BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
PHÍ THỊ THÚY HỒNG
TỔNG HỢP VẬT LIỆU OXIT NANO MgO VÀ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHỬ CÁC CHẤT MÀU
HOẠT TÍNH CHỨA NHÓM AZO VÀ
ANTHRAQUINONE TRONG NƯỚC THẢI DỆT
NHUỘM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Hoá Học
Người hướng dẫn khoa học:TS. NGUYỄN KIM NGÀ
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
I.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẬT LIỆU NANO [3]
Nanomet là kích thước nhỏ nhất của vật chất mà con người sáng chế ra cho
tới nay. Công nghệ nano cho tới nay đang dần len tới mọi lĩnh vực khoa học công
nghệ trong đời sống. Tuy là lĩnh vực công nghệ mới nhưng lại có được cho mình
những bước tiến mạnh mẽ. Điều này có được là do những thuộc tính ưu việt mà
công nghệ này đem lại cho chúng ta.
Về cơ bản “công nghệ nano “ là ngành công nghệ liên quan tới việc thiết kế,
phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống thông qua việc điều
chính : phương pháp từ trên xuống (top_down) và phương pháp từ dưới lên
(bottom_up), trong đó:
-
Phương pháp từ trên xuống là phương pháp tạo hạt kích thước nano từ
các hạt có kích thước lớn hơn, về nguyên lý, phương pháp này dùng các
kỹ thuật nghiền, biến dạng để đưa vật liệu từ thể khối với kích thước hạt
lớn hơn tới kích thước nanomet. Phương pháp này khá đơn giản, rẻ tiền,
có thể chế tạo đa dạng, hiệu quả tương đối cao. Tuy vậy, độ đồng đều của
vật liệu tương đối thấp, vật liệu có hình dáng chủ yếu là dạng hạt hay
dạng dây.
-
Phương pháp từ dưới lên là hình thành vật liệu từ các hạt cơ bản là
nguyên tử hay ion. Việc phát triển vật liệu nano theo phương pháp này
đang phát triển mạnh mẽ, kỹ thuật này có thể giúp con người tạo ra
những hình thái vật liệu mà con người mong muốn. Phần lớn các vật liệu
nano chúng ta tạo ra hiện nay đi theo con đường này, phương pháp
bottom_up có thể là phương pháp vật lý, hoá học hay là kết hợp cả
hoá_lý.
Vật liệu nano ngày nay được ứng dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực
khoa học, đời sống. Trong sự phát triển của nền công nghiệp hiện nay, các tập đoàn
sản xuất điện tử đã và đang đưa công nghệ nano vào ứng dụng trong sản xuất nhằm
tạo ra các sản phẩm có tính công nghệ cao, tính cạnh tranh lớn từ những chiếc máy
nghe nhạc cho đến những con chip có tốc độ xử lý cực nhanh… Trên lĩnh vực y
5
Thông số cơ bản bao gồm : M = 40,3044 g/mol; nhiệt độ nóng chảy là 2.852
o
C; nhiệt độ sôi là 3.600oC; độ hoà tan trong nước là 0,086 g/l. Tinh thể MgO có cấu
trúc ô mạng cơ sở là lập phương tâm mặt giống với cấu trúc ô mạng của tinh thể
NaCl. Ô mạng cơ sở có số phối trí là 6,trong đó ion Mg2+ và O2- đều có số phối trí là
6. Trong ô mạng cơ sở, ion Mg2+ sắp xếp tại các vị trí của cấu trúc bát diện, các ion
O2- sắp xếp tại các vị trí của khối lập phương, liên kết trong mạng là liên kết ion có
tính đối xứng cao.[8]
Mg2+
O2-
1.2.2. Ứng dụng của vật liệu magiê oxít
Oxít magiê (MgO) là một trong những oxit kim loại kiềm thổ quan trọng nhất,
do nó có nhiều tính năng đặc biệt như độ bền nhiệt, khả năng chống ăn mòn cao,
không có độc tính, vật liệu thân thiện môi trường. MgO được ứng dụng trong nhiều
lĩnh vực khác nhau như xúc tác, xử lý môi trường, kỹ thuật y sinh và là chất phụ gia
cho một số sản phẩm sơn, gạch chịu lửa, nhựa chịu nhiệt, v.v…[18, 33].
7
Với đặc điểm về bề mặt riêng lớn, MgO được sử dụng như là một chất xúc tác,
chất mang hiệu quả đối với nhiều phản ứng khác nhau và là chất hấp phụ tốt để xử
lý các chất ô nhiễm môi trường [22]. Ví dụ: phản ứng oxi hóa propan trên
V2O5/MgO [12], phản ứng oxi hóa butan trên VO x/MgO [16] (MgO với vai tò là
chất mang), phản ứng hấp phụ SO2 trên MgO [23], hoặc phản ứng xử lý hấp phụ các
(ii) Phương pháp hóa học:
Xử lý chất màu ô nhiễm bằng các chất đông keo tụ như các muối Al 3+, Ca2+,
Fe3+.
Xử lý chất màu bằng cách sử dụng các tác nhân oxy hóa mạnh như Clo,
hypoclorít, oxy già H2O2, ozon, là các chất oxy hóa hiệu quả cho quá trình xử lý các
chất màu ô nhiễm.
(iii) Phương pháp sinh học:
Xử lý chất màu ô nhiễm bằng phương pháp sinh học, có sử dụng một số vi
sinh học thích hợp để phân hủy chất màu bằng quá trình hiếu khí hoặc yếm khí.
Được sử dụng phổ biến trong xử lý nước thải dệt nhuộm, phương pháp có những ưu
điểm như chi phí xử lý thấp và các sản phẩm cuối của quá trình xử lý không độc
hại.
(iv) Phương pháp hấp phụ
Hấp phụ là quá trình hút các chất trên bề mặt các vật liệu xốp nhờ các lực bề
mặt. Các vật liệu xốp được gọi là chất hấp phụ, chất bị hút gọi là chất bị hấp phụ.[1]
Hấp phụ là quá trình ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp hóa chất, thực phẩm
và nhiều lĩnh vực chế biến khác; từ việc tách triệt để các chất khí có hàm lượng
thấp, tẩy màu, tẩy mùi các dung dịch đến hấp phụ các chất độc hại trong nước và
khí thải.
Đặc biệt hấp phụ là một trong những phương pháp xử lý có hiệu quả cao đối
với việc loại bỏ chất thải màu ô nhiễm, do thiết bị xử lý đơn giản, dễ thao tác.
Một vài dạng chất hấp phụ đã được ứng dụng để tách màu của nước thải [1114], trong đó, cacbon hoạt tính được nghiên cứu rộng rãi để xử lý các chất ô nhiễm
màu do có diện tích bề mặt riêng rất cao (500-2000 m 2.g-1) [16], nhưng hạn chế là
giá thành quá cao. Các nghiên cứu gần đây đều tập trung hướng phát triển các vật
liệu hấp phụ có khả năng hấp phụ cao và giá thành thấp. Vật liệu kích thước hạt
nano có diện tích bề mặt riêng cao, do đó đây là những vật liệu có tiềm năng ứng
dụng trong xử lý môi trường, đặc biệt xử lý chất màu ô nhiễm.
9
10
và phức hợp. Thuật ngữ “thuỷ nhiệt” hoàn toàn có nguồn gốc từ địa chất. Nó được
sử dụng lần đầu tiên bởi nhà địa chất người Anh, Roderick Murchison (1792-1871)
để mô tả hoạt động của nước ở nhiệt độ và áp suất cao, gây ra những biến đổi của
vỏ trái đất dẫn đến sự hình thành của các loại đá khác nhau và khoáng chất. Nó
cũng được biết là đơn tinh thể lớn nhất được hình thành trong tự nhiên (tinh thể của
beri > 1000 g) và một số lượng lớn các đơn tinh thể tạo ra bởi con người trong một
thí nghiệm nhanh (tinh thể thạch anh khoảng một vài nghìn gam) đều có nguồn gốc
nhiệt. Sự gia công thuỷ nhiệt có thể được định nghĩa là bất kỳ phản ứng khác pha
nào khi có mặt của dung dịch với dung môi nước hoặc khoáng hóa ở điều kiện áp
suất và nhiệt độ cao để hoà tan, tái kết tinh (phục hồi) vật liệu thường không tan ở
điều kiện thường. Trong số các công nghệ ngày nay về gia công vật liệu tiên tiến,
công nghệ thuỷ nhiệt chiếm vị trí độc tôn do lợi thế của nó so với các công nghệ
truyền thống. Nó bao gồm các quá trình như là tổng hợp thuỷ nhiệt, điều chế các
tinh thể cực mịn, đơn tinh thể lớn, chuyển đổi thuỷ nhiệt, phân tích thuỷ nhiệt, ổn
định cấu trúc thuỷ nhiệt, tách nước thuỷ nhiệt, xử lý thuỷ nhiệt, cân bằng pha thuỷ
nhiệt, tái chế thuỷ nhiệt.... Thuỷ nhiệt của vật liệu tiên tiến có nhiều thuận lợi và có
thể được sử dụng để đưa ra sản phẩm có độ tinh khiết, đồng nhất và đối xứng cao,
hợp chất không ổn định với nhiều tính chất độc đáo, thu hẹp kích thước hạt phân bố,
nhiệt độ kết tinh thấp hơn, thành phần siêu hiển vi tới kích thước nano, với sự phân
bố kích thước hẹp, sử dụng các thiết bị đơn giản, đòi hỏi năng lượng thấp, thời gian
phản ứng nhanh, thời gian tồn tại ngắn nhất, cũng như cho sự lớn lên của tinh thể
với sự thay đổi hình dạng, với tính tan thấp, và một loạt các ứng dụng khác. Ngày
nay, sự kết hợp của công nghệ cao trong thủy nhiệt như vi sóng, siêu âm, điện
hoá… đã làm tăng động lực quá trình thuỷ nhiệt, cùng với đó thời gian cũng giảm
tới 3-4 lần điều đó cũng làm cho kỹ thuật thuỷ nhiệt tinh tế hơn. Với nhu cầu ngày
càng cao cho cấu trúc nano, công nghệ thuỷ nhiệt đưa ra một phương pháp duy nhất
cho việc bao phủ của nhiều hợp chất trên kim loại, polime và gốm sứ như là sản
Hình 1.2. Bản đồ nhiệt độ áp suất của kỹ thuật gia công vật liệu.
tránh sự ô nhiễm, độ phân tán cao hơn, tốc độ phản ứng lớn hơn, kiểm soát hình
dạng tốt hơn và vận hành ở nhiệt độ thấp hơn với sự có mặt của dung môi.
Trong công nghệ nano, kỹ thuật thuỷ nhiệt có một quy trình xử lý vật liệu sắc
bén, lý tưởng cho việc gia công tạo hạt. Hình 1.3 cho thấy sự khác biệt lớn trong các
sản phẩm thu được khi nghiền, kết tinh hoặc đốt cháy và theo phương pháp thuỷ
nhiệt. Điều này lý giải tại sao phương pháp thuỷ nhiệt lại là phương pháp hiệu quả
và được sử dụng rộng rãi.
Hình 1.3. Sự khác nhau về hạt của quá trình thuỷ nhiệt và truyền thống
Về phương diện hoá lý của phương pháp thuỷ nhiệt. Cách thức phản ứng của dung
môi dưới điều kiện thuỷ nhiệt chia bề mặt như cấu trúc ở điều kiện tới hạn, siêu tới
13
hạn và gần tới hạn, hằng số điện môi, pH, độ nhớt, hệ số giãn nở, tỉ trọng... được
biết cùng với áp suất và nhiệt độ. Tương tự như vậy, các nghiên cứu nhiệt động lực
học cung cấp nhiều thông tin về cách thức hoạt động của dung môi ở điều kiện nhiệt
độ và áp suất khác nhau. Một số khía cạnh nghiên cứu phổ biến như khả năng hoà
tan, trạng thái ổn định, hiệu suất, phản ứng tạo thành kết tủa... dưới điều kiện thuỷ
nhiệt. Sự kết tinh thuỷ nhiệt chỉ là một trong những lĩnh vực mà sự hiểu biết cơ bản
của chúng ta về động lực học là do không có có dữ kiện liên qua đến giai đoạn trung
gian tạo thành dung dịch. Trong những năm gần đây, các mô hình nhiệt hóa học của
các phản ứng dưới điều kiện thuỷ nhiệt trở nên rất phổ biến. Các dữ liệu tính toán
nhiệt hóa học giúp ích trong kỹ thuật thông minh để xử lý thuỷ nhiệt của các vật
liệu tiên tiến.
Một hạn chế với quá trình thuỷ nhiệt thông thường đó là quá trình thử
nghiệm tốn nhiều thời gian. Chính vì điều này các nhà khoa học hiện nay đang
nghiên cứu đưa ra một mô hình chung hợp lý của một quá trình thuỷ nhiệt bất kỳ.
hay vật liệu trơ như teflon chịu nhiệt và áp suất cao. Vỏ ngoài thường đựơc chế tạo
từ những hợp kim có độ bền cao như inox, hợp kim niken, coban hay titan. Các
thông số đầu tiên và quan trọng nhất để được xem xét lựa chọn một lò phản ứng phù
hợp được thử nghiệm ở điều kiện nhiệt độ, áp suất, khả năng chống ăn mòn của nó
trong phạm vi nhiệt độ áp suất ở một dung môi hoặc chất lỏng nhiệt. Nếu phản ứng
diễn ra trực tiếp trong các bình, sự chống ăn mòn của dòng chảy là một yếu tố tốt
nhất trong sự lựa chọn của nguyên liệu lò phản ứng. Trong một số các thí nghiệm,
các lò phản ứng không cần chứa bất kỳ lót, lớp lót hoặc hộp chứa. Ví dụ, sự tăng
trưởng của thạch anh có thể được thực hiện tại các lò phản ứng thép cacbon thấp.
Các thép cacbon thấp có khả năng chịu ăn mòn trong các hệ thống có chứa
silicdioxit và NaOH, bởi vì tương đối không hòa tan dạng NaFe-silicat và là lớp bảo
vệ vỏ bình. Ngược lại, chế biến nguyên liệu từ vật chứa dung dịch axit photphoric
ăn mòn cao như điều kiện pH cực thấp đòi hỏi phải lót Teflon, nhựa hoặc bạch kim,
vàng, bạc hoặc ống lót để bảo vệ nồi hơi từ các tác nhân có tính ăn mòn cao. Cũng
trong một số trường hợp các lò phản ứng bằng thép kim loại được sử dụng để bảo
15
vệ từ dung môi trung bình. Vì vậy, chống ăn mòn kim loại trong điều kiện thuỷ
nhiệt là rất quan trọng. Một số thiết bị phản ứng thường được dùng trong thuỷ nhiệt
hiện nay như : nồi hơi, lò phản ứng thuỷ nhiệt vi sóng, lò phản ứng thuỷ nhiệt cơ
học…
Hình 1.4. Nồi hấp sử dụng phổ biến cho tổng hợp thuỷ nhiệt
Hình 1.4 và 1.5 thể hiện các thiết kế nồi hấp phổ biến cho thiết bị thuỷ nhiệt.
Trong hầu hết các nồi hấp, áp suất có thể được đo một cách trực tiếp bằng cách sử
dụng đồng hồ đo áp suất, hoặc nó có thể được tính bằng cách sử dụng các mối quan
hệ P-V-T cho nước.
từ (như Co, Ni và Fe), hợp kim kim loại (như FePt, CoPt) và đa lớp (như Cu/Co,
Co/ Pt)... đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu do tính hấp dẫn mới của nó và
tiềm năng ứng dụng làm vật liệu tiên tiến với điện tử, tính từ, quang học, nhiệt và
17
xúc tác. Các tính chất bản chất của hạt nano kim loại quý phụ thuộc vào cấu trúc và
hình thái của chúng. Việc tổng hợp và nghiên cứu của các kim loại có tác động đối
với việc nghiên cứu cơ bản của quá trình tăng trưởng và kiểm soát hình dạng tinh
thể. Đa số các cấu trúc nano của các hợp kim kim loại và mẫu đa lớp hình thành
dưới điều điêu kiện cân bằng. Trong số các kim loại, hợp kim và đa lớp, hình dáng
không đẳng hướng đưa ra các tính chất thú vị. Cả công nghệ thuỷ nhiệt và thuỷ
nhiệt siêu tới hạn đã được sử dụng rộng rãi trong việc điều chế của các hạt nano.
Hình 1.7. Hình ảnh TEM của khoáng Ag dạng cây.
Ngày nay, việc xử lý các oxit kim loại trong điều kiện thuỷ nhiệt nhiệt cấu
thành một khía cạnh quan trọng trong chế biến thuỷ nhiệt của vật liệu vì những lợi
thế của mình trong việc điều chế các hạt nano đơn phân tán với sự kiểm soát về kích
thước và hình thái. Có hàng ngàn báo cáo trong các tài liệu, mà còn bao gồm một số
lượng lớn các ấn phẩm về công nghệ trong nước siêu tới hạn cho việc điều chế của
các oxit kim loại. Phổ biến nhất trong số các ôxít kim loại là TiO2, ZnO, CeO2,
ZrO2, CuO, Al2O3, Dy2O3, In2O3, Co3O4, NiO, MgO... Hạt nano oxit kim loại tham
gia vào một loạt các ứng dụng bao gồm lưu trữ thông tin mật độ cao, cộng hưởng
từ tính, nhắm mục tiêu phân phối thuốc, ảnh sinh học, điều trị ung thư, chứng sốt
cao, chụp trị liệu nơtron, xúc tác, phát quang, điện tử, quang học... Đa số các ứng
dụng này đòi hỏi kích thước hạt xác định và phân bố hẹp với độ đồng nhất cao. Ví
dụ, nhiều người đã điều chế α-Fe2O3 (hematit) như hạt nano dưới điều kiện thuỷ
nhiệt (sử dụng dung môi có nước hoặc không nước) có hoặc không có chất hoạt
động bề mặt. Các hạt hematit này có được ứng dụng rộng rãi như làm xúc tác, bột
liệu quang học phi tuyến, thiết bị quang điện và điện tử, đánh dấu sinh học, vật liệu
nhiệt điện và ghi quang học... Hơn nữa, những hợp chất này có thể thể hiện dưới
nhiều cấu trúc khác nhau như kẽm blenđơ, wurrtzite, muối... Con đường thuỷ nhiệt
phổ biến hơn tất cả các phương pháp khác bởi vì nhiệt độ thấp hơn, thời gian thí
nghiệm ngắn hơn và điều khiển được kích thước và hình thái.
19
Ngoài ra, còn một số kỹ thuật nữa đang được các nhà khoa học áp dụng để xử
lý vật liệu nano như tổng hợp thuỷ nhiệt mẫu nano cacbon, điều chế nano ống theo
phương pháp thuỷ nhiệt, xử lý thuỷ nhiệt của hidroxiapatit, công nghệ thuỷ nhiệt trong
chế biến vật liệu composite… tất cả những hướng đi đó cho thấy sự phát triển và sự
tiện lợi cuả kỹ thuật thuỷ nhiệt trong công nghệ vật liệu tiên tiến và công nghệ nano.
Trong suốt thế kỷ 21, toàn bộ công nghệ thủy nhiệt sẽ không chỉ giới hạn đối với sự
hình thành tinh thể, hay lọc quặng kim loại, mà nó sẽ mang đến một hình thái rất
rộng lớn bao trùm lên tất cả các ngành khoa học. Ví dụ, kỹ thuật thủy nhiệt được
xem như là công nghệ thích hợp nhất để điều chế nguyên liệu cho các hệ thống
phân phối dược liệu tiên tiến, vật lí trị liệu, ảnh sinh học, màn huỳnh quang....những
ứng dụng đó phụ thuộc vào các yếu tố hình dạng và kích thước của sự hình thành
các tinh thể có kích cỡ nano. Sự thay đổi các điểm trên bề mặt bằng phương pháp
thủy nhiệt có ý nghĩa đáng kể trong việc tạo ra tinh thể nano có khả năng kiểm soát
cao cả về hình dạng và kích thước. Đối tượng nghiên cứu đó có thể được tiến hành
với sự trợ giúp của các phân tử hợp chất hữu cơ hay các chất hoạt động bề, hoặc tác
nhân bao gồm một số các peptit và amin. Điều này giúp cho các hạt nano được kết
tinh hoàn toàn với hình dạng và kích thước xác định từ các dạng phân tán. Hơn nữa
công nghệ thủy nhiệt cũng trợ giúp rất lớn trong việc điều chế các vật liệu hỗn tạp,
là xu hướng mới nhất trong việc chế tạo các hạt nano. Với nhu cầu ngày càng cho
cấu trúc nano composite, kỹ thuật thủy nhiệt cung cấp một phương pháp duy nhất
cho việc bao phủ của các hợp chất khác nhau trên các sợi kim loại, và gốm sứ cũng
Trong đó :
d : khoảng cách giữa hai mặt phẳng song song
21
θ : góc giữa chùm tia tới và mặt phẳng phản xạ
Để xác định điều kiện cực đại ta xác định mối liên hệ giữa hiệu số pha hai
sóng với hiệu quãng đường như sau :
Phương trình sóng chạy có dạng: E = Eo.sin 2π .( t/T – x/λ ) =Eo.sinφ
nên hiệu pha của hai sóng là:
∆ = | φ1 – φ2 | = (2π/λ).| x2 – x1 | = (2π/λ). D
khi hiệu số pha của các tia phản xạ bằng một số chẵn lần π tức là 2πn = ∆. Từ đó: D
= nπ. Vì vậy cực đại giao thoa chỉ quan sát được khi thoả mãn điều kiện:
nπ = 2.d.sinθ ( n – bậc phản xạ, n = 1, 2, 3…).
Công thức trên có tên gọi là công thức Vulf – Bragg. Vì 0 «sinθ« 1 nên điều
kiện Vulf – Bragg chỉ được thoả mãn khi d và λ có trị số tương đương cùng bậc nên
phương pháp nhiễu xạ tia X có gắn bó tự nhiên với các vật liệu có cấu trúc tinh thể.
Phương pháp này cho phép ta có thể xác định được thành phần cấu trúc
mạng tinh thể của chất cần phân tích thông qua tính toán giá trị của d trong công
thức Vulf – Bragg. Thông qua giản đồ XRD ta cũng có thể tính được kích thước
trung bình của hạt theo phương trình Scherrer:
D=
Trong đó :
D : kích thước hạt.
θ : là góc nhiễu xạ.
B(rad) : độ rộng của pic tại nửa chiều cao của pic đặc trưng
λ : bước sóng chùm tia tới.
Sơ đồ nguyên lý của nhiễu xạ bột :
V = K.P
- Langmuir : V =
- Freundlich :
V = K.P1/n
- Temkin :
V = K1.log(K.P)
- Brunauer - Emmett - Teller ( BET ) :
V = VmCx/(1 - x)(1 - x -Cx)
Trong đó :
X=
Vm là thể tích một lớp chất hấp phụ đơn phân tử bị hấp phụ cho
1g chất rắn trong điều kiện tiêu chuẩn.
K, K1, C là các hằng số
N = 1, 2, 3 …
24
Mô hình BET được ứng dụng rất nhiều, phương trình BET được dựa trên ba
giả thiết cơ bản sau:
1. Entalpy hấp phụ của các phân tử không thuộc lớp hấp phụ thứ nhất bằng
Entalpy hoá lỏng Ql.
2. Không có sự tương tác giữa các phân tử bị hấp phụ.
3. Số lớp hấp phụ trở nên vô cùng ở áp suất hơi bão hoà.
phép nhận được một lượng lớn các điểm thực nghiệm, do đó rất thuận lợi cho việc
xử lý toán học các dữ kiện. Phương pháp được dựa trên cơ sở cho rằng cân bằng
luôn đạt được giữa pha khí và lớp hấp phụ trong trường hợp lượng chất đưa vào hệ
với lưu lượng bé. Trong các thiết bị đo thương mại, người ta xác định thể tích hấp
phụ theo các khoảng áp suất khác nhau. Phương pháp này có thể đạt độ chính xác
cao nếu có đầu dò áp suất nhạy và dễ dàng tự động hoá.
Phương pháp BET được sử dụng để đặc trưng cho cấu trúc vật liệu mao quản trung
bình (MQTB). Đường đẳng nhiệt hấp phụ- nhả hấp phụ của vật liệu MQTB thuộc loại IV.
Dựa vào các số liệu thu được trên phổ BET ta có thể xác định các thông số bề mặt của vật
liệu : bề mặt riêng, thể tích mao quản, phân bố kích thước mao quản.
II.1.3. Kính hiển vi điện tử quét (SEM)
Kính hiển vi điện tử quét là thiết bị dùng để chụp ảnh vi cấu trúc bề mặt với độ
phóng đại hàng triệu lần phản ánh sự phân tích cao bề mặt mẫu. Ảnh kính hiển vi
điện tử quét SEM chụp trên máy JMS-5410 LV của Nhật Bản tại phòng hiển vi điện
tử, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương.
26
Hình 2.4. Sơ đồ cấu tạo của kính hiển vi điện tử quét (SEM)
Nguyên lý hoạt động: Chùm điện tử được tạo từ súng điện tử đi qua hai tầng
thấu kính điện tử sẽ tạo được một chùm điện tử có kích thước rất nhỏ, do đó sẽ tập
trung được năng lượng rất lớn. Chùm điện tử này tới đập vào bề mặt mẫu thì bề mặt
mẫu sẽ phát ra nhiều loại tia như các điện tử phát xạ thứ cấp, tia X, điện tử Auger,
điện tử tán xạ ngược. Các bức xạ này tương ứng với nhiều tín hiệu, mỗi tín hiệu nói
lên đặc điểm nào đó của mẫu ở chỗ điện tử chiếu đến. Như vậy chùm tia điện tử đã
tác động lên một phạm vi rất hẹp của mẫu. Trong SEM chủ yếu dùng ảnh của các
điện tử phát xạ thứ cấp. Năng lượng của các electron này thấp nên chỉ ở vùng gần
bề mặt cỡ vài nm chúng mới thoát ra ngoài đợc. Các điện tử này đến đầu thu qua