LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung, những số liệu được trình bày trong bài
báo cáo này là đúng sự thật. Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung của
bài báo cáo.
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Phương Liên
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình liên hệ xin số liệu thực hiện báo cáo, em đã nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Học Viện Ngân
Hàng đã giúp em hoàn thành quá trình học tập và thực hiện báo cáo tốt nghiệp.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo, các anh chị phòng Tín Dụng cùng
tập thể Ngân hàng TMCP TMCP Bưu Điện Liên Việt - chi nhánh Hà Nội đã giúp
đỡ mọi mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình liên hệ xin số liệu.
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2015
Sinh viên :
Nguyễn Thị Phương Liên
KÝ TỰ VIẾT TẮT
DN
GDP
KT-XH
NĐ-CP
Doanh nghiệp
Tổng sản phẩm quốc dân
Ưu nhược điểm của bảo đảm theo phương pháp cầm cố
7
Sơ đồ bộ máy tổ chức của ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên
Việt -chi nhánh Hà Nội
20
Bảng 2.1
Tình hình huy động vốn của Ngân hàng TMCP Bưu Điện
Liên Việt - chi nhánh Hà Nội qua 3 năm 2012-2014
21
Bảng 2.2
Tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng TMCP Bưu Điện
Liên Việt - Chi nhánh Hà Nội qua 3 năm 2012-2014
23
Bảng 2.3
Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP
Bưu Điện Liên Việt – Hà Nội qua 3 năm 2012-2014
25
Doanh số dư nợ cho vay so với giá trị tài sản bảo đảm qua 3
năm 2012-2014
36
Bảng 2.9
Giá trị tài sản thanh lý so với nợ mất vốn khó đòi qua 3 năm
2012-2014
37
Bảng 2.10
Doanh số cho vay tín chấp so với doanh số cho vay có đảm
bảo bằng tài sản qua 3 năm 2012-2014
38
Biểu 2.4
TÊN BIỂU
Trang
Tổng vốn huy động qua 3 năm 2012-2014
22
Biểu đồ tăng trưởng tín dụng qua 3 năm 2012-2014
24
Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Bưu 25
thứ ba tại Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – chi
Biểu 2.8
Biểu đồ 2.9
nhánh Hà Nội qua 3 năm 2012-2014
Dư nợ cho vay đảm bảo bằng uy tín qua 3 năm 2012-2014
Doanh số dư nợ cho vay so với giá trị TSBĐ qua 3 năm
34
36
Biểu đồ 2.10
2012-2014
Giá trị tài sản thanh lý so với nợ mất vốn khó đòi qua 3 năm
37
Biểu đồ 2.11
2012-2014
Doanh số cho vay tín chấp so với doanh số cho vay có đảm
38
bảo bằng tài sản qua 3 năm 2012-2014
MỤC LỤC
CHƯƠNG 2.......................................................................................................................19
có thể xảy ra và nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng thì các ngân hàng thương
mại rất coi trọng vấn đề về bảo đảm tiền vay.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động bảo đảm tiền vay nên trong những
năm qua đã có khá nhiều quy chế về bảo đảm an toàn trong cho vay của ngân hàng
thương mại. Tuy nhiên, do những biến đổi về kinh tế và chưa có sự đồng bộ về mặt
pháp lý nên đã có những tác động lớn đến tình hình an toàn trong cho vay. Có nhiều
khoản nợ khó đòi không thu hồi được đã tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của
ngân hàng. Vì vậy để các ngân hàng thu được lợi nhuận và bảo đảm an toàn trong cho
vay thì ngân hàng cần phải có các giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo
đảm tiền vay.
Từ những kiến thức thu thập được trong thời gian học tập và nghiên cứu tại
trường cũng như những trải nghiệm thực tế, em nhận thấy bảo đảm tiền vay là một
trong các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn trong cho vay. Nhận thấy tầm quan trọng
của việc đảm bảo tiền vay, việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp khắc phục những
yếu điểm và đẩy mạnh công tác tín dụng tại Chi nhánh một cách phù hợp, khoa học là
vô cùng cần thiết. Vì thế em đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay
đối với các khoản vay tại Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt-Chi nhánh Hà
Nội” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu về những thành công và tồn tại trong hoạt động
đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt-chi nhánh Hà Nội, tìm ra
nguyên nhân của những tồn tại, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng.
3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động bảo đảm tiền vay của Ngân hàng
thương mại.
Ngân hàng thương mại, cũng như nhiều tổ chức kinh doanh khác, có mục tiêu
kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Phần lớn nhân viên ngân hàng
trực tiếp làm việc với tiền. Với tổng tài sản lên đến hàng trăm tỷ đô la Mỹ (các ngân
hàng lớn trên thế giới) hàng chục nghìn tỷ VNĐ (các ngân hàng lớn Việt Nam), ngân
hàng được xếp vào loại hình doanh nghiệp có tổng tài sản lớn. Trong khi đó vốn chủ
sở hữu thường rất nhỏ trong tổng tài sản, điều này phản ánh bản chất hoạt động của
ngân hàng là sử dụng tiền huy động của doanh nghiệp và dân cư. Nhiều khoản cho vay
thời hạn hàng chục năm, có thể vượt cả quãng thời gian họ làm việc cho ngân hàng.
Điều này cũng góp phần khuyến khích họ chấp nhận mạo hiểm. Như vậy, xu hướng
mạo hiểm là rất mạnh trong hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động cho vay của NHTM luôn đứng trước rất nhiều nguy cơ mất an toàn và
rất nhiều các loại rủi ro. Mất an toàn cho vay xảy ra thường là nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán, phá sản của ngân hàng.
Ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động của ngân hàng với bản chất
của nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều rủi ro có thể dẫn đến mất vốn. Như vậy, rủi ro tín
dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Khi rủi ro tín dụng xảy ra ngân hàng se
đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán với việc hàng loạt người gửi tiền đến rút
4
tiền ra khỏi ngân hàng, buộc ngân hàng phải đóng cửa hay tuyên bố phá sản. Hậu quả
từ sự đổ vỡ của ngân hàng đến nền kinh tế là rất nặng nề nên an toàn trong cho vay là
vấn đề được ngân hàng thương mại rất quan tâm và coi trọng.
Vì vậy, để đảm bảo an toàn trong cho vay, các ngân hàng cho vay thường yêu cầu
khách hàng của mình thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay. Mục đích của việc
thực hiện các biện pháp đó là nhằm nâng cao trách nhiệm thực hiện cam kết trả nợ của
bên vay; phòng ngừa rủi ro khi phương án trả nợ dự kiến của bên vay không thực hiện
được, hoặc xảy ra các rủi ro không lường trước; phòng ngừa gian lận.
Với tầm quan trọng của vấn đề an toàn trong NH như vậy thì đảm bảo an toàn
trong cho vay không chỉ là trách nhiệm riêng của NHTM mà còn là trách nhiệm của
bằng tài sản.
Điều kiện đối với khách hàng vay có bảo đảm bằng uy tín:
Khách hàng vay phải có tín nhiệm với NH cho vay trong việc sử dụng vốn vay và
có nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi; dự án mà khách hàng định đầu tư
sản xuất kinh doanh phải có khả năng hoàn trả, có tính khả thi phù hợp với đời sống xã
hội, với quy định của pháp luật. Trong trường hợp vay để phục vụ nhu cầu thiết yếu
của đời sống thì khách hàng vay phải có phương án trả nợ khả thi; khách hàng phải có
khả năng tài chính và các nguồn thu hợp pháp có khả năng thu được trong thời hạn vay
vốn để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng; khách hàng vay phải cam kết
thực hiện đúng các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo yêu cầu của ngân
hàng cho vay.
Trong trường hợp khách hàng vay là DN, ngoài các điều kiện đã quy định như
trên thì còn cần phải có kết quả sản xuất kinh doanh có lãi trong 2 năm liền kề với thời
điểm xem xét cho vay.
Trường hợp khách hàng vay đã có đủ điều kiện để vay không có bảo đảm bằng
tài sản, ngân hàng cho vay và khách hàng vay có thể thoả thuận bảo đảm bằng tài sản
cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba hoặc bảo
đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay đối với một phần khoản vay đó.
Ngân hàng cho vay theo đảm bảo bằng chỉ thị của Chính phủ
TCTD cho vay theo hình thức đảm bảo bằng chỉ thị của Chính phủ đối với khách
hàng vay để thực hiện các dự án đầu tư thuộc các chương trình kinh tế trọng điểm, đặc
biệt của Nhà nước, các chương trình kinh tế-xã hội và đối với một số khách hàng
thuộc đối tượng được hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo
quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính
phủ.
6
Trách nhiệm của khách hàng vay theo hình thức bảo đảm bằng chỉ định của
Chính phủ là: phải thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng, thực hiện đúng
7
Đối tượng
Ưu điểm
Nhược
điểm
Ngân hàng
Khách hàng vay
Dễ dàng kiểm soát được
tài sản đảm bảo
Có thể hưởng lợi từ tài
sản cầm cố trong thời hạn bảo
đảm
Ít tốm kém chi phí kiểm
soát tài sản
Dễ dàng thu hồi tài sản
để xử lý.
Thủ tục pháp lý đơn
giản
Hạn chế về chủng loại
của NH mà theo đó khách hàng vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu
(hoặc quyền sử dụng) các tài sản đảm bảo sang NH nắm giữ trong thời gian cam kết.
Như vậy, muốn thế chấp tài sản thì trước hết khách hàng phải có quyền sở hữu tài
sản đó. Vì quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định
đoạt tài sản nên nhất thiết chủ sở hữu phải chứng minh được quyền sở hữu tài sản của
mình bằng những giấy tờ hợp pháp để đảm bảo quyền ưu tiên trong xử lý tài sản sau
này của bên cho vay trong trường hợp rủi ro xảy ra. Tuy nhiên, không phải bất cứ loại
tài sản nào cũng có thể đem đi thế chấp mà nó phải thoả mãn một số điều kiện nhất
định tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật.
1.1.4.3. Đảm bảo bằng bảo lãnh của bên thứ ba
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba (gọi là bên bảo lãnh) là việc bên bảo lãnh
cam kết với ngân hàng cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách
hàng vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
8
Bên nhận bảo lãnh là người chủ nợ, người hưởng thụ bảo lãnh. Trong quan hệ tín
dụng đó là các ngân hàng cho vay.
Bên được bảo lãnh là khách hàng vay (con nợ), người có nghĩa vụ phải thanh
toán nợ cho ngân hàng cho vay.
Biện pháp bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba thường được các NH áp dụng
nhằm mục tiêu an toàn NH để hạn chế rủi ro, tổn thất xảy ra đối với hệ thống NH. Tuy
nhiên, không phải NH áp dụng hình thức này cho hầu hết các khách hàng vay mà tuỳ
theo năng lực của bản thân khách hàng đó để sử dụng hình thức bảo đảm phù hợp.
1.1.5. Định giá giá tài sản bảo đảm
Việc định giá tài sản bảo đảm là do tổ thẩm định của NH cho vay hoặc thuê cơ
quan chức năng chuyên môn thực hiện. NH có những quy định cụ thể về vấn đề này.
TSĐB tiền vay phải được xác định giá trị tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm,
ký kết văn bản thoả thuận tu chỉnh bổ sung hợp đồng bảo đảm (trong trường hợp thoả
Trong trường hợp bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ trả nợ thì tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại NH được xử lý để thu
hồi nợ.
“Tài sản bảo đảm tiền vay phải được xử lý theo các phương thức mà các bên đã
thoả thuận trong hợp đồng.” ¹
Các ngân hàng cho vay có quyền chuyển giao quyền thu hồi nợ hoặc uỷ quyền
cho bên thứ ba xử lý TSĐB tiền vay. Bên thứ ba phải là tổ chức có tư cách pháp nhân
và được quyền thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay phải tuân thủ nguyên tắc công khai, thủ tục
đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích của ngân hàng cho vay và
khách hàng đồng thời tiết kiệm được chi phí.
“Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
- Bán TSĐB;
- Nhận chính TSĐB tiền vay thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm.
- Nhận các khoản tiền, tài sản từ bên thứ ba phải trả hoặcphải giao cho bên bảo
đảm.” ²
1.2. CHẤT LƯỢNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Quan niệm về chất lượng đảm bảo tiền vay
Bất cứ NHTM nào đều mong muốn đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động
kinh doanh của mình, đặc bịêt là trong hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng là hoạt
động có khả năng sinh lợi nhiều nhất nhưng cũng là hoạt động chịu nhiều rủi ro nhất.
Do vậy, để hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay, các ngân hàng cần phải nâng cao
10
chất lượng hoạt động cho vay, nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay. Chất lượng của
công tác bảo đảm tiền vay chính là chất lượng của những hình thức mà ngân hàng
chấp nhận làm bảo đảm cho món vay của khách hàng có khả năng thực hiện đúng
chức năng là nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng hay không, có giúp ngân hàng bảo
toàn được nguồn vốn khi xảy ra rủi ro không.
mức cho vay. Xác định chính xác giá trị TSĐB là yếu tố hết sức quan trọng giúp NH
bảo đảm được quyền lợi cho chính bản thân mình và cho khách hàng. TSĐB phải thoả
mãn được một số yêu cầu cần thiết như: TSĐB phải không có tranh chấp, có khả năng
mua bán chuyển nhượng…Về nguyên tắc, định giá tài sản bảo đảm phải theo giá trị thị
trường, nếu định giá cao hơn giá trị thị trường có thể se dẫn đến khi phát mại tài sản
trong trường hợp khách hàng không trả đựơc nợ không thu hồi đủ nợ gốc, lãi và các
chi phí khác. Nếu định giá thấp giá trị thị trường se ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu
cầu vốn cho khách hàng và làm suy yếu tính cạnh tranh trong vịêc thu hút khách hàng.
Quản lý và thụ đắc tài sản bảo đảm: Quản lý TSĐB và các giấy tờ có giá liên
quan được hiểu là qúa trình theo dõi, kiểm tra nhằm bảo đảm tài sản và các loại giấy tờ
vẫn đang trong tình trạng bình thường hoặc kịp thời phát hiện các sự cố liên quan làm
giảm giá trị của TSĐB, các loại giấy tờ có giá so với dự kiến nêu tại hợp đồng bảo
đảm. Cán bộ tín dụng là người chịu trách nhiệm chính trong suốt quá trình quản lý
TSĐB và các loại tài sản liên quan. Quản lý tốt tài sản bảo đảm giúp các NH theo dõi,
kiểm tra, đánh giá nhằm đảm bảo tài sản vẫn đang trong tình trạng bình thường, đồng
thời ngăn chặn kịp thời các sự cố làm giảm giá trị của TSĐB gây thiệt hại cho NH.
Xử lý tài sản bảo đảm: Khả năng xử lý đựơc tài sản bảo đảm với chi phí thấp,
thủ tục nhanh chóng giúp bảo đảm được quyền lợi cho ngân hàng và khách hàng cũng
là một tiêu chí phản ánh chất lượng bảo đảm tiền vay... Việc xử lý tài sản bảo đảm
phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên
quan.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng quan trọng
Chỉ tiêu giá trị khoản vay so với giá trị của tài sản bảo đảm
H=
Giá trị khoản vay là số tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay ghi trên hợp đồng
tín dụng. Giá trị của TSĐB được thể hiện bằng số tiền mà các cán bộ thẩm định định
giá, được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm, làm cơ sở cho vịêc xác định
mức vay của ngân hàng.
x 100%
Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu phần trăm dư nợ của các tổ chức tín dụng
được đảm bảo bằng tài sản. Thông thường, tỷ lệ này càng cao thì chất lượng bảo đảm
tiền vay càng tốt, tuy nhiên, việc cho vay của một NHTM không phải chỉ dựa vào tài
sản bảo đảm mà cần quan tâm đến phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng. Tỷ
lệ này trung bình ở các ngân hàng vào khoảng 80%.
Chỉ tiêu về giá trị tài sản thanh lý so với số nợ mất vốn khó đòi
Giá trị tài sản thanh lý so với nợ mất vốn, khó đòi
13
=
Giá trị tài sản thanh lý là số tiền mà ngân hàng thu được sau khi bán tài sản bảo
đảm và đã trừ đi các chi phí bảo quản, xử lý tài sản bảo đảm. Tỷ lệ này phản ánh khả
năng bù đắp rủi ro của tài sản bảm đảm, cho biết với mỗi đồng vốn bị chiếm dụng thì
có thể được bù đắp bao nhiều đồng bằng cách bán tài sản bảo đảm, đồng thời cũng
phản ánh chất lượng của công tác định giá, quán lý và xử lý tài sản của mỗi ngân hàng.
Đối với các ngân hàng, chỉ tiêu này bằng một là tối ưu mà các ngân hàng đang hướng
tới bằng cách nâng cao công tác xử lý, định giá tài sản bảo đảm. Hiện nay ở các ngân
hàng tỷ lệ này vào khoảng 80%.
Chỉ tiêu về nợ quá hạn của khoản vay có TSĐB so với tổng nợ quá hạn
=
Trong đó, nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng sau khi đã vay, đã đến thời
hạn trả nợ theo thoả thuận trên hợp đồng tín dụng nhưng không có khả năng hoàn trả
cho ngân hàng. Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ chất lượng bảo đảm tiền vay có tài sản
bảo đảm của khách hàng càng tốt và ngược lại. Thông thường ở các ngân hàng hiện
này, các khoản vay có tài sản bảo đảm thường có nợ quá hạn ít hơn so với các khoản
vay không có bảo đảm bằng tài sản. Nợ quá hạn của khoản vay có tài sản bảo đảm chỉ
chiếm khoảng 20% so với tổng dư nợ quá hạn.
dụng cố tình đánh giá sai giá trị tài sản bảo đảm để đưa ra mức cho vay cao hơn giá trị
thật của nó, do đó gây ảnh hưởng rất lớn đên việc xử lý tài sản đảm bảo sau này khi
mà khách hàng vay không có khả năng trả nợ. Vì vậy, các ngân hàng cần phải đào tạo
một đội ngũ cán bộ đặc biệt là cán bộ tín dụng, những người trực tiếp ra quyết định
vay không những có chuyên môn mà còn phải có cả đạo đức nghề nghiệp để có thể
đưa ra những quyết định mang lại hiệu quả kinh tế cao đối với ngân hàng.
b) Chất lượng công tác thẩm định tài sản bảo đảm và thẩm định khách hàng
Việc đánh giá khách hàng được thực hiện thông qua công tác thẩm định tín dụng.
Mục đích của công tác thẩm định nhằm giúp ngân hàng biết được tính khả thi, hiệu
quả kinh tế, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra để đưa ra quyết định cho vay
phù hợp. Chất lượng của công tác thẩm định quyết định hiệu quả của công tác đảm bảo
tiền vay. Nếu chất lượng của công tác thẩm định tốt, ngân hàng se tiến hành phân tích
đánh giá chính xác hoạt động của khách hàng vay để từ đó có quyết định đúng đắn
đảm bảo khả năng thu hồi được vốn và lãi. Chất lượng của công tác thẩm định tài sản
bảo đảm và thẩm định khách hàng phụ thuộc vào các nhân tố:
15
- Trình độ chuyên môn của cán bộ thẩm định
- Quy trình thẩm định
Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay thì cần phải có
những thông tin về khách hàng một cách đầy đủ, khách quan và chính xác. Nếu những
thông tin thu thập được về khách hàng có độ tin cậy và chính xác cao thì việc ngân
hàng ra quyết định cho vay là an toàn hơn. Do vậy, thu thập thông tin và xử lý thông
tin về khách hàng là một yếu tố rất cần thiết đối với ngân hàng. Trên thực tế có rất
nhiều loại tài sản bảo đảm mà có những loại cán bộ thẩm định của ngân hàng chưa
chắc đã am hiểu. Do đó, việc thu thập thông tin về tài sản có thể se gặp khó khăn, ngân
hàng se không có thông tin chính xác về tài sản bảo đảm, về giá trị thị trường của tài
sản bảo đảm. Vì vậy, khi thẩm định tài sản thuộc lĩnh vực chuyên môn nào thì ngân
hàng nên thuê các chuyên gia về vấn đề đó để có thể đánh giá được giá trị đích thực
theo dõi, giám sát, quản lý vốn vay của khách hàng để từ đó có thể đưa ra những quyết
định đầu tư đúng đắn, những biện pháp tình thế kịp thời, điều này làm hiệu quả của
hoạt động bảo đảm tiền vay bị giảm sút. Vì vậy để đạt được hiệu quả của công tác bảo
đảm tiền vay thì ngân hàng phải lựa chọn để tìm được những khách hàng có tư cách
đạo đức, có đủ năng lực tài chính, có uy tín, có hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết
quả cao.
- Tính đúng mục đích của việc sử dụng vốn:
Một trong những yêu cầu cơ bản của ngân hàng đối với khách hàng khi cho vay
là khách hàng phải sử dụng vốn đúng mục đích và ngân hàng nào cũng có những biện
pháp để giám sát mục đích sử dụng vốn của khách hàng. Tuy nhiên, vẫn có nhiều
trường hợp sử dụng vốn sai mục đích ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động bảo đảm
tiền vay của ngân hàng. Chẳng hạn, các khách hàng sử dụng vốn ngân hàng không
đúng với phương án, mục đích khi xin vay, không đúng đối tượng kinh doanh… Đây
có thể là một trong những nguyên nhân của việc khách hàng không trả được nợ đúng
hạn cho ngân hàng.
b) Các nhân tố khác
- Môi trường pháp lý
Mỗi quốc gia đều có các văn bản pháp luật do Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước
và các Bộ ngành có liên quan ban hành ra nhằm hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại
trong việc thực hiện hoạt động bảo đảm tiền vay. Các hình thức bảo đảm tiền vay áp
dụng cho mỗi nước tuỳ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước mà
17
các văn bản quy định được ban hành ra là nới lỏng hay thắt chặt. Các hệ thống văn bản
pháp luật về bảo đảm tiền vay có sự thống nhất, hoàn thiện và chặt che se là hành lang
pháp lý giúp các ngân hàng thương mại thực hiện vấn đề an toàn trong cho vay của
ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế thì quá trình thực hiện hoạt động bảo đảm tiền vay
thì ngân hàng đã gặp phải những vướng mắc do các văn bản quy định đang có sự
chồng chéo nhau, không phù hợp với thực tế. Do đó đã có những trường hợp khách
hàng ưa chuộng vì nó se có độ rủi ro thấp hơn, hiệu quả của bảo đảm tiền vay se cao
hơn. Những tài sản có độ an toàn cao là những tài sản dễ dàng xác định được quyền sở
hữu, có thị trường tiêu thụ rộng rãi… và là những tài sản dễ bán với chi phí thấp nên
ngân hàng se dễ thu hồi được vốn nhanh và dễ dàng hơn.
- Những nhân tố bất khả kháng
Những nhân tố như thiên tai, chiến tranh, hoả hoạn, dịch bệnh là những nhân tố
bất khả kháng mà khách hàng nào cũng phải đối mặt, nó có thể tạo thuận lợi hay gây
khó khăn cho khách hàng. Các nhân tố này được gọi là bất khả kháng vì chúng thường
vượt quá tầm kiểm soát của cả ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, sự tác động của
những nhân tố này tới người vay thường là rất nặng nề, họ thường bị tổn thất lớn, khả
năng trả nợ của ngân hàng bị suy giảm, thậm chí không còn khả năng trả nợ.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, bài báo cáo đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề
cơ bản về chất lượng bảo đảm tiền vay tại NHTM. Đánh giá đúng vai trò của bảo đảm
tiền vay, chất lượng bảo đảm tiền vay là hết sức cần thiết, nó giúp cho quá trình đi sâu
nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng bảo đảm tiền vay nói chung và
chất lượng bảo đảm tiền vay đối với các khoản vay tại Ngân hàng TMCP Bưu Điện
Liên Việt-chi nhánh Hà Nội.
Toàn bộ nội dung chương 1 là những vấn đề rất cơ bản làm nền tảng để đề tài
tiếp tục nghiên cứu “Thực trạng chất lượng bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng TMCP
Bưu Điện Liên Việt-chi nhánh Hà Nội” ở chương 2.
19
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG
TMCP BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT-CHI NHÁNH HÀ NỘI.
2.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT-CHI
NHÁNH HÀ NỘI
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên