguyên tắc, quy luật của tư
duy biện chứng, khắc phục được những sai lầm trong học tập, nắm vững kiến
thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ nghề nghiệp sau khi
ra trường. Thực chất đó được biểu hiện ở các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, phát triển năng lực nhận thức và vận dụng phương pháp
luận biện chứng duy vật trong học tập, nghiên cứu khoa học.
Năng lực TDBC ở SV không có được một cách tự phát mà được hình
thành, phát triển thông qua hoạt động giáo dục và đào tạo có mục đích do từng
chuyên ngành giáo dục đặt ra. SV có thể hình thành và phát triển tốt NLTDBC
tự giác thông qua việc học các môn dạy về tư duy biện chứng (như triết học,
lôgíc học, cùng các môn khoa học khác...). Được trang bị tri thức triết học Mác 13


Lênin, đặc biệt là phép biện chứng duy vật, sinh viên bước đầu hình thành năng
lực tư duy biện chứng tự giác, nâng cao trình độ tư duy khoa học.
Khi nắm vững PPL BCDV, SV sẽ có khả năng định hướng, dự báo, chỉ
đạo hoạt động nhận thức; biết vận dụng sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo các
nguyên tắc, phương pháp luận BCDV nhằm nâng cao hiệu quả học tập,
nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn, nguyên tắc khách quan giúp SV biết tôn

TDBC đạt hiệu quả thì SV phải có khả năng tư duy lôgíc tự giác, vững vàng.
Bản thân thế giới luôn vận động, biến đổi không ngừng, tư duy con người
phản ánh thế giới cũng cần phải sửa đổi, bổ sung thêm, những nội dung mới
bằng những khái niệm mới cấu thành những tri thức mới, nên để cập nhật
thông tin kịp thời, chính xác phục vụ học tập, nghiên cứu và làm việc sau này,
SV phải được rèn luyện năng lực tư duy lôgíc. Vì vậy, phát triển tư duy lôgíc
là yếu tố cần thiết trong đào tạo SV. Bản chất của tư duy lôgíc đòi hỏi chủ thể
phải tuân thủ theo các nguyên tắc và quy luật nghiêm ngặt của tư duy, khắc
phục lỗi tư duy tuỳ tiện, mập mờ, thiếu căn cứ khách quan nên tư duy lôgíc.
Do đó, SV phải nắm bắt các hình thức, quy luật, phương pháp và thao tác tư
duy trong quá trình nhận thức chân lý; đặc biệt tư duy bằng khái niệm, năng
lực phán đoán, suy luận, xây dựng giả thuyết, chứng minh, bác bỏ trong học
tập, nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải trang bị cho họ các thao tác tư duy quy
nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp để sản xuất ra tri thức mới cho bản thân.
Do vậy, năng lực tư duy lôgíc là cơ sở khoa học giúp SV phát triển năng lực
học tập, có phương pháp nghiên cứu khoa học hiệu quả và làm việc sau này.
Tư duy khái niệm chính là cốt lõi của tư duy khoa học, còn tư duy nghệ
thuật thì sử dụng các hình tượng nghệ thuật để diễn đạt, tái tạo cuộc sống. Tư
duy khái niệm là quá trình giúp chủ thể nắm bắt thuộc tính cơ bản, riêng biệt
bên trong của đối tượng; gạt bỏ những cái cá biệt, ngẫu nhiên để nắm bắt cái
bản chất, tất yếu và phổ biến. Khái niệm là cơ sở, nền tảng của tư duy, nếu
không có khái niệm thì con người không thể tư duy được. Tư duy khái niệm 15


lôgíc tuy cũng là sự phản ánh tách khỏi đối tượng, nhưng nó thâm nhập vào
bản chất của các hiện tượng. Trừu tượng khỏi ý nghĩa cụ thể của tình huống
đối với cá nhân, lối tư duy này có thể lấy ra được một cấu trúc bất biến của
khách thể và diễn đạt vào một ngôn ngữ đơn nghĩa, chẳng hạn thuật ngữ
chuyên môn hay công thức toán. Tư duy khái niệm - lôgíc như vậy thường
phải dựa theo những qui tắc, thao tác nhất định, nhờ thế nó đi xa, đi sâu vào

người ta có thể đánh giá, xác định giá trị chân lý của tư tưởng. Tính chân thực
của các phán đoán thể hiện sự phản ánh đúng bản chất của đối tượng nhận
thức là đúng đắn. Muốn vậy, SV phải nắm vững các thuộc tính, các dấu hiệu
của khái niệm để xây dựng các phán đoán chân thực, chuẩn xác, khoa học,
phải sử dụng chính xác các liên từ lôgíc trong ngôn ngữ dạy học (như: “và”,
“nếu… thì”, “hoặc”, “khi và chỉ”). Năng lực phán đoán có vai trò quan trọng
trong nghiên cứu, diễn đạt mối quan hệ giữa các khái niệm để nâng cao năng
lực diễn đạt các mệnh đề đẳng trị, làm cho tư duy linh hoạt, mềm dẻo hơn, là
cơ sở để hình thành, nâng cao năng lực suy luận ở SV.
Năng lực suy luận ở SVlà khả năng thiết lập mối quan hệ giữa các phán
đoán đã biết để suy ra các phán đoán mới, tri thức mới theo các quy tắc và
quy luật của tư duy lôgíc trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học. Suy
luận trong lôgíc hình thức bao gồm suy luận quy nạp và suy luận diễn dịch.Tư
duy biện chứng chỉ ra tính biện chứng của suy luận, phản ánh sự vận động
đầy mâu thuẫn của các khái niệm, phán đoán trong tư duy. Bên cạnh đó, sinh
viên phải nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật của tư duy lôgíc,
các phương pháp xây dựng, chứng minh, bác bỏ giả thuyết tạo nên các căn cứ,
điều kiện khách quan, là công cụ quan trọng để xác thực tính đúng đắn, độ tin
cậy của tri thức. Nhờ đó, SV sử dụng năng lực suy luận để rút ra tri thức mới
từ các tri thức tiền đề, làm phong phú và hoàn thiện vốn tri thức, năng lực tư
duy sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo cho bản thân.
17


Thứ ba, phát triển năng lực tổng hợp tri thức cũ để sản xuất ra tri thức
mới cho sinh viên hiện nay.
Năng lực tổng hợp tri thức đòi hỏi SV phải có cái nhìn bao quát và toàn
vẹn nhất trên các nguyên tắc, quan điểm của tư duy nói chung và tư duy biện
chứng nói riêng. Dựa trên vốn tri thức khoa học đã có, SV phải có khả năng
xâu chuỗi, thiết lập mối quan hệ giữa tri thức đó theo các quy tắc, quy luật

của mình. Nếu không tuân thủ các nguyên tắc, quy luật, quan điểm của tư
duy biện chứng thì quá trình nghiên cứu khoa học dễ mắc phải sai lầm.
Nắm vững chuyên môn ở SV, chính là nắm vững hệ thống và ý nghĩa khoa
học của các khái niệm cấu thành môn học.
Thứ năm, phát triển năng lực tổng kết thực tiễn trong học tập, nghiên
cứu khoa học, thực hành, thực tập chuyên môn
Tổng kết thực tiễn tạo điều kiện để SV được trải nghiệm, cọ sát với
thực tế, nắm bắt tri thức, kinh nghiệm nghề nghiệp. Năng lực tổng kết thực
tiễn ở SV thể hiện ở chỗ họ phải có khả năng xác định đúng và trúng vấn đề
nghiên cứu, phải có khả năng khái quát và trừu tượng hóa khoa học để rút ra
tri thức mới; phải có khả năng gắn lý luận với thực tiễn, gắn học với hành,
khắc phục những sai sót trong tư duy, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn.
Thực tế cho thấy, nếu SV học tập, rèn luyện chăm chỉ, miệt mài mà không có
khả năng tổng kết thực tiễn của việc học thì dễ mắc phải bệnh giáo điều, chủ
quan, áp đặt.
Trong vận dụng tri thức đã học vào thực hành, thực tập ở SVnhiều khi
xảy ra sự không phù hợp giữa lý luận và thực tiễn có thể do sự vận dụng
không đúng hoặc do lý thuyết không hợp lý. Thực tế đó đòi hỏi SV phải điều
chỉnh hành động và phương pháp vận dụng, sửa đổi, bổ sung tri thức chuyên
môn, kinh nghiệm, lý thuyết học, nghiên cứu phù hợp; xóa dần khoảng cách
giữa lý luận và thực tiễn.
19


Năng lực tổng kết thực tiễn ở SV được biểu hiện qua các hoạt động học
tập, thực hành, thực tập, nghiên cứu khoa học và thực tế chuyên môn. Khi giải
quyết các hoạt động thực tiễn hàng ngày họ phải có khả năng phân tích, đánh
giá các hoạt chuyên môn và đối chiếu, so sánh với lý luận đã học để điều
chỉnh, bổ sung và hoàn thiện tri thức. Hoàn thành nhiệm vụ tổng kết thực tiễn,
SV cần phải xác định đúng và trúng vấn đề trong quá trình thu thập và xử lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status