B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----&----
NGUYN TH DIU LINH
VậN DụNG PHƯƠNG PHáP DạY HọC THEO Dự áN
TRONG DạY HọC PHầN DẫN XUấT HIĐROCACBON HóA HọC 11 N
ÂNG CAO NHằM PHáT HUY TíNH TíCH CựC, CHủ ĐộNG,
SáNG TạO CủA HọC SINH TRUNG HọC PHổ THÔNG TỉNH SƠN LA
Chuyờn ngnh
: Lớ lun v phng phỏp dy hc
b mụn Húa hc
Mó s
: 60.14.01.11
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Nguyn Th Su
H NI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến
PGS.TS. Nguyễn Thị Sửu – cô đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em
trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Hóa
PPDH
PPDHTDA
SGK
TN
TNSP
THPT
Chữ viết đầy đủ
Dạy học
Dạy học theo dự án
Dự án
Đối chứng
Giáo viên
HS
Lược đồ tư duy
Nhà xuất bản
Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học theo dự án
Sách giáo khoa
Thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm
Trung học phổ thông
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
tiếp tục đổi mới, tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo những phương pháp
dạy học tích cực nhằm đáp ứng những yêu cầu trên.
Dạy học theo dự án (DHTDA) là một quan điểm dạy học cũng là một
phương pháp, hình thức dạy học tích cực, mang tính thực tiễn, đòi hỏi học
sinh tham gia một cách chủ động, sáng tạo, trong các hoạt động học tập tự
chiếm lĩnh chi thức có sự hợp tác với các thành viên khác. Tuy nhiên viêc áp
dụng phương pháp dạy học này trong dạy học hóa học phổ thông ở nước ta
còn nhiều hạn chế.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “ Vận dụng phương pháp dạy học
theo dự án trong dạy học phần dẫn xuất hidrocacbon hóa học 11 nâng cao
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trung học phổ
thông tỉnh Sơn La” để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH) hóa học thông qua việc sử dụng phương pháp dạy học theo dự án.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy
học phần dẫn xuất hidrocacbon hóa học 11 nâng cao nhằm tích cực hóa hoạt
động nhận thức, năng lực sáng tạo và hứng thú học tập của học sinh góp phần
nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học ở trường THPT.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới PPDH, các PPDH tích cực, đi sâu
vào PPDH theo dự án và một số kĩ thuật dạy học hỗ trợ DHTDA.
- Khảo sát thực trạng sử dụng PPDH theo dự án ở một số trường THPT
ở tỉnh Sơn La.
- Nghiên cứu chương trình, nội dung kiến thức phần hidrocacbon hóa
học 11 nâng cao.
- Nghiên cứu vận dụng phương pháp DHTDA để thiết kế các đề tài dự
án, tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh thực hiện theo dự án các bài
học về phần dẫn xuất hidrocacbon hóa học 11 nâng cao.
3
dự án trong dạy học hóa học ở trường THPT tỉnh Sơn La.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm, đánh giá hiệu quả việc sử dụng
phương pháp DHTDA ở trường THPT.
7.3. Phương pháp xử lí thông tin
Dùng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lí
phân tích các kết quả thực nghiệm sư phạm.
8. Những đóng góp của đề tài
- Tổng quan cơ sở lí luận về đổi mới PPDH hóa học PPDH theo dự án.
- Đề xuất nguyên tắc lựa chọn nội dung kiến thức có thể sử dụng để xây
dựng dự án học tập phần dẫn xuất hidroacbon hóa học 11 nâng cao.
- Đề xuất hệ thống đề tài dự án sử dụng trong dạy học phần hidrocacbon
hóa học 11 nâng cao và bộ công cụ đánh giá hiệu quả của PPDH theo dự án.
- Xác định quy trình thiết kế bài dạy theo phương pháp DHTDA.
- Vận dụng thiết kế một số kế hoạch bài dạy có sử dụng PPDH theo dự
án phần dẫn xuất hidrocacbon Hóa học 11 nâng cao.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG DẠY HỌC
THEO DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
1.1.1. Sự cần thiết phải đổi mới Giáo dục [1], [2], [6]
Nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nước phấn đấu đến năm
2020 về cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại theo nghị quyết Đại hội
như thế nào để đáp ứng được điều đó? và khi đã lựa chọn được nội dung cần
dùng thì làm thế nào để tổ chức tốt những hoạt động học tập sao cho người
học tích cực, tự lực chiếm lĩnh được kiến thức? Đây thực sự là những yêu cầu
đặt ra đối với việc thay đổi nội dung dạy học từ chú trọng nội dung sang phát
triển năng lực, thay đổi vai trò, nhiệm vụ của GV – HS trong quá trình dạy
học. GV không chỉ là người truyền thụ kiến thức cho HS mà cần dạy cho HS
phương pháp học, cách xây dựng, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo có khả
năng tự học và năng lực học tập suốt đời. Quá trình toàn cầu hóa về các lĩnh
vực đang diễn ra mạnh mẽ. Hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học công nghệ,
cách mạng thông tin truyền thông, nền kinh tế tri thức,…đã tạo ra cơ hội cho
nền giáo dục Việt Nam tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, mô hình giáo
dục, chương trình giáo dục tiên tiến, hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên
ngoài để phát triển giáo dục.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ: “Đổi mới chương trình,
nội dung, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; Nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện đặc biệt coi trọng lí tưởng, giáo dục truyền thống
lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành,
tác phong công nghiệp ý thức trách nhiệm xã hội”. Chiến lược phát triển giáo
dục 2011 – 2020 đã nêu giải pháp cụ thể cho giáo dục phổ thông “Thực hiện
đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng
phát triển năng lực học sinh”
6
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy đã đến lúc Giáo dục nước ta cần có
sự đổi mới căn bản toàn diện từ mục tiêu, nội dung chương trình SGK, PPDH
và hình thức tổ chức dạy học ở các môn học và các cấp học.
1.1.2. Định hướng chung về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục Việt
Nam[1], [13]
tiễn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, năng khiếu và hứng thú
của từng HS.
Chương trình xây dựng theo một chỉnh thể nhất quán từ lớp 1 đến lớp
12, từ cấp học đến môn học; Tích hợp cao ở tiểu học và THCS, phân hóa rõ
dần từ cấp tiểu học và sau hơn ở THPT; Đảm bảo tính thống nhất toàn quốc
về mục tiêu, nội dung và chuẩn chương trình.
4. Đẩy mạnh đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm
phát triển năng lực HS, tiếp tục vận dụng và đổi mới các PPDH theo hướng
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS; Chú trọng bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn…
Đa dạng hóa các hình thức tổ chức giáo dục trong và ngoài lớp học,
tăng cường các hoạt động xã hội của HS…
Tăng cường hiệu quả của các phương tiện dạy học đặc biệt là CNTT và
truyền thông để hỗ trợ đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học từ
đó phát triển năng lực tự học và chuẩn bị tâm thế cho học tập suốt đời
5. Đổi mới đánh giá kết quả Giáo dục theo yêu cầu phát triển năng
lực nguồn.
Đánh giá kết quả phải chính xác, khách quan, phản ánh mức độ đạt
chuẩn chương trình (cấp bậc, môn học). Thực hiện đa dạng phương pháp đánh
giá như quan sát, vấn đáp, kiểm tra viết, trình bày báo cáo, dự án học tập phối
hợp chặt chẽ các hình thức đánh giá: đánh giá đầu vào, quá trình, tổng kết,
đánh giá của GV và tự đánh giá của HS…định kì đánh giá quốc gia, tham gia
một số đánh giá quốc tế.
8
Như vậy định hướng chung về đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục
Việt Nam hướng đến phát triển những năng lực chung và chuyên biệt của
trà chung cho cả lớp sang tính chất phân hóa – cá thể hóa cao độ, tiến lên theo
nhịp độ cá nhân.
- Liên kết nhiều PPDH riêng lẻ thành tổ hợp PPDH phức hợp. Liên kết
PPDH với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại (Phương tiện nghe nhìn,
máy vi tính…) tạo ra các tổ hợp PPDH có dùng phương tiện kỹ thuật dạy học.
- Chuyển hóa phương pháp khoa học thành PPDH đặc thù của môn học.
- Đa dạng hóa các PPDH phù hợp với các cấp học, bậc học, các loại
hình trường học.
* Để thiết kế và tổ chức PPDH hóa học hiệu quả, giáo viên cần:
- Sử dụng các yếu tố tích cực đã có ở các PPDH hóa học như phương
pháp thực nghiệm, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp trực
quan, phương pháp đàm thoại…
- Tiếp thu có chọn lọc một số quan điểm và phương pháp tích cực
trong giáo dục hiện đại của một số nước trên thế giới như dạy học kiến tạo,
dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy
học tương tác…
- Lựa chọn các phương pháp phát huy tính tích cực của HS phù hợp với
mục tiêu và nội dung từng loại bài học hóa học nhất định, đối tượng HS cụ
thể và điều kiện của từng vùng, từng địa phương.
- Phối hợp một cách hợp lý một số phương pháp khác nhau nhằm phát
huy cao độ hiệu quả giờ dạy học hóa học.
Như vậy sự đổi mới PPDH hóa học ở trường THPT đều hướng đến sự
vận dụng các PPDH kết hợp với phương tiện dạy học hiện đại nhằm phát huy
cao độ tính tích cực học tập chủ động của HS, thông qua đó mà phát triển
năng lực chung và năng lực chuyên biệt của môn học.
10
1.2. Dạy – học tích cực [9], [10], [15]
- Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình.
- Biết vận dụng những tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
1.2.2. Phương pháp dạy học tích cực trong dạy học hóa học
1.2.2.1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều nước để chỉ
những PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học. Theo các nhà giáo dục Việt Nam thì PPDH tích cực là những phương
pháp được sử dụng trong quá trình dạy học nhằm phát huy cao nhất tính tích
cực, chủ động, độc lập sáng tạo trong học tập của người học dưới sự tổ chức,
điều khiển của người giáo viên.
PPDH tích cực trong dạy học hóa học cũng không nằm ngoài khái niệm
PPDH tích cực nói chung, tức là các PPDH hóa học nhằm phát triển ở HS
năng lực độc lập sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, do đó đề
cao vai trò chủ động của người học, học bằng hoạt động, thông qua hoạt động
tích cực của chính người học để khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, hình thành
năng lực và những phẩm chất của người lao động trong xã hội hiện đại. GV là
người tổ chức hướng dẫn, trợ giúp, tạo điều kiện để người học thực hiện các
hoạt động học tập một cách hiệu quả.
1.2.2.2. Nét đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực
Phương pháp dạy – học tích cực có các dấu hiệu đặc trưng như:
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của HS và chú trọng rèn
luyện phương pháp tự học: Khuyến khích người học tự lực khám phá những
điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết. GV nên đưa người học vào
những tình huống có vấn đề để HS trực tiếp quan sát, trao đổi, làm thí
nghiệm, khuyến khích HS tự khám phá; đề xuất những cách giải quyết vấn đề
của riêng mình.
12
và đại học trên thế giới, đặc biệt là ở những nước phát triển.
1.3.1. Khái niệm dạy học theo dự án`
Hiện nay có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về DHTDA.
Nhiều người coi DHTDA là một tư tưởng hay một quan điểm dạy học, cũng
có người coi đây là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có
nhiều PPDH cụ thể được sử dụng. Tuy nhiên cũng có thể coi DHTDA là một
PPDH phức hợp: Ta có thể hiểu DHTDA là một hình thức dạy học, trong đó
người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí
thuyết và thực hành, tạo ra được các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ
này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học
tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm
tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
Học theo dự án (project work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội
cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách
sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống.
Dự án là một bài tập tình huống mà người học phải giải quyết bằng các
kiến thức theo nội dung bài học.
1.3.2. Phân loại Dự án học tập
Các DA học tập được phân loại theo các cơ sở sau:
- Phân loại theo môn học: Trọng tâm nội dung DA nằm trong một môn
học hay một số môn học khác (liên môn).
- Phân loại theo sự tham gia của người học: Theo cá nhân, nhóm HS,
một lớp học hay một khối lớp…
- Phân loại theo sự tham gia của GV: DA dưới sự hướng dẫn của một
GV hay sự cộng tác của nhiều GV.
- Phân loại theo quỹ thời gian: Tùy theo mức độ phức tạp của DA mà
quyết định thời gian thực hiện và dựa vào thời gian thực hiện để phân chia
DA học tập thành ba loại:
+ DA nhỏ: Tiến hành trong một số giờ học (2 – 6 giờ)
hứng thú
Định hướng
hành động
Định
hướng kĩ
năng
mềm
Dạy học
theo Dự án
Cộng
tác làm
việc
Tính tự
lực cao
của HS
15
Định
hướng
sản
phẩm
Hình 1.1. Sơ đồ những đặc điểm của dạy học theo dự án
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của DA xuất phát từ những tình huống
- Tính tự lực cao của người học: Trong DHTDA, người học cần tham
gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình học tập để thực hiện
DA. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của
người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ khi cần thiết.
Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS về
mức độ khó khăn của nhiệm vụ.
- Cộng tác làm việc: Các DA học tập thường được tổ chức thực hiện
theo nhóm, có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành
viên trong nhóm. DHTDA đòi hỏi về rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng
tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như các lực
lượng XH khác tham gia trong DA. Đặc điểm này của DHTDA còn được gọi
là học tập mang tính XH.
Để có được tính định hướng đúng đắn cho các hoạt động cũng như sản
phẩm DA đáp ứng được mục tiêu bài học đặt ra, GV phải xác định được mục
tiêu của DA học tập, lập bộ câu hỏi định hướng cho HS nhằm giúp các DA
tập trung vào các kiến thức quan trọng. Đây là hoạt động quan trọng không
thể thiếu được khi sử dụng DHTDA và cũng là khó nhất cho GV. Bộ câu hỏi
định hướng phải được sử dụng xuyên suốt DA, giúp HS liên kết những khái
niệm, kiến thức cơ bản trong môn học hoặc giữa các môn học với nhau cùng
với các kiến thức thực tiễn. Bộ câu hỏi định hướng bao gồm: câu hỏi khai
quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung:
+ Câu hỏi khái quát: Là những câu hỏi “mở” có phạm vi rộng đề cập
đến ý tưởng lớn và các khái niệm xuyên suốt môn học. Câu hỏi khái quát khơi
dậy hứng thú, sự quan tâm và chỉ ra được sự phong phú và phức tạp của một
chủ đề. Dạng câu hỏi này thường mang tính liên môn và không có câu trả lời
duy nhất đúng. Câu hỏi khái quát dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác làm
17
tham gia tích cực vào hoạt động nghiên cứu, sáng tạo với các sản phẩm độc
đáo của mình. Với những đặc điểm này DHTDA là PPDH mang lại hiệu quả
cao trong việc phát triển các năng lực chung và chuyên biệt cho HS.
1.3.4. Quy trình dạy học theo dự án
Theo [9] dạy học theo dự án gồm 6 bước cơ bản: Lựa chọn chủ đề, lập
kế hoạch, thu thập thông tin, xử lí thông tin, trình bày kết quả, đánh giá kết
quả. Tuy nhiên để thuận lợi trong việc tổ chức các hoạt động dạy học 6 bước
cơ bản trên được gói lại thành 3 bước chính, mỗi bước chính có những hoạt
động cụ thể và được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Bước 1: Lập kế hoạch
Lựa chọn chủ đề
Xây dựng tiểu chủ đề
Khơi gợi hứng thú
Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập
Bước 2: Thực hiện dự án
2.1. Thu thập thông tin
2.2. Thực hiện điều tra
2.3. Thảo luận với các thành viên khác
2.4. Tham vấn giáo viên hướng dẫn
Bước 3: Tổng hợp kết quả
3.1. Tổng hợp các kết quả
3.2. Xây dựng sản phẩm
3.3. Trình bày kết quả
3.4. Phản ánh lại quá trình học tập.
19