NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-----c&d-----
NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ TÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2015
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-----c&d-----
NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ TÂY
CAR Hệ số an toàn vốn tối thiểu
DPRR Dự phòng rủi ro
HSC
Hội sở chính
IAS
Chuẩn mực Kế toán Quốc tế
IMF
Tổ chức tiền tệ Thế giới
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng nhà nước
Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách- Đại học Quốc gia
VERP
Hà nội
TCTD Tổ chức tín dụng
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng:
đồ:
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ngân hàng là một trong những ngành có vai trò hết sức quan trọng trong
việc phát triển nền kinh tế đất nước. Hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu
quả hay không gắn liền với sự hưng thịnh của nền kinh tế, trong đó sự tăng
trưởng của hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống và chủ yếu của ngân
hàng thương mại, đem lại lợi nhuận chính cho các ngân hàng. Tuy nhiên, gắn
lý nợ xấu tại BIDV Hà Tây.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
−
Thực trạng quản lý và xử lý nợ xấu tại BIDV Hà Tây và Nghiên cứu tại BIDV
Hà Tây trong giai đoạn từ 2011-2014.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp thống kê, so sánh, quy
nạp, phán đoán, phân tích, tổng hợp số liệu qua các năm để luận chứng.
5. Kết cấu đề tài:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh
mục các từ viết tắt, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về quản lý và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng quản lý và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Hà Tây.
Chương 3: Giải pháp quản lý và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Hà Tây
9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về nợ cho vay và nợ xấu
1.1.1.1. Khái niệm về nợ cho vay
Nợ cho vay của NHTM là khoản tiền NHTM sử dụng cho vay khách
khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì
hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng
có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể
hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào
danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc
của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế.
-
Theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS):
Chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị
giảm giá trị thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu. Chuẩn mực kế toán IAS 39
được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra
rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị
giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ
bị giảm xuống do những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra.
Về cơ bản IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất
luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp
đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích
dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ
thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế
gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó vẫn đang được Ủy ban Chuẩn mực kế toán
quốc tế chỉnh sửa lại trong IFRS 9.
- Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu xuất hiện từ khi quy định về phân loại
nợ, trích lập và sử dụng dự phòng, để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng, ban hành theo Thông tư số 02/2013/TTNHNN ngày 21/1/2013 của Thống đốc NHNN Việt Nam và có một số sửa đổi
11
12
(i) Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
(ii) Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;
(iii) Nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều này.
c. Nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
(ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu;
(iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả
lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
(iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây chưa thu hồi được trong
thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi:
Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 Điều 126 Luật các
tổ chức tín dụng;
Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 127 Luật các tổ
chức tín dụng;
Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 128 Luật các tổ
chức tín dụng;
(v) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
(vi) Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều này.
(vii) Nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 11 Điều 9
Thông tư này.
d. Nhóm 4( Nợ nghi ngờ) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Trong đó: Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc
và/hoặc lãi đã quá hạn; Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5.
14
Theo các nhóm trên thì tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm
nợ quy định là: Nhóm 1: 0% ; Nhóm 2: 5% ; Nhóm 3: 20% ; Nhóm 4: 50% ;
Nhóm 5: 100%.
1.1.1.4. Các chỉ tiêu đo lường nợ xấu
a. Tỷ lệ nợ có vấn đề.
Nợ có vấn đề là khoản vay chưa đến hạn, chưa được coi là nợ quá hạn,
song trong quá trình theo dõi nhân viên Ngân hàng nhận thấy nhiều khoản tài
trợ đang có dấu hiệu kém lành mạnh và có nguy cơ trở thành nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ có vấn đề phản ánh mức độ rủi ro của những khoản vay. Tỷ lệ
này càng lớn thì các khoản vay có khả năng trở thành nợ quá hạn càng cao.
Nợ có vấn đề
Tỷ lệ có vấn đề =
x 100
Tổng dư nợ
b. Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ qúa hạn là các khoản nợ đã đến ngày đáo hạn nhưng con nợ không có
khả năng thanh toán. Dư nợ quá hạn của Ngân hàng phản ánh toàn bộ các khoản
nợ quá hạn của Ngân hàng.
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
x 100
cho ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh. Nếu hệ thống pháp luật không
đồng bộ, thiếu tính khả thi thì luôn tiềm ẩn rủi ro rất cao đối với hệ thống
ngân hàng. Chính vì vai trò quan trọng của môi trường pháp lý, nên tất cả các
nước đều rất chú trọng đồng bộ hóa và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Ở Việt Nam, mặc dù những năm qua chúng ta đã rất chú ý xây dựng và
từng bước hoàn thiện các văn bản pháp lý về hoạt động ngân hàng, nhưng
nhìn chung có thể thấy hệ thống vă bản pháp luật chưa đồng bộ, chưa hoàn
thiện. Hiệu lực thực thi các văn bản pháp luật về hoạt động ngân hàng chưa
cao, một số điều luật đã có nhưng chưa được triển khai thực hiện. Chủ trương,
chính sách của Nhà nước còn thiếu tính ổn định, làm cho hệ thống ngân hàng
phải đối mặt với nguy cơ rủi ro chính sách, nhất là các chính sách về lãi suất,
tỷ giá, vàng,...
Sự điều tiết của nhà nước thông qua các công cụ chính sách pháp luật là
luôn cần thiết đối với nền kinh tế, tuy nhiên sự thay đổi của các chính sách phải
minh bạch trên cơ sở phải đi theo lộ trình phù hợp có thể dự tính được. Nếu
16
không đáp ứng được hai yêu cầu này thì các hoạt động kinh doanh tất yếu tiềm
ẩn rủi ro cao, nhất là đối với hoạt động kinh doanh tài chính – ngân hàng.
1.1.2.2. Nhóm nguyên nhân từ nội bộ hệ thống tài chính Việt Nam
Tình hình nợ xấu của Việt Nam hiện nay có một phần lớn nguyên nhân
đến từ sự yếu kém từ nội bộ của các ngân hàng, TCTD. Cụ thể:
Một là, năng lực quản trị rủi ro của các NHTM, các TCTD yếu kém.
Năm 2012, theo khảo sát của Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính
sách – Đại học Quốc gia Hà Nội (VERP), mới chỉ có 47% các NHTM đã tiếp
cận với Basel 2 và chỉ có 40% các NHTM đã tiếp cận với Basel 3. Vai trò và
nhiệm vụ của hội đồng quản trị chỉ tuân thủ một phần hoặc chưa tuân thủ các
nguyên tắc quản trị của OECD và Basel. Khuôn khổ quản trị hiện hành cũng
Các ngân hàng chưa trú trọng công tác dự báo, chạy theo lợi nhuận theo
sự tăng trưởng nóng của thị trường bất động sản và chứng khoán. Việc tập
trung quá nhiều vốn cho những thị trường này đã góp phần không nhỏ vào
việc hình thành “bong bóng” bất động sản và chứng khoán. Khi các lĩnh vực
này, đặc biệt là thị trường bất động sản đóng băng và giá bất động sản giảm
sâu kéo theo nợ xấu cho vay lĩnh vực này tăng nhanh.
Hai là, nợ xấu tăng cao là hệ quả tất yếu của quá trình tăng trưởng tín
dụng quá nóng.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, mặc dù NHNN thường xuyên yêu cầu
các NHTM phải hạn chế tăng trưởng tín dụng, nhưng thực tế tăng trưởng vẫn
trên 20%; năm 2007 là 51,39%; năm 2009 là 37,7%; năm 2010 là 31,19%,...
cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP trong khi tăng trưởng huy
động vốn rất thấp.
Sự phát triển nóng của hệ thống NHTM là nguyên nhân gia tăng nợ xấu.
Một số ngân hàng nhỏ, năng lực quản trị tín dụng yếu kém đã tìm mọi cách
tăng vốn huy động, thúc đẩy tín dụng bằng cách nới lỏng tiêu chuẩn cho vay.
Thực tế những năm qua cho thấy luôn có sự cạnh tranh gay gắt giữa các
NHTM để dành dật thị phần, đặc biệt là một số NHTM nhỏ mới được thành
lập. Các ngân hàng này có xu hướng mở rộng thị phần tín dụng bằng mọi giá,
bỏ qua quy trình tín dụng, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, tìm cách lẩn tránh sự
18
kiểm soát của Chính phủ.
Ba là, thông tin tín dụng có độ tin cậy thấp.
Việc ra các quyết định kinh tế về căn bản phải dựa trên những thông tin
có độ tin cậy thì các quyết định mới đi vào cuộc sống và đem lại hiệu quả tích
cực. Đối với hoạt động tín dụng thì càng đòi hỏi thông tin phải có độ tin cậy
cao mới đảm bảo được yêu cầu về chất lượng và hiệu quả của các phán quyết.
suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước, do đó môi trường kinh doanh
và hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn làm cho chất lượng tín dụng suy
giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Nợ xấu cao và
ngày càng lớn gần đây phản ánh mô hình tăng trưởng không hợp lý và kém
hiệu quả. Việc tăng trưởng kinh tế cao và dựa vào vốn là chính, trong khi
quản lý không theo kịp, doanh nghiệp càng vay nhiều càng khó có khà năng
quản lý hiệu quả các đồng vốn vay.
Nợ xấu tăng cao còn xuất phát từ sự khó khăn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp. Cụ thể:
- Nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa
vào vốn vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay
đổi môi trường kinh doanh kém. Vì vậy khi môi trường kinh doanh xấu đi,
chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng thì các doanh nghiệp sẽ gặp
khó khăn về khả năng trả nợ.
- Sự làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp, nhất là DNNN. Có đến 70%
nợ xấu là nợ của các DNNN do đây là nhóm có nhiều thuận lợi trong tiếp cận
tín dụng và chiếm thị phần lớn trong tổng dư nợ tín dụng của toàn nền kinh tế.
Phần nợ xấu lớn thứ hai sau DNNN xuất phát từ một số doanh nghiệp tư nhân
lớn, trong đó tập trung chủ yếu là các khoản vay đầu tư bất động sản, chứng
khoán, đầu tư ngoài ngành,...
- Nhiều doanh nghiệp dùng nợ ngắn hạn đề đầu tư dài hạn. Nhiều
doanh nghiệp dùng vốn vay đầu tư ra bên ngoài, đặc biệt là đầu tư vào bất
động sản.
1.1.3. Dấu hiệu nhận biết nợ xấu
1.1.3.1. Dấu hiệu từ phía ngân hàng
20
Nợ xấu làm giảm doanh thu của ngân hàng, đồng thời làm giảm hình ảnh
21
Tài sản đảm bảo không đủ các tiêu chuẩn, tài sản đảm bảo có giá trị thấp
hơn so với khi định giá cho vay. Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê,
hay bán, trao đổi hoặc bị mất.
Những thay đổi bất lợi về giá cổ phiếu của khách hàng vay vốn.
Những thay đổi trong cơ cấu vốn của người đi vay (tỷ lệ nợ/vốn chủ sở
hữu), khả năng thanh toán.
Hoạt động kinh doanh của khách hàng thua lỗ trong một hay nhiều năm
liên tục, đặc biệt thể hiện qua các chỉ số như ROA, ROE và lãi vay(EBIT) hay
thu nhập trước thuế.
Những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong
số dư tiền gửi của khách hàng.
1.1.4. Tác động của nợ xấu
Nợ xấu cao là nỗi lo của Chính phủ, các chuyên gia, các NHTM cũng
như toàn thể dân chúng bởi nó tác động lớn đến toàn bộ nền kinh tế, làm tắc
nghẽn dòng vốn và đe dọa an toàn tài chính quốc gia, ảnh hưởng tiêu cực đến
sự phát triển bền vững về kinh tế. Các tác động của nợ xấu cũng như việc giải
quyết nợ xấu tới nền kinh tế có thể nhắc tới như:
Một là, nợ xấu gia tăng tạo ra gánh nặng ngân sách trong vấn đề xử lý nợ
xấu. Tỷ lệ nợ xấu tăng cao đã đặt ra một câu hỏi lớn là kinh phí ở đâu để xử lý.
Con số này lớn đến mức các ngân hàng không thể đứng ra tự xử lý, nên việc xử
lý có thể phải trông cậy vào ngân sách nhà nước. Mặc dù, nguồn vốn để xử lý
nợ xấu chủ yếu từ quỹ dự phòng rủi ro của các TCTD và con số cụ thể về kinh
phí xử lý từ ngân sách Nhà nước chưa được đưa ra, nhưng nhìn vào dư nợ xấu
cũng có thể ước đoán có sự ảnh hưởng lớn đến ngân sách Nhà nước.
Trong khi đó, các nguồn thu ngân sách đang ngày càng khó khăn do sự
đình trệ của nền kinh tế. Về dài hạn, nếu việc xử lý nợ xấu gây ra bội chi ngân
sách sẽ tiềm ẩn rủi ro lạm phát, gây bất ổn nền kinh tế. Có thể nói, chính
những biện pháp sử dụng ngân sách, nới lỏng tín dụng những năm 2008 để
trong nước và quốc tế bị giảm sút nghiêm trọng.
1.2. QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
23
1.2.1. Sự cần thiết quản lý và xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại
Quản lý nợ xấu là một quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược,
các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng để đạt được các mục tiêu là an
toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, trong đó cần tăng cường các biện pháp
nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu,đi kèm với việc xử lý các
khoản nợ xấu đã phát sinh, từ đó làm tăng doanh thu,giảm chi phí nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
Hoạt động tín dụng đem lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Tổn thất
nếu xảy ra sẽ làm giảm thu nhập, có thể thua lỗ hoặc phá sản cho ngân hàng.
Vì vậy, an toàn tín dụng là nội dung chính trong quản lý rủi ro của mọi Ngân
hàng thương mại. Có hai mối liên hệ giữa rủi ro và sinh lời trong hoạt động
tín dụng. Trước khi tài trợ, mối quan hệ có thể là rủi ro cao hoặc thấp trong
ngắn hạn nhưng đều phải xác lập mối liên hệ giữa rủi ro và sinh lợi nhằm đảm
bảo tăng thu nhập cho ngân hàng trong dài hạn. Nghiên cứu và tìm ra các giải
pháp để hạn chế rủi ro phát sinh, giải quyết và bù đắp tổn thất đã xảy ra là
một trong những nội dung chính của quản lý tín dụng, nhằm đạt đýợc mục
tięu gia tăng thu nhập cho ngân hŕng tręn cő sở an toŕn của từng khoản vay,
của cả danh mục khoản vay.
1.2.2. Nội dung quản lý và xử lý nợ xấu của Ngân hang thương mại
Quản lý nợ xấu có ý nghĩa , vai trò vô cùng to lớn đối với công tác quản
lý nói riêng và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nói chung. Do vậy, công tác
quản lý nợ xấu phải được xây dựng và triển khai một cách đúng đắn, khoa
học và phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế .
1.2.2.1. Phòng ngừa nợ xấu phát sinh
thông tin, báo cáo,kiểm soát và xây dựng hệ thống cảnh báo rủi ro để nâng
cao khả năng quản lý thị trường ngoại hối, phát hiện một cách kịp thời những
rủi ro tiềm ẩn để có những biện pháp xử lý thích hợp.
Hoàn thiện cơ chế thông tin, báo cáo, kiểm soát, xây dựng hệ thống cảnh
25
báo để nâng cao khả năng quản lý, kiểm soát thị trường; đẩy nhanh việc xây
dựng các văn bản quy phạm pháp luật.
Đôn đốc các tổ chức tín dụng ban hành những quy định về tiêu chuẩn và
yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống quản lý rủi ro trong thanh toán và áp dụng
công nghệ thông tin để đề xuất và triển khai đồng bộ các giải pháp phòng
ngừa rủi ro; sau đó tiếp tục ban hành sửa đổi, hoàn chỉnh chế độ kế toán cho
phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế …
- Xây dựng chiến lược hoạt động hợp lý
Chiến lược hoạt động của Ngân hàng một mặt cần phải mang lại thu
nhập cho ngân hàng, mặt khác cần phải đảm bảo khả năng thanh khoản. Ngân
hàng xây dựng và triển khai sản phẩm, dịch vụ truyền thống và hiện đại nhằm
phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như sự phát triển của
nền kinh tế. Trong hệ thống các hoạt động của ngân hàng, nhất là hoạt động
tín dụng, hoạt động mang lại hơn 70% thu nhập cho ngân hàng,ngân hàng cần
phải xác định mức độ rủi ro tối đa, giới hạn tỷ lệ nợ xấu. Rủi ro luôn đi kèm
với hoạt động của bất kỳ ngân hàng nào, chúng ta có thể làm hạn chế tổn thất
của chúng, nhưng không thể ngăn ngừa chúng xuất hiện. Hoạt động ngân
hàng nằm trong giới hạn rủi ro, đó cũng là một thành công lớn của ngân hàng.
Ngân hàng phải xây dựng danh mục tài sản với các rủi ro có thể chấp
nhận được và danh mục nguồn vốn với chi phí thực sự hợp lý, phù hợp với
khả năng thanh khoản và thực tế ngành kinh tế,vùng kinh tế và cả nền kinh tế.
Ngân hàng đưa ra những sản phẩm và dịch vụ thu hút khách hàng với các