TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT TRUNG ƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BẢO ĐẢM
TIỀN VAY TẠI MARITIME BANK QUẢNG NINH
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Trương Thanh Vân
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Anh Duy
Mã sinh viên : 10TCB006
Lớp : TCNH – K2B
Khoa : Tài chính ngân hàng
HÀ NỘI – Tháng 05/2013
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT TRUNG ƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BẢO ĐẢM
TIỀN VAY TẠI MARITIME BANK QUẢNG NINH
Giảng viên chấm thứ nhất:
…………………………………………
Giảng viên chấm thứ hai:
………………………………………….
HÀ NỘI – Tháng 05/2013
MỤC LỤC
MỤC LỤC Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU/ SƠ ĐỒ/ HÌNH VẼ ii
1.1. Bảo đảm Tiền vay trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương
mại 1
1.1.3. Các hình thức bảo đảm tiền vay 3
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đảm bảo tiền vay 11
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY 18
TẠI MARITIME BANK QUẢNG NINH 18
2.1. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Quảng
14
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức Maritime Bank Quảng Ninh 19
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả kinh doanh 22
Bảng 2.2: Dư nợ cho vay phân theo tính chất bảo đảm 25
Bảng 2.3: Dư nợ theo hình thức bảo đảm tiền vay 26
Bảng 2.4: Tình hình cho vay thế chấp 29
Bảng 2.5: Dư nợ cho vay có bảo đảm bằng tài sản cố định 30
Bảng 2.6: Tình hình cho vay bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba 32
Bảng 2.7: Tỷ lệ nợ quá hạn tại thời điểm cuối năm 34
Bảng 2.8: Tỷ lệ nợ quá hạn theo các hình thức bảo đảm/ tổng nợ
quá hạn
35
Số hiệu biểu Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 2.1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 23
Biểu đồ 2.2: Tình hình cho vay thế chấp 29
ii
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do viết chuyên đề
Trong cơ chế thị trường hiện nay các ngân hàng thương mại đang ngày một
phát triển mạnh mẽ và có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế. Vấn đề chất
lượng và sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng càng được đặc biệt quan
tâm khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Cũng giống như các hoạt động kinh doanh khác, rủi ro trong hoạt
động tín dụng luôn luôn tiềm ẩn. Nếu rủi ro liên tiếp xảy ra thì ngân hàng
thương mại sẽ khó tránh khỏi sự phá sản và dẫn đến sự sụp đổ của cả hệ thống
ngân hàng, gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân.
Vì vậy phải thực hiện các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của khách
hàng đi vay. Để ngân hàng và khách hàng có thể tiếp cận và thực hiện được các
quan hệ vay vốn, đó là khách hàng phải đảm bảo được ba vấn đề cơ bản, cũng là
Maritime Bank Quảng Ninh.
4. Bố cục chuyên đề
Ngoài phần Mở Đầu, Kết Luận thì chuyên đề gồm ba phần:
Chương I: Lý luận chung về vấn đề bảo đảm tiền vay của Ngân hàng
Thương mại.
Chương II: Thực trạng bảo đảm tiền vay tại Maritime Bank Quảng Ninh.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay tại Maritime
Bank Quảng Ninh.
Sau quá trình thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt
Nam (Maritime Bank)-Chi nhánh Quảng Ninh. Với sự quan tâm, hướng dẫn
tận tình của các anh chị trong chi nhánh ngân hàng và đặc biệt là:
Cô Trương Thanh Vân: Giảng viên khoa tài chính ngân hàng
Đã giúp đỡ em hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
iv
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ
BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Bảo đảm Tiền vay trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm
Hoạt động cho vay là việc tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Theo đó, nếu nguyên tắc hoàn trả tín dụng bị
vi phạm thì rủi ro tín dụng xảy ra. Quan hệ tín dụng thể hiện trong hợp đồng tín
dụng nhằm đưa ra các điều khoản thi hành, các cam kết thực hiện một cách
nghiêm túc và tự nguyện giữa người đi vay và người cho vay. Hợp đồng tín
dụng là cơ sở pháp lý để thực hiện các nghĩa vụ của 2 bên khi tham gia hoạt
động tín dụng, nó cũng là cơ sở để thực hiện các bảo đảm tín dụng hay còn gọi
là bảo đảm tiền vay. Như vậy bảo đảm tiền vay được hình thành trên cơ sở từ
hợp đồng tín dụng đã được thông qua của chủ thể tham gia hoạt động tín dụng
và cũng nằm trong mục tiêu chính của ngân hàng là an toàn và sinh lời.
định giá tài sản đảm bảo chỉ có ý nghĩa trong trường hợp cho vay đối với những
khách hàng tư nhân, ít uy tín hoặc những doanh nghiệp nhỏ làm ăn không ổn
định. Còn đối với những công ty lớn có chính sách quản lý hiệu quả, có sản
phẩm và các dịch vụ được thị trường sẵn sàng chấp nhận, có lợi nhuận tương đối
ổn định và với một tình hình tài chính ổn định, uy tín trong thanh toán nợ cũ thì
đó là những khách hàng tiềm năng và trong trường hợp này chính những yếu tố
trên đã là tài sản đảm bảo rồi
* Đối với khách hàng:
- Khách hàng là người gửi tiền: Bảo đảm tín dụng góp phần giảm rủi ro
trong hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng thương mại, vì vậy khoản
tiền gửi của khách hàng trong ngân hàng an toàn hơn, yên tâm hơn về khoản tiết
kiệm của mình.
- Khách hàng là người vay vốn: Qua áp dụng đảm bảo tiền vay hướng cho
khách hàng phải sử dụng vốn vay có hiệu quả để có khả năng trả nợ ngân hàng
2
và nhận lại tài sản. Khi vay vốn khách hàng phải cầm cố thế chấp tài sản thuộc
sở hữu của mình, khách hàng chỉ có thể nhận lại tài sản đảm bảo và các giấy tờ
có liên quan khi đã trả hết nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Như vậy khi đem tài sản của mình làm bảo đảm cho khoản vay khách
hàng sẽ có trách nhiệm hơn trong quản lý và sử dụng vốn vay, điều đó cũng có
nghĩa là hiệu quả của vốn vay cũng được đảm bảo cùng với đó, vốn vay sẽ thực
sự đem lại những lợi ích cho chủ thể vay vốn.
* Đối với nền kinh tế:
Việc đảm bảo tiền vay thực hiện tốt sẽ hạn chế được nợ quá hạn, nợ khó
đòi, giảm rủi ro, tăng lợi nhuận, nâng cao uy tín của ngân hàng thu hút người gửi
tiền để cho vay mở rộng sản xuất phát triển kinh tế.
1.1.3. Các hình thức bảo đảm tiền vay
1.1.3.1. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng
mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện
Theo Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay
thì tài sản bảo đảm tiền vay phải được xác định giá trị tại thời điểm ký kết hợp
đồng bảo đảm, việc xác định giá trị tài sản tại thời điểm này chỉ để làm cơ sở
xác định mức cho vay của tổ chức tín dụng và không áp dụng khi xử lý tài sản
để thu hồi nợ. Việc xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay phải được lập thành
văn bản riêng kèm theo hợp đồng bảo đảm. Đối với tài sản bảo đảm tiền vay
không phải là quyền sử dụng đất thì việc xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền
vay do các bên thoả thuận hoặc thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác
định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm xác định, có tham khảo các loại giá
như giá quy định của Nhà nước (nếu có) giá mua, giá trị còn lại trên sổ sách kế
toán và các yếu tố khác về giá. Đối với giá trị quyền sử dụng đất thế chấp đã
được qui định rõ trong điều 8 chương II Nghị định 178/1999/NĐ-CP và điều 5
mục 3 Thông tư 06 /2000/TT-NHNN1.
4
* Bảo đảm bằng tài sản cầm cố của khách hàng vay:
Hình thức bảo đảm bằng tài sản cầm cố là việc khách hàng vay phải
chuyển quyền kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời gian
thực hiện hợp đồng. Điều này có nghĩa là, tài sản đem cầm cố sẽ thuộc ngân
hàng quản lý và cất giữ. Như vậy nó thường thích hợp với những tài sản mà
ngân hàng có thể kiểm soát, bảo quản được, đồng thời việc nắm giữ tài sản này
không làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh hay sinh sống của
khách hàng vay.
Các tài sản có thể đem cầm cố là:
- Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,
hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý và các vật có giá trị khác.
- Ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản tiền gửi tại các tổ chức tín
dụng.
- Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm,
thương phiếu, các giấy tờ có giá khác trị giá được bằng tiền, cổ phiếu do các tổ
chức tín dụng phát hành.
Như vậy, khác với chế độ bảo đảm khác, bảo đảm tài sản hình thành từ vốn
vay là việc khách hàng vay lại dùng chính tài sản hình thành (được mua sắm
hoặc xây dựng lên) từ khoản vay mà khách hàng đã vay tại tổ chức tín dụng để
đảm bảo cho chính khoản vay này. Do vậy xét về thời gian, tài sản đảm bảo
chưa hình thành (chưa tồn tại) tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng và các bên
chỉ ký kết hợp đồng bảo đảm khi tài sản bảo đảm được hình thành. Trong khi đó
việc cho vay có bảo đảm bằng hình thức cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thông
thường lại dùng tài sản đã hình thành, đã có tại thời điểm ký kết hợp đồng tín
dụng.
Để bảo đảm việc thu hồi vốn và lãi, pháp luật quy định những điều kiện để
đảm bảo tính an toàn.
+ Điều kiện đối với khách hàng vay: Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của TCTD, cũng như tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay khách hàng
phải đáp ứng được những điều kiện như là có tín nhiệm đối với TCTD trong
việc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi; Có khả năng tài
6
chính và có các khoản thu hợp pháp; Có dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả
thi; Có mức vốn tự có tham gia vào dự án và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay
bằng các biện pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 50% vốn đầu tư của dự án;
…
+ Điều kiện đối với tài sản hình thành từ vốn vay: Để đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng, cũng như tính hiệu quả của việc sử dụng
vốn vay từ tài sản hình thành từ vốn vay phải đáp ứng được những điều kiện như
là: Tài sản hình thành từ vốn vay phải xác định được Quyền sở hữu của khách
hàng vay đối với tài sản: như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của khu đất
mà trên đó tài sản sẽ được hình thành và phải hoàn thành các thủ tục xây dựng
theo quy định của pháp luật, tài sản không có tranh chấp;…
Ngân hàng có quyền lựa chọn cho khách hàng vay theo hình thức này nếu
xét thấy khách hàng có đầy đủ các yêu cầu trên, đông thời cũng phải là những
khách hàng có uy tín trong các lần vay trước vì mức độ rủi ro trong hình thức
ngân hàng và bên bảo lãnh được chấm dứt.
Hiện nay các TCTD có quyền lựa chọn quyết định việc cho vay có bảo đảm
hay không có bảo đảm bằng tài sản với điều kiện phải tuân thủ các quy định của
chính phủ, NHNN và các bộ ngành liên quan. Việc áp dụng hình thức cho vay
không có bảo đảm bằng tài sản tuy có nhiều rủi ro song lại là phổ biến trong
hoạt động tín dụng của các NHTM bởi sự đánh đổi giữa doanh thu, lợi nhuận và
tính bấp bênh, mạo hiểm trong kinh doanh. Vả lại, khách hàng vay không có bảo
đảm không có nghĩa làdự án đầu tư, dự án kinh doanh của họ không khả thi và
hiệu quả, nên nếu chỉ vì lý do không có bảo đảm tiền vay bằng tài sản mà từ
chối những khách hàng vay vốn thì đồng nghĩa với việc NHTM tự đặt dấu chấm
hết cho hoạt động kinh của mình. Mặt khác, thực tế cho thấy cho vay có bảo
đảm bằng bảo lãnh lại thường có hiệu quả và tính an toàn cao vì người bảo lãnh
bao giờ cũng là những cá nhân, đơn vị có tiền lực tài chính và có uy tín cao,
thêm vào đó cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh lại tiết kiệm được chi phí quản
lý, linh hoạt và thích ứng với từng điều kiện, khách hàng cụ thể.
8
1.1.3.2. Bảo đảm không bằng tài sản
Ngân hàng không phải lúc nào cũng yêu cầu khách hàng vay phải có tài
sản bảo đảm nhất là đối với khách hàng có uy tín, khách hàng truyền thống.
Trong điều 19 và điều 20 chương VI Nghị định 178/1999/NĐ-CP quy
định TCTD được lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có tài sản bảo đảm
khi cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát
triển hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống với khách hàng
vay có đủ điều kiện quy định sau:
- Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay
và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi;
- Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi,
có khả năng hoàn trả nợ; hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù
hợp với quy định của pháp luật;
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ;
thì việc thu hút khách hàng là rất quan trọng, do đó ngân hàng cần thiết phải
xem xét hình thức cho vay này một cách kỹ lưỡng để nó có thể là một trong
những phương thức thu hút khách hàng vay vốn tại ngân hàng hơn.
* Bảo đảm bằng uy tín của bên thứ ba:
Cũng như trường hợp bảo đảm tiền vay bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ
ba, việc cho vay theo bảo lãnh bằng uy tín của bên thứ ba là hình thức mà bên
bảo lãnh sẽ cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng nếu như
khách hàng vay không thực hiện được. Nhưng trong hình thức này thì khách
hàng được vay dựa trên uy tín của bên bảo lãnh, mà không cần tài sản bảo đảm.
Bên bảo lãnh trong trường hợp này thường là những tổ chức lớn có uy tín như
Chính phủ, các tổ chức tài chính lớn, các tổng công ty, các tổ chức đoàn thể
chính trị - xã hội… Thực chất việc cho vay này cũng là một hình thức cho vay
không có tài sản bảo đảm nhưng thông qua người thứ ba, cũng có thể coi là con
nợ của ngân hàng.
Tóm lại, căn cứ vào năng lực tài chính của khách hàng vay, tính khả thi và
hiệu quả khoản vay và tình hình thực tế, ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng một
10
hoặc một số biện pháp bảo đảm tiền vay trên đây. Tuy nhiên, trong bất kỳ
trường hợp nào thì ngân hàng cũng đều phải chịu trách nhiệm về quyết định của
mình. Do đó, ngân hàng và khách hàng cần tìm hiểu kỹ mỗi ưu, nhược điểm của
các biện pháp để giúp cho quá trình ra quyết định được thuận lợi và đúng đắn.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đảm bảo tiền vay
1.1.4.1. Nhân tố từ phía ngân hàng
Ngân hàng chính là người trực tiếp ra quyết định cho vay và sử dụng hình
thức bảo đảm tiền vay đối với mỗi khách hàng, do đó bản thân ngân hàng sẽ là
yếu tố đầu tiên ảnh hưởng lớn đến hiệu quả bảo đảm tiền vay. Trong đó bao gồm
rất nhiều yếu tố ảnh hưởng như:
* Chất lượng nhân sự ngân hàng, đặc biệt là cán bộ thẩm định tín dụng:
Cán bộ tín dụng là người thẩm định giá khách hàng và cũng là người đề
xuất các biện pháp bảo đảm tiền vay có thể áp dụng với khách hàng khi đã điều
Tuy nhiên, để có được những quyết định đúng đắn và đạt hiệu quả có
phần đóng góp không nhỏ của quá trình thu thập thông tin từ khách hàng. Nếu
như thông tin về khách hàng được thu thập là chính xác, việc ra quyết định cho
vay sẽ có độ an toàn cao hơn. Trong trường hợp cho vay có bảo đảm bằng tài
sản thì việc thu thập thông tin về tài sản bảo đảm cũng là rất quan trọng. Có rất
nhiều loại tài sản có thể dùng để đảm bảo cho khoản vay của các doanh nghiệp,
cá nhân hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi sự hiểu biết của cán bộ
thẩm định khá rộng, vì vậy để đảm bảo an toàn ngân hàng nên thuê những
chuyên gia thích hợp để có thể đánh giá chính xác giá trị đích thực của tài sản
bảo đảm nhằm đạt được hiệu quả cao nhất có thể.
1.1.4.2. Nhân tố từ khách hàng vay vốn
Khách hàng vay vốn là chủ thể thứ hai tham gia vào quan hệ tín dụng nên
cũng gây ảnh hưởng đến hiệu quả bảo đảm tiền vay. Tư cách đạo đức của khách
hàng có tính quyết định một phần hiệu quả bảo đảm tiền vay. Bởi vì, ngân hàng
thu thập thông tin về khách hàng cũng chủ yếu dựa vào sự cung cấp của khách
hàng. Nếu khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng, cung cấp những thông tin sai
12
sự thật mà ngân hàng không thể kiểm tra được thì khả năng gặp rủi ro cao, đồng
thời cũng làm cho công tác bảo đảm tiền vay trở nên vô nghĩa. Vì vậy khách
hàng mà có năng lực tài chính tốt, có uy tín, có năng lực kinh doanh và là người
có tư cách đạo đức tốt thì hiệu quả bảo đảm tiền vay dễ đạt được.
1.1.4.3. Các nhân tố khác
* Môi trường pháp lý:
Hoạt động bảo đảm tiền vay chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi môi trường
pháp lý. Các đường lối, chủ trương, chính sách phát triển trong mỗi thời kỳ của
Đảng và nhà nước sẽ ảnh hưởng đến quyết định sử dụng biện pháp bảo đảm nào,
các loại tài sản có khả năng dùng làm tài sản dùng làm tài sản bảo đảm, cũng
như cơ chế xử lý những tài sản bảo đảm ấy. Nếu như hệ thống pháp luật về bảo
đảm tiền vay càng hoàn thiện, chặt chẽ sẽ tạo ra hành lang bảo đảm an toàn cho
ác quyết định của ngân hàng hơn, tránh việc lợi dụng các kẽ hở pháp luật của
Xác định mức cho vay
Quyết định cho vay
(1)
(2)
(3)
(4a)
(4b)
Thu nợ
Thu không đủ
Xử lý rủi ro
Gia hạn nợ, đảo nợ
Xử lý tài sản bảo đảm
(5)
(5b)
Thanh lý
hợp đồng
Ký hợp đồng tín dụng
Giải ngân
Quản lý tài sản bảo đảm
Thu đủ
(5a)
Quy trình thực hiện cho vay có tài sản bảo đảm được thực hiện theo 5 bước:
* Bước 1: Lập hồ sơ cho vay và xem xét các điều kiện để ra quyết định áp
dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay phù hợp:
Trong quá trình hoạt động tín dụng ngân hàng luôn phải xem xét một cách
thận trọng từ hồ sơ, giấy tờ vay vốn hợp lệ đến uy tín và năng lực tài chính của
khách hàng, từ đó mà áp dụng những phương thức cho vay thích hợp nhằm đảm
bảo thu hồi nợ. Nếu khách hàng được xếp hạng tín nhiệm cao như hoạt động
kinh doanh tốt, năng lực tài chính vững mạnh, không có tì vết trong mối quan hệ
với ngân hàng, phương án kinh doanh có tính khả thi cao thì ngân hàng có thể
cầu, sát với giá cả thị trường. điều này là rất quan trọng bởi vì nếu như ngân
hàng quy định mà quá cao so với giá trị thực thì dẫn đến giá trị cho vay lớn hơn
giá trị tài sản đảm bảo, khi xảy ra sự cố khách hàng không thực hiện nghĩa vụ,
NHTM bán tài sản đảm bảo không đủ để trả nợ, gây rủi ro cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Ngược lại, nếu ngân hàng định giá tài sản bảo đảm quá
thấp so với giá trị thực thì sẽ gây thiệt thòi cho khách hàng, làm giảm khối lượng
cấp tín dụng, dẫn đến giảm doanh thu, giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Do đó việc đánh giá chính xác tài sản bảo đảm là một nghiệp vụ hết sức phức
tạp, khó khăn và vô cùng quan trọng, vì vậy đối với những tài sản có giá trị lớn,
tính chất kỹ thuật chuyên môn sâu, ngân hàng phải lập tổ thẩm định hoặc thuê
chuyên gia, công ty thẩm định chuyên nghiệp tiến hành.
* Bước 3: Xác đinh mức cho vay, quyết định cho vay:
Khi đã hoàn tất được việc định giá trị tài sản bảo đảm, ngân hàng cần xác
định mức cho vay đối với khoản vay có tài sản đảm bảo đó thông qua việc so
sánh mối tương quan giữa giá trị của khoản vay với giá trị của tài sản đảm bảo ,
phổ biến là ở tỷ lệ 50%, 70%. Tuy nhiên để xác định được mức cho vay tương
đối an toàn, ngân hàng còn phải căn cứ vào nhiều khía cạnh như đặc điểm, tính
chất của tài sản bảo đảm. Ở Việt Nam nếu cầm cố bằng giấy tờ có giá như trái
phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc thì có thể vay được tới 100% giá trị, còn
những tài sản có biến động lớn về giá dẫn đến nguy cơ rủi ro cao thì mức cho
vay dao động bằng hoặc dưới 50% giá trị tài sản đảm bảo.
16
Mặt khác, tỷ lệ cho vay còn phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế và chu kỳ hoạt
động của tài sản bảo đảm, ngoài ra mức cho vay còn phụ thuộc vào chủ trương,
chính sách của từng thời kỳ của mỗi NHTM.
* Bước 4: Ký hợp đồng và quản lý tài sản bảo đảm:
Hợp đồng bảo đảm tài sản thường được ký kết đồng thời với hợp đồng tín
dụng sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết. Tuỳ theo hình thức bảo đảm và tài
sản bảo đảm mà hợp đồng bảo đảm có thể được lập riêng hoặc nằm trong hợp
đồng tín dụng và cũng tuỳ từng loại hình bảo đảm theo quy định của pháp luật
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) chính thức thành
lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam. Ngày 12/07/1991, Maritime Bank chính thức khai trương
và đi vào hoạt động tại Thành phố Cảng Hải Phòng, ngay sau khi Pháp lệnh về
Ngân hàng Thương mại, Hợp tác xã Tín dụng và Công ty Tài chính có hiệu lực.
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Quảng Ninh là chi nhánh thuộc Ngân hàng
Hàng Hải Việt Nam được thành lập từ ngày 27 tháng 11 năm 1992. Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp tư nhân số: 0200124891-003 (Đăng ký lần đầu ngày
5 tháng 7 năm 1993; Đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 29 tháng 8 năm 2011).
Từ đó đến nay, Maritime Bank Quảng Ninh đã phát triển và đứng vững
trên thị trường, là ngân hàng TMCP ra đời sớm nhất tại Quảng Ninh. Lúc đầu
thành lập ngân hàng chỉ có 15 cán bộ công nhân viên với số vốn ít ỏi cho hoạt
động kinh doanh ban đầu khoảng hơn 9 tỷ đồng. Đến nay Maritime Bank Quảng
Ninh đã phát triển một mạng lưới gồm 8 phòng giao dịch có đội ngũ cán bộ
công nhân viên hùng hậu trình độ đại học 95%, lãnh đạo chủ chốt đều là cán bộ
Đảng viên đủ năng lực. Trong năm 2012 Maritime Bank Quảng Ninh đã cơ bản
18