BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
VI KHÁNH TUYẾT
THEN TÀY
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Mạnh Tiến
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp luận văn hoàn thành, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với
PGS.TS Trần Mạnh Tiến, người đã tận tình giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy Cô trong tổ Lí luận văn học và
các Thầy Cô trong khoa Ngữ Văn, những người đã dành cho tôi mọi tri thức cũng
như mọi sự giúp đỡ cần thiết.
Cảm ơn Mẹ và các anh chị, những người thân yêu đã ủng hộ và động viên
tôi trong quá trình học tập của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Tác giả
ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam) cho thấy qui mô và tầm vóc của then Tày, cho dù việc nghiên cứu này
vẫn chỉ mới là bước đầu và đang đòi hỏi một sự nỗ lực mới mang tính chất
liên ngành đa ngành để chứng minh rằng: “Văn hóa và bản sắc văn hóa Việt
Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa vun đắp nên qua lịch sử
hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, trở thành những nét đặc
sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam", như đã chỉ ra
trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc (1998), nhằm: “Tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại” mà Nghị quyết Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ XI năm 2011 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định. Đặc biệt trong Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung
ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp
ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước “Xây dựng nền văn hóa và con
người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm
nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở
thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan
trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Như vậy, nghiên
cứu then Tày là nhiệm vụ khoa học có tính thời sự đang thu hút sự quan tâm
của giới nghiên cứu văn hóa dân tộc hiện nay..................................................1
Là người con của dân tộc Tày, được sinh ra và lớn lên trong văn hóa hát
Then, với lòng yêu mến và trân trọng giá trị nghệ thuật truyền thống của dân
tộc mình, tôi chọn đề tài Then Tày từ góc nhìn văn hóa để nghiên cứu, nhằm
góp thêm tiếng nói về giá trị của loại hình nghệ thuật then mà tổ tiên đã để lại
như một sự tri ân dân tộc mình. Việc nghiên cứu Then Tày ngoài tính chất
(Tày) có một hạng người đứng làm trung gian cho nhân sự với thần minh.
Hạng người ấy là các ông Tạo, ông Bụt, ông Then, bà Then hay cô Then. Bà
Then hay cô Then cũng như các bà đồng, cô rí ở trung châu. Bất hạnh nhà ai
có người ốm, người ta bèn đi mời bà hay cô Then đến để lập đàn cúng lễ. Bà
Then đến. Sau khi đàn tràng đã lập, bà ngồi vào hành lễ. Khi “cái ma then” đã
“xuống” nghĩa là đã ốp vào bà Then thì bà có thể nói chuyện với gia chủ, Thổ
công đất nước, và hơn nữa, hồn du lên tới điện Ngọc hoàng thượng đế để hỏi
về nguyên nhân sự ốm đau. Trong khi hành lễ, tay bà gẩy đàn, mồm bà đọc
những câu hát Then một điệu rất âm thầm”[109/15]. Thực ra, khái niệm về
Then còn rộng rãi hơn nhiều. Công trình sưu tầm khảo cứu của Lan Khai
bước đầu giải thích về Then giải hạn, và cũng là những kết quả đáng trân
trọng của giai đoạn nghiên cứu then trước 1945...............................................3
Hình thức sinh hoạt hát Then còn được tái hiện trong một số truyện đường
rừng của Lan Khai qua việc trích dẫn những bài dân ca Tày như những bộ
phận cấu thành văn bản được đan cài trong Rừng khuya, Dấu ngựa trên
sương, Tiếng gọi của rừng thẳm,.... Có thể thấy rõ hơn điều này qua nhân vật
cô then mang tên Ẻn trong Suối đàn; cuốn tiểu thuyết, ở đó Lan Khai dành
nhiều trang mô tả khá chi tiết nghi lễ Then cầu mùa sinh động qua cách hành
lễ của cô Then này. Tuy nhiên ở tác phẩm này sự đan cài giữa then và cọi
được thể hiện khá rõ, và đây là tiểu thuyết hư cấu trong đó tác giả vận dụng
các hiểu biết của mình về then, về cọi để tạo ra không gian và nhân vật cho
câu chuyện chứ không phải là một nghiên cứu về then hay về cọi trên bình
diện nghiên cứu văn hóa. Bài viết thực sự có tính nghiên cứu về văn hóa Tày
nói chung và về then nói riêng của Lan Khai, lúc đó lấy tên là Nguyễn Văn
Huyên, đăng trên báo Đông Pháp 1934 có tiêu đề Những giống người và chế
độ thổ ty ở châu Chiêm Hóa. Trong bài này, Lan Khai chỉ rõ: “Những người
đi hầu đồng ông vải, nghĩa là có thể nói chuyện với các “phí lườn” của mọi
nhà là những “ông bụt”, “bà then” [41/18]; hay “Ông “Mo” chiếm một địa vị
khá cao trong làng cũng như tiên thứ chỉ các làng ở trung châu vậy” [41/20].
“Việc thờ cúng đó nó là tập quán riêng của một nhà, một đạo phái mà thôi, nó
thành nội dung mới, nội dung thành lời Then mới, làm phong phú cho sân
khấu các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, trong thời kỳ chống Pháp đến
đầu thời kỳ chống Mĩ vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về Then được
công bố, ngoài bài viết của Lã Văn Lô với tiêu đề: Quanh vấn đề An Dương
Vương Thục Phán hay là truyền thuyết Cẩu Chúa Cheng Vùa của đồng bào
Tày, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 50/1963, với nội dung minh
chứng cho sự hội nhập giao thoa văn hóa giữa miền núi và miền xuôi, giữa
các dân tộc miền núi nói chung, dân tộc Tày nói riêng với dân tộc Kinh ở
vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.................................................................5
Việc nghiên cứu Then thực sự bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ XX đã thu
hút sự quan tâm của nhiều giới nhiều ngành, của nhiều nhà nghiên cứu khác
nhau mà kết quả nghiên cứu được công bố trên hai Hội thảo cấp quốc gia: Hội
thảo toàn quốc về hát Then tổ chức năm 1978 tại khu tự trị Việt Bắc hay Hội
thảo về Then được tổ chức tháng 6/2014 tại Tuyên Quang, đã cho thấy điều
đó.......................................................................................................................5
Công trình Mấy vấn đề về Then Việt Bắc xuất bản năm 1978, “tập hợp trên
cơ sở những bản báo cáo của các đồng chí ở Viện dân tộc, Viện văn học, Viện
nghệ thuật, Cục biểu diễn, Hội văn nghệ dân gian, Trường múa Việt Nam,
trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, các cơ
quan văn hóa của khu Việt Bắc (cũ) và Ty văn hóa các tỉnh đọc tại hội nghị sơ
kết công tác sưu tầm, nghiên cứu Then Việt Bắc cuối 1975, do Sở văn hóa
khu Việt Bắc tổ chức, cùng với những bài viết của nhiều đồng chí đã nghiên
cứu về then từ nhiều năm trước đây”[61/5] đánh dấu một thời điểm mới trong
lĩnh vực nghiên cứu then, cho dù tập sách này, như một hình thức kỉ yếu khoa
học, chỉ mới bàn luận trao đổi bước đầu về một số đặc điểm loại hình then.
Cách đánh giá coi then thuần tuý là hình thức tín ngưỡng bói toán cầu
hồn...và bị đánh đồng với hoạt động mê tín, dị đoan, đã được khắc phục trong
các bài nghiên cứu từ thập niên 80 đến nay. Toan Ánh trong Nếp cũ tín
thấy tính độc đáo của hát Then từ các góc nhìn khác nhau, trở thành nguồn tư
liệu bổ ích cho người đi sau nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có công trình nào
bao quát một cách thực sự và toàn diện về Then, cũng như chưa chỉ ra đặc
trưng nghệ thuật ca lễ dân gian Then trong tương quan so sánh với ca lễ các
dân tộc khác. Việc nghiên cứu kết cấu của những văn bản Then và đặc điểm
ngôn ngữ thơ ca dân gian Tày cũng là một vấn đề chưa được giải quyết một
cách thỏa đáng. Mặc dầu vậy, những kiến giải của những nhà nghiên cứu sưu
tầm đi trước là cơ sở lí luận quan trọng, giúp chúng tôi triển khai nghiên cứu
Then giải hạn cầu an, một chủ đề cơ bản của loại hình then Tày và có sự giao
thoa với những chủ đề khác của then Tày. Việc nghiên cứu của chúng tôi, do
đó, là sự kế thừa, bảo tồn và phát huy những tinh hoa giá trị hát Then trong
hoàn cảnh mới...................................................................................................8
2.3. Các luận văn luận án, các bài báo liên quan tới đề tài luận văn.................9
Trong lĩnh vực nghiên cứu then Tày thì luận án tiến sĩ đầu tiên thuộc lĩnh vực
này là của Nguyễn Thị Yên, bảo vệ cấp nhà nước năm 2005 có tiêu đề Then
cấp sắc của người Tày huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng, mà nhiều luận
điểm trong luận án này đã được công bố trong chuyên luận Then Tày cũng
của tác giả này năm 2000, đã được chúng tôi đã lược thuật ở trên. Cũng thuộc
hệ thống luận văn luận án, còn có luận văn của Nguyễn Thanh Hiền với tiêu
đề Then bắc cầu xin hoa, được xuất bản thành sách (NXB Văn hóa dân tộc,
Hà Nội 2008) cũng dưới tiêu đề trên, trong đó tác giả khảo sát các giá trị của
loại Then bắc cầu xin hoa, một loại then khá phổ biến trong đời sống tín
ngưỡng của dân tộc Tày. Các luận văn luận án này giúp chúng tôi có được
cách nhìn nhận và thao tác khoa học trong bước đầu nghiên cứu của mình.....9
Ngoài các bài viết và báo cáo khoa học về then được tập hợp trong Mấy vấn
đề về Then Việt Bắc như đã nói ở trên, còn có một số bài viết trên các tạp chí
nghiên cứu chuyên ngành. Trước hết là bài của tác giả Cung Khắc Lược nhan
đề Tìm hiểu đặc điểm của hát then qua một số văn bản then viết bằng chữ
Trong Tạp chí Văn hóa các dân tộc số 4/2013 có bài: Then Bách điểu trong
“Hành trình ca” của thơ ca dân gian Tày của tác giả Trần Mạnh Tiến, đề cập
tới bài Then Tày tiêu biểu Trăm chim tranh làm chúa. Bài ca này phê phán
thói háo danh, tham lam, độc ác của xã hội xưa thông qua loài vật, đồng thời
mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, được trình diễn trong lời Then sống động,
khiến người ta liên tưởng về bài học và lẽ sống ở đời mang tính thời sự xã
hội. Trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian tháng 6/2013, Trần Mạnh Tiến công
bố bài: Hát Then với hát Chầu văn trong đời sống Văn hóa tâm linh, trong đó
tác giả bài viết đã so sánh hát Then (Tày) với hát Chầu văn (Kinh) trong loại
hình dân ca nghi lễ của đời sống tâm linh. Theo tác giả: hát Then và hát Chầu
văn có những mối tương đồng về cảm hứng như cùng hướng tới thế giới linh
thiêng, nhưng cũng có nhiều nét khác biệt về diễn xướng và văn hóa truyền
thống giữa hai cộng đồng dân tộc Kinh và Tày. Tác giả đã so sánh văn bản
Nôm Tày “So cầu phúc” (Xin cầu phúc) với văn bản Nôm “Phụng Mẫu
văn”(Văn tế Mẫu) của người Kinh và chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của
hai thể hát then và hát chầu văn. Đồng thời, tác giả đã đánh gíá cao giá trị
nhân bản sâu sắc, hồn nhiên của nghệ thuật hát Then. Trên tạp chí Nguồn
sáng dân gian tháng 6/2013 đó còn có bài: Then – Từ cái nhìn văn nghệ dân
gian của Hoàng Nam. Trong bài này, Hoàng Nam đã trình bày cách hiểu về
thuật ngữ Then, vị trí của hát Then trong đời sống văn hóa tâm linh Tày,
Nùng, Thái và những kiến giải về quá trình phát triển…, nhưng chưa đi sâu
vào các chủ đề, cảm hứng nghệ thuật và kết cấu đa dạng của Then Tày........10
Trên báo điện tử của Đại học Văn hóa Hà Nội, 8/2014 có bài viết: Hát Then
trong đời sống cộng đồng Tày Nùng của tác giả Hoàng Chiến Thắng. Phần
đầu bài viết, tác giả nêu nguồn gốc của Then và sự phong phú của các loại
hình Then: “Hát Then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm: ca,
nhạc, múa và diễn trò. Theo người Tày, Then được hiểu là Thiên, chỉ trời. Về
nguồn gốc có nhiều ý kiến khác nhau song đa phần có cùng nhận định: Hát
của sự khảo sát thực tế về hát Then trên chính quê hương mình. Bài viết, do
đó, góp thêm tiếng nói vào luận văn để làm sáng tỏ hơn những giá trị nghệ
thuật của then Tày...........................................................................................12
2.4. Một số ý kiến bàn về nghiên cứu văn học trong văn hóa.........................12
Việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa đang được giới nghiên cứu phê
bình quan tâm chú ý như là một vấn đề thời sự, vì đây là một khuynh hướng
nghiên cứu mở, cho phép mở rộng biên độ nghiên cứu. Liên quan tới vấn đề lí
thuyết nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi dựa vào các công
trình và quan điểm sau đây:.............................................................................12
Trong công trình Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa (NXB Đại học Quốc
gia, Hà Nội, 2014), tác giả Lê Nguyên Cẩn chỉ rõ : „Tính văn hóa (la
culturalité) của tác phẩm văn học là tính chất đặc thù gắn liền với mỗi tác
phẩm văn học, nó cho thấy tác phẩm văn học không chỉ toát lên vẻ đẹp ngôn
từ mà còn cả vẻ đẹp tâm hồn qua cách ứng xử và cách tiếp nhận, xử lý cuộc
sống của mỗi dân tộc hay một cộng đồng người nhất định. Nó không chỉ là
quan niệm về con người được thể hiện qua sự khéo léo của nghệ thuật ngôn từ
mà còn cả chuẩn mực ứng xử của cộng đồng, dân tộc trong một thời kì lịch sử
nhất định. Mỗi tác phẩm văn học nhất định đều mang trong nó tính văn hóa
đặc trưng của dân tộc, đất nước mà nơi đó tác phẩm được sinh ra. Không có
tác phẩm văn chương nào mà lại không mang trong nó chí ít một đặc trưng
văn hóa của dân tộc mình hoặc qua cách nói, cách diễn đạt hoặc qua cách xây
dưng, cách khái quát hình tượng...Tính văn hóa trong tác phẩm văn chương
cho phép hiểu rộng hơn giá trị của tác phẩm qua hệ thống hình tượng, hình
ảnh; tạo ra những suy tư liên hệ so sánh với các loại hình nghệ thuật khác
cũng như với các nền văn hóa khác“ [12/3]. Cũng trong công trình đó, tác giả
nhấn mạnh: „Tính văn hóa trong tác phẩm văn học, vì gắn liền với văn hóa
nên sẽ được xem xét ở các góc độ: văn hóa nhận thức tức thế giới quan; văn
hóa tổ chức tức nhân sinh quan và văn hóa ứng xử tức quan hệ nhân-thế. Có
Then Tày, một loại hình thơ ca nghi lễ dựa trên các mô típ và biểu tượng văn
hóa cộng đồng dân tộc Tày. Việc nghiên cứu Then Tày từ góc nhìn văn hóa,
do đó, đáp ứng thực tiễn hoạt động nghiên cứu văn học hiện nay..................14
Then Tày là loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, làm nên bản sắc văn hóa
dân tộc Tày ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nhưng sự nghiên cứu về Then chưa
liên tục và hệ thống, chưa quan niệm đầy đủ về giá trị tinh thần của then. Mặc
dù một số công trình nghiên cứu có đề cập đến loại hình hát Then, nhưng chủ
yếu là sưu tầm và giới thiệu, và có nhiều ý kiến khái quát một vài phương
diện của Then, nhưng vẫn cần có những công trình nghiên cứu Then Tày từ
góc nhìn văn hóa một cách hệ thống và toàn diện, có phương pháp khoa học
để làm nổi rõ giá trị của loại hình nghệ thuật ca lễ đặc sắc này......................14
Tóm lại, với một loạt bài nghiên cứu về then được công bố trên các tạp chí,
cũng như qua hai đề tài luận văn luận án về then, đã cho thấy sức sống của
then, các giá trị nghệ thuật của then. Tất cả các ý kiến của các nhà nghiên cứu
đi trước sẽ được chúng tôi tiếp thu và xử lí trong khi thực hiện nhiệm vụ mà
đề tài luận văn đã đặt ra. Tuy nhiên, vì đề tài có liên quan tới vấn đề văn hóa
và nghiêng về hướng tiếp cận theo văn hóa, cho nên chúng tôi trình bày dưới
đây cơ sở lí luận liên ngành về văn hóa như là chỗ dựa về lí thuyết cho luận
văn của chúng tôi.............................................................................................15
3. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU......15
3.1. Mục đích nghiên cứu................................................................................15
Việc nghiên cứu Then Tày từ góc nhìn văn hóa hướng tới mục đích giải quyết
một vấn đề, đó là nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống,
theo phương pháp tiếp cận văn hóa học lịch sử về mảng Then Tày giải hạn
trong di sản Then Tày đang còn lưu giữ được cho đến nay............................15
3.2. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................15
Công trình của chúng tôi tập trung vào vấn đề Then Tày dưới hình thức văn
bản đã được sưu tầm và công bố, nhưng vì Then Tày có qui mô và khối lượng
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...............................................................16
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ trương đặt Then Tày trong nền văn
hóa dân tộc Tày nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung để khảo sát. Đồng
thời phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:..........16
4.1. Phương pháp lịch sử - văn hóa: Chúng tôi đặt Then Tày trong tiến trình
lịch sử văn hóa của dân tộc Tày và xem xét Then Tày như là một sản phẩm
nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc Tày......................................................16
4.2. Phương pháp hệ thống: Nhằm tập hợp các tác phẩm gần nhau về chủ đề
cầu an giải hạn trong ca lễ của loại hình nghệ thuật hát Then. Đó là những tác
phẩm thơ ca dân gian tiêu biểu thường xuyên được các thày Tạo, ông Then,
bà Then sử dụng trong ca lễ và được nhân dân lưu truyền, hưởng ứng và nuôi
dưỡng trong đời sống dân gian........................................................................16
4.3. Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Để nghiên cứu những biểu hiện của
loại hình thơ ca dân gian đặc biệt này, chúng tôi sẽ làm rõ đặc trưng kết cấu
của những câu thơ, bài ca, những hình thức tổ chức lời thơ, lời thoại của
truyện thơ, một số các biểu tượng dân gian liên quan tới nghi lễ giải hạn......17
4.4. Phương pháp liên ngành: Để làm rõ đặc trưng của lọa hình Then chúng
tôi đồng thời khảo sát hình thức hát và múa Then, quan hệ giữa lời ca, nhịp
điệu với các đạo cụ trong quá trình hành lễ. Qua đó cho thấy, từ văn bản tác
phẩm Then đến bài ca Then trong diễn xướng là một qui trình vận động biến
đổi, phát triển của văn bản nghệ thuật.............................................................17
Ngoài các văn bản đã được sưu tầm xuất bản, chúng tôi sẽ kết hợp vừa khảo
sát vừa tiến hành điền dã tìm hiểu thêm các văn bản Then khác và các sắc
màu văn hóa ở các địa phương miền núi có cộng đồng dân tộc Tày sinh sống.
.........................................................................................................................17
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN.................................................................17
1. Đây là công trình đầu tiên nêu vấn đề nghiên cứu Then Tày dưới góc nhìn
văn hóa với cách tiếp cận riêng nhằm làm nổi bật các giá trị văn hóa truyền
thống của của Then Tày từ nội dung và hình thức biểu hiện của Then...........17
2. Luận văn tiến hành đối chiếu văn bản Then Tày từ nguyên tác với bản dịch
Tác giả Nông Văn Hoàn trong bài Bước đầu nghiên cứu về Then Việt bắc in
trong tập Mấy vấn đề về then Việt Bắc, cho biết: "Then là Tiên (được gọi là
sliên) là người của trời. Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với
Ngọc Hoàng và Long Vương. Khi họ làm then là họ đại diện cho người của
trời giúp cho người trần gian cầu mong được sự tốt lành, được tai qua nạn
khỏi v.v... tức là then chỉ làm điều thiện cứu giúp người trần gian"[61/14].. .36
Theo nhà nghiên cứu Lục Văn Pảo người viết mục từ Then trong Từ điển Văn
học bộ mới, thì :"Then là một trong những hình thức cúng bái của dân tộc Tày
ở Việt Nam, then giống Pụt ở nhiều mặt: loại sinh hoạt Tày, cúng quỉ trừ tà
chữa bệnh cho người ốm, cầu phúc như kỳ yên; người hành nghề cũng phải
được sắc phong cấp bằng.... Chính vì thế mà xưa nay giới nghiên cứu thường
ghép chung Pụt Then vào làm một. Thực ra hai loại này có những chỗ giống
nhau nhưng cũng có những chỗ khác biệt đáng kể, bởi thế mới có tên khác
nhau." [141/1657]. Cách hiểu này cho thấy Then là một loại hình sinh hoạt
văn hoá tâm linh của dân tộc Tày. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Yên lại phân
biệt cụ thể hơn: "Pụt đầu tiên là của người Nùng được người Tày tiếp thu và
chuyển hoá thành Pụt của người Tày." [138/58]. Chữ “Pụt” là cách đọc biến
âm của chữ “Phật” mà ra. Chữ Pụt này cũng như chữ Phật của người Kinh và
có thể đều bắt nguồn từ chữ Budda mà trong tiếng Việt thường gọi là Bụt mà
xét từ góc độ này thì Then hay là Pụt đều trực tiếp hoặc là gián tiếp liên quan
đến Phật giáo, liên quan đến Phật tính vị tha của Phật giáo, nói rộng ra Then
và Pụt đều là đấng linh thiêng.........................................................................36
Tác giả Nguyễn Thị Yên trong chuyên luận Then Tày đề xuất "Xem xét khái
niệm Then, Pụt dựa trên ba thành tố chính: Nghệ nhân, nghi lễ và hình thức
nghệ thuật mà nghệ nhân sử dụng để thực hành nghi lễ…Then chịu ảnh
hưởng nhiều các yếu tố dân gian người Kinh còn Pụt chịu ảnh hưởng nhiều
các yếu tố dân gian vùng Nam Choang, lời hát then pha trộn nhiều tiếng kinh
và âm Hán Việt trong khi lời Pụt nhiều chất bản địa hơn" [138/58]. Nhận định
phần phụ lục) như sau:....................................................................................37
a.Then kỳ yên giải hạn hay Then cầu an giải hạn: Cảm hứng trong các bài
Then là cầu mong sự bình an, hạnh phúc, trường thọ, giải thoát vận hạn, tai
ương cho con người;........................................................................................38
b. Then bói toán: tìm hiểu những bí ẩn liên quan đến bệnh tật, tai nạn, tình
duyên;..............................................................................................................38
c. Then tống tiễn, hay Then slống viác then tiễn hoa héo: được sử dụng như là
hình thức đưa tiễn những trẻ yểu mệnh, hay các tảo sa, tảo lạc;.....................38
d. Then cầu mùa, cầu đảo diệt trùng, mang ý nghĩa mong mưa thuận gió hoà,
mùa màng tươi tốt ít sâu bệnh;........................................................................38
e. Then chúc tụng, ca ngợi: được sử dụng khi gặp vận may hay gắn với những
thời điểm vui vẻ khi gia đình có niềm vui lớn;...............................................38
f. Then trung lễ, đại lễ hay là then khao mạ, lẩu then: có đặc trưng gắn với
nghi thức liên quan đến việc hành nghề của Then .........................................38
Việc phân chia Then thành sáu loại trên đây xuất phát từ thực tiễn cuộc sống.
Con người hàng ngày phải đối mặt với nhiều nghịch cảnh như thiên tai, địch
họa, bệnh tật, mất mùa, vui, buồn..., dưới hình thức một hiện thực muôn màu
muôn vẻ, theo đó niềm vui cần được nhân lên, nỗi buồn cần được xoa dịu hay
an ủi. Vì thế, cần có những diệu pháp tinh thần kịp thời để con người vượt
qua trở ngại có niềm tin đi tới tương lai, dẫn tới sự ra đời của các loại Then
khác nhau. Tuy nhiên, ranh giới các loại Then Tày là tương đối, bởi các sự vật
và hiện tượng trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ hòa trộn lẫn nhau, các chủ
đề nổi lên trong cuộc sống đời thường cũng có sự giao thoa chồng chéo lẫn
nhau: Cầu an đi kèm với giải hạn; chúc tụng ngợi ca đi với lẩu then; bói toán
gắn với với Then tống tiễn...Then Tày là một bộ phận quan trọng của nền văn
nghệ dân gian Tày...........................................................................................38
Như vậy, mặc dù các quan niệm trên đây có những điểm chưa hoàn toàn
thống nhất, nhưng chúng ta thấy các nhà nghiên cứu đều coi: Then là những
anh ta lấy được trên trời đem về nuôi tằm lấy sợi, rồi từ những sợi tơ tằm anh
tạo ra sợi dây đàn. Xiên Câm trồng bầu để lấy quả bầu làm thành bầu đàn còn
cán đàn, sừng đàn được làm từ những cây quý, những loại cây có hương thơm
như cây khảo hương hay cây lý, cây dâu... Đó là những loại cây nở hoa bốn
mùa và có mùi hương thơm kỳ lạ. Các truyền thuyết đó cho thấy vẻ đẹp văn
hóa của cây đàn tính. Dây đàn tính truyền thống thường dùng tơ tằm làm sợi
dây đàn cũng cho thấy người Tày đã thành công trong việc nuôi tằm lấy sợi
để dệt vải hay để làm các vật dụng khác. Sợi dây đàn bằng tơ tằm được các
nghệ nhân chuốt đi chuốt lại bằng sáp ong hoặc nhựa củ nâu để tạo ra độ bền
và âm thanh đồng điệu. Có hai loại đàn tính: đàn hai dây và loại đàn ba dây.
Mỗi loại có những hợp âm nhất định tạo ra âm thanh ấm áp, hơi trầm phù hợp
với âm điệu của lời then, với không gian diễn xướng. Cây đàn tính trở thành
loại nhạc cụ mang đậm bản chất dân tộc Tày. Cây đàn tính cho dù hai dây hay
ba dây thì cũng nằm trong bộ nhạc cụ bằng dây rất tiêu biểu của văn hoá Việt
Nam.................................................................................................................42
Như đã trình bày ở chương một, lời Then phản ánh một thế giới hiện thực đa
dạng, muôn màu muôn sắc, kể cả Then cầu an giải hạn. Vấn đề cầu an giải
hạn là chủ đề lớn nhất trong Then Tày bởi vì giữa cầu an và giải hạn có mối
quan hệ nhân quả, thống nhất với nhau. Nói đến tai ương và ước muốn giải
thoát của con người là nói đến trạng thái nhân sinh thường trực của đời người,
trong đó có không ít trở ngại nằm ngoài hiểu biết của con người, cần có
những diệu pháp tinh thần thích ứng để con người gửi gắm niềm tin và hy
vọng.................................................................................................................46
1. Quan niệm về vận hạn của người Tày trong Then......................................46
Trước hết, tính chất cầu yên giải hạn có mặt trong cả 6 loại Then. Số lượng
các bài Then gắn liền với chủ đề cầu an giải hạn phụ thuộc vào các nghi lễ
then. Cụ thể ít nhất là ba bài nhiều nhất nhất là 36 bài, bình quân từ 10 cho
đến 23 bài. Số lượng như vậy cho thấy việc cầu an giải hạn là một đặc trưng
thường được tổng kết lại dưới hình thức các câu tục ngữ hoặc thành ngữ
chẳng hạn trong văn hoá người Kinh có câu." Bốn chín chưa qua, 53 đã tới.";
bảy mươi ba khiêng ra rú (rừng)”, hay các chu kỳ liên quan đến nhịp sinh học
của con người mà cho đến nay vẫn còn nhiều điều bí ẩn hoặc gắn với các linh
tính, linh cảm để từ đó người ta thường an ủi nhau một cách đơn giản là "của
đi thay người". Tất cả những ám ảnh như vậy được gọi chung là hạn, điều đó
có nghĩa: hạn (hay vận hạn) là một cái gì đó được con người nhìn nhận và
thừa nhận và được con người cảnh giác đề phòng bằng cách cầu khẩn, để từ
đó nghi lễ cầu yên giải hạn ra đời, mà nghi lễ này nói chung cộng đồng các
dân tộc đều có. Người Tày quan niệm cuộc đời con người như một cái cây
mệnh số, một bồ gạo, bồ thóc mệnh số... Từ đó ta có thể hiểu hạn là những rủi
ro những cản trở, những bất trắc. Cách nói năm xung tháng hạn đặc biệt gắn
với những thời kỳ với các tuổi như 49, 61, 73, 85 hay 48, 60, 72, 84 tuỳ theo
cách tính của mỗi thầy Then. Người Kinh và người Tày đều rất quan tâm đến
con số 49, con số này đánh dấu sự phân kỳ trong cuộc đời con người và cũng
vì thế lấy 49 cộng với 12 thì ta sẽ có các con số biểu thị tính quy luật tạo
thành chu kỳ hạn với con người. Cứ như thế nếu tính lấy mốc một tuổi thì cứ
cộng với 12 thì ta sẽ có chu kỳ như vậy (hay còn gọi là chu kỳ chuyển giáp
tính theo lịch Can, Chi). Cách tính tuổi hay cách tính vận hạn như vậy đều
gắn liền với văn hoá nông nghiệp tức là gắn với cách tính thời lịch theo mặt
trăng và được diễn giải dưới hình thức những câu thơ thể hiện trong các lời
của văn bản then..............................................................................................47
Con người sống trong tự nhiên, chịu ảnh hưởng của tự nhiên và tất yếu, thiên
nhiên tác động vào con người cũng theo chu kỳ gắn liền với tuổi tác nghĩa là
gắn liến với tiềm năng sức khoẻ của con người. Từ đấy, mỗi độ tuổi đều có
hạn riêng và việc giải hạn là cần thiết. Giải hạn là một hoạt động nằm trong
sinh hoạt văn hoá tâm linh của các tộc người, với người Tày thể hiện qua
Then trong nghi lễ giải hạn, lời văn tạo ra một hình thức đối thoại, cầu nguyện
như những thực thể độc lập có thể rời cơ thể mà đi chu du đây đó, mải chơi
không chịu về, và khi hồn vía rời xác đi chu du thì người thường mệt mỏi, ăn
không ngon, ngủ không yên và ốm yếu, mức độ tùy thuộc vào số hồn vía
(khoăn) bỏ đi nhiều hay ít. Đây là hiện tượng mất vía, mất hồn thường gặp đối
với trẻ nhỏ, người già, người ốm yếu, phụ nữ có thai. Vía ở đây không phải
cái gì huyền bí mà chính là các bộ phận trên cơ thể, đó là các khiếu gồm: hai
lỗ tai, hai lỗ mũi, hai con mắt, một cái miệng (tạo thành 7) và thêm hai nhũ
hoa ở con gái (tạo thành 9). Như vậy, vía gắn liền với các cơ quan với các
chức năng cụ thể đó là thính giác, thị giác, vị giác, khứu giác. Việc hồn hay
vía đi ra khỏi cơ thể do nhiều tác động khác nhau có thể hồn bị phi lòi (ma
thiên lôi) bắt khi đi vào rừng hay bị phi mật (ma nước) bắt khi đi ra sông suối,
hoặc có thể hồn vui bạn vui bè chạy lang thang đi chơi như lời then miêu tả:
“… Mười hai đình Long Quân vui thú/ Những nam thanh nữ tú vui đùa/ Một
đình thì ngâm thơ đọc truyện/ Một đình thì tiêu khiển đàn ca/ Đình này học
chữ và thơ phú/ Đình này là nam nữ hẹn nhau/ Đình này là trai trẻ đánh cờ/
Đình này là lượn vui hát hội/ Đình này là đàn nhạc đàn loan…Hồn cứ thế lạc
về đình chơi/ vui với đàn với nhị quê nhà/ không còn nhớ dương gian nhà
cửa....”[6/195]. Cũng như người Kinh luôn tin rằng con người có số phận,
người Tày cho rằng những cặp vợ chồng không có con hoặc hữu sinh vô
dưỡng là do số mệnh rơi vào cung cô rần, cô sáu (nghĩa là cô độc) hay cung
tiệt tự (không có con) hoặc cung slam phạ đeng (Tam thiên hồng), chất phạ
đeng (Thất thiên hồng)… nói chung những cặp vợ chồng rơi vào những cung
số này là hiếm muộn con cái vì thế phải làm lễ giải hạn bắc cầu xin hoa để Mẻ
Bjoóc ban hoa. Mẻ Bjoóc là người trông coi việc sinh sản, ban phát sự sống
cho con người, phân hoa, phân nụ xuống trần gian. Mẹ phân hoa vàng thì
được con trai, phân hoa bạc thì được con gái. Hoa mẹ phân, bông to bông đẹp
thì đứa trẻ khỏe mạnh, bông nhỏ, bông héo thì trẻ sinh ra sẽ ốm yếu. Người
phụ nữ lần đầu tiên mang thai hay lấy chồng gặp tuổi hạn hoặc có xung khắc
nhỏ, những cặp vợ chồng lấy nhau đã lâu mà không có con, có sinh những
không có dưỡng tức đẻ non hoặc đẻ ra chết không nuôi được hay con trẻ khi
cho mệnh số (Pủ lường) bồ thóc, bồ gạo (dảo khảu). Thóc gạo là để nuôi sống
con người khi con người sống lâu thì thì thóc gạo để nuôi họ cũng bị hao hụt,
bồ thóc sẽ bị vơi đi, cây mệnh già cỗi và cũng héo dần. Vì thế, con cháu phải
làm lễ để bù thêm thóc gạo vào bồ để bồ thóc lúc nào cũng đầy với ý nghĩa là
bù thêm gạo để người già, bố mẹ ông bà có đầy đủ lương thực ăn trường thọ:
“Chia thóc về bù thêm mệnh số/… Thóc đầy bồ số mệnh cao cường/ Thóc cũ
mới trường sinh bất tận…” hay “Bù vựa thóc tràn đầy/ Nối cho mệnh số
trường thọ thêm tăng/ Vần thóc lên người gồng người gánh/ Người trèo lên
trèo xuống như nêm/ Thóc mệnh số được nâng lên bao lần/ Ngọn đầy ắp chất
lên như núi/ Bù qua rồi bù lại đã tràn/ Thóc này sẽ đầy ngàn năm/ Mệnh số
càng trường xuân vạn đại/ Sống trăm năm sống mãi vô cương.” [6/117].
Trồng cây mệnh số: Đây là một quan niệm có tính chất biểu tượng rất quan
trọng trong tư duy về con người và cuộc đời, theo đó mỗi sinh thể trên mặt đất
kể cả cây cỏ lẫn con người và động vật nói chung đều có số mệnh, đều có tuổi
thọ nghĩa là không thoát ra khỏi vòng sinh tử theo chu kỳ biến dịch của tự
nhiên. Đồng thời, số mệnh của con người cũng được biểu trưng bằng những
vật thể khác thuộc thế giới khác mà ở đây, cái cây là biểu tượng cho số mệnh
con người. Vì cây là số mệnh con người cho nên việc trồng cây số mệnh phải
trở thành một nghĩa vụ và việc bảo vệ cây số mệnh là trách nhiệm bắt buộc
đối với mỗi con người. Từ đây chúng ta sẽ thấy văn hoá giữ rừng của các tộc
người miền núi, gắn với tục thờ những khu rừng thiêng tại đó không ai được
chặt cây lấy củi. Nếu so sánh với dân tộc Khơ Me thì ta thấy người Khơ Me
trong cuộc đời của họ thường rất hay trồng loại cây thốt nốt mặc dầu cây thốt
nốt từ khi trồng đến khi có quả phải mất thời gian ít nhất là 25 năm nhưng
người Khơ Me vẫn trồng là vì họ muốn để phúc lộc lại cho cho con cháu. Còn
đối với người Tày việc trồng cây số mệnh hay bảo vệ cây số mệnh là trách
nhiệm của con cháu đối với các bậc sinh thành. Các cây trồng với tư cách là
biểu tượng cây số mệnh thường là những cây ngắn ngày và có ứng dụng thực
sơn xuyên/ Gối không chồn chân không mỏi…”[6/182]................................52
Xuất phát từ quan niệm đó, giải hạn trở thành một đòi hỏi chính đáng của con
người nhu cầu này quy định sự ra đời của Then Tày giải hạn. Như vậy xét về
bản chất then giải hạn là một loại hình nghệ thuật có tính văn hoá cao bởi vì
nó là sản phẩm của con người nó được sinh ra bởi con người và nó phục vụ
cho con người, mặc dầu trong những lời cầu khấn thì có thể mở rộng ra xin
giải hạn cho cả gia cầm, gia súc cho vật nuôi nói chung cho mùa màng cho
nhà cửa. Tục giải hạn của người Tày bao hàm cả vật nuôi cây trồng nữa. Có
thể thấy điều này qua lễ cúng tắm lá lúa (Toọc pổn dào bâư khẩu) với những
ước mong rất chân thành: “Hồn lúa ngồi cho vững/ Vía lúa đứng cho ngay /
Gió gào không chuyển / Sét đánh không đổ / Bông lúa ngập bờ trên / Gối lên
kín bờ dưới” [5/25,28]. “ … Cầu khất tới cửa Thần nông/ Năm nay lúa tốt
mùa màng bội thu/ Cả nhà khang thái được mùa/ Ngài độ trì gió hòa mưa
thuận..” [5/135]. Hay lễ xo lộc (xin lộc) còn gọi là hội lên đồng (loọng khoăn
vài: gọi vía trâu) thường được tổ chức vào ngày 6/6 hàng năm: “Trâu bò sớm
chiều nghỉ cày bừa / Tự do chơi nhởn kiếm ăn cỏ / Ăn cỏ “mía vươn” trên
vách đá / Ăn cỏ rọn, cỏ chắn bờ ruộng / Cây gì cũng cứ nuốt, cỏ gì cũng cứ ăn
/ Ăn để mập chân tay / Khoeo chân dày / Đùi cũng mập / Đến vụ cày bừa
vững vàng…” hay “Dốc núi trâu mệnh leo qua/ Bốn chân cứng cáp vững như
tường thành/ Đít tròn như quả sim chín mập/ Trong như hình quả nhót trên
cành/ Ngày nghé ọ đi tìm/ Đối phương tìm húc mài sừng ngọ nga/(…) Gà
mệnh vẫn đủ trọn mười phân/ Mảy may không mất một con/ Con diều con
quạ không ăn không vồ/ Không có con nào què gẫy cánh/Quạ diều không bén
mảng làm càn/ Gà còn nhảy ổ gọi ran/ Con sống con mái gọi đàn bên
nhau.”[6/121]. Việc gọi vía cho trâu gợi nhớ tới câu tục ngữ phổ biến trong
tâm thức người Tày: Pẻng tải vài phằng / Pẻng phẳng vài hảy. Nghĩa là: bánh
gai trâu cười, bánh chưng trâu khóc................................................................52
Then Tày giải hạn gắn liền với đời sống tâm linh của con người đây mang dấu
hạn cầu yên, trong thực tế, là đến những đền chùa, những ông thầy cao tay.
Còn trong văn chương, mà ta thấy rõ trong Then Tày, thì giải hạn là hành
trình đi tới mường trời, đi tới xứ sở thần thiêng, nơi có thần thánh nói chung,
có thể có tên là Ngọc Hoàng Thượng đế, có thể là Mẻ Bjoóc (hay Mẹ Hoa)
tương ứng với pháp danh Cửu thiên Thánh mẫu hay Cửu thiên huyền nữ chúa
Tiên..................................................................................................................54
Cuộc hành trình này trở thành nội dung của các bài Then nói chung và của
Then giải hạn nói riêng. Các bước trong cuộc hành trình này qui định cấu trúc
của bài Then. Cụ thể, theo các văn bản đã sưu tầm và công bố thì Then Tày
giải hạn ngoài phần mở đầu ra thì được diễn ra theo thứ tự được tổ chức thành
21 bài như sau: 1.Con đường Bách điểu; 2. Xuống đương Long vương thuỷ
phủ; 3. Cống sứ tìm hồn trẻ trốn sang nước Hác; 4. Đến cung mời nàng sử; 5.
Cống xứ con trẻ; 6. Truyền suông dọn thuyền nặm kim; 7. Vào cửa nhà công
(Nam tào Bắc Đẩu); 8. Truyền mục la ma a hương hoa, đăng trà quả thực,
phụng hiến; 9. Lại phát cỗ; 10. Lập trạm thái tử; 11. Đón tướng; 12. Dựng núi
su mi; 13. Lập trạm thành nam; 14. Lập trạm môn; 15. Lập trạm phủ; 16. Mặc
áo; 17. Rước su mi trước mặt vua; 18. Giã rượu,;19. Vào cửa Ngọc Hoàng;
20. Vào cửa Tướng tiến thuế; 21. Ăn phụ (lèng) ở núi Khau các, Khau cài.. .56
Thông qua các văn bản Then và then giải hạn chúng ta nhận ra quan niệm của
người Tày về thế giới được cấu trúc thành ba tầng: Tầng thứ nhất được gọi là
mường trời là thế giới của tốt lành, hạnh phúc tầng này có vị thế là ở trên cao.
Người Thái gọi mường trời là mường Then, mường trời của người Tày cũng
giống như thiên đường của Ki Tô Giáo hay là cõi niết bàn của Phật giáo. Nói
tóm lại, mường trời là một cõi lí tưởng ước mơ cao đẹp nhất. Hành trình giải
hạn của người là hành trình đi tới mường trời, đi tới cái đẹp cái tốt lành, đi tới
hạnh phúc bình yên. Thế giới của mường trời cũng có mô hình tổ chức tương
ứng như thế giới của mường trần tức là cũng có ruộng vườn, chợ búa cũng có