Sáng ki ến kinh nghi ệm Khai thác tác ph ẩm t ựs ựd ướ
i góc độ tình hu ống truy ện
A. ĐẶT VẤN ĐẾ:
1.
Lí do chọn đề tài :
Đặc trưng của truyện ngắn là cốt truyện và thông thường cốt truyện
bắt đầu từ những sự kiện có vấn đề đó là tình huống. Chính ở đó nhà
văn bộc lộ tài năng của mình. Nói cách khác, tình huống chính là một
lát cắt của cuộc sống, là vực soáy trên dòng sông, là thứ nước rửa để
làm nổi hình, nổi sắc của ảnh, tình huống gắn liền với cốt truyện và chủ
đề tư tưởng của tác phẩm.
Một nhà nghiên cứu đã từng khẳng định : Nhân vật là trụ cột, lời kể là
không khí, là linh hồn của tác phẩm thì tình huống truyện là nền móng
của tác phẩm … Nếu như khai thác một bài thơ chú ta chú ý tới hình
ảnh, cấu tứ, nhịp điệu… thì khai thác tác phẩm tự sự phải chú ý tới
nhân vật ở các góc cạnh, từ đó mà phát hiện chân giá trị cuộc sống
cùng thông điệp mà nhà văn gửi tới bạn đọc. Để khám phá nhân vật
cần bắt đầu từ việc khai thác tình huống truyện. Muốn vậy người giáo
viên phải hướng dẫn học sinh nắm vững tác phẩm, hiểu được diễn biến
của câu truyện, từ đó phát hiện ra đâu là hoàn cảnh có vấn đề. Một tác
phẩm hay thì bao giờ nhà văn cũng có những phát hiện độc đáo khi
khai thác vấn đề trong cuộc sống. Bởi vậy khi phân tích tác phẩm tự
sự, người dạy, người học cần xác định rõ vai trò của tình huống truyện
– những mã khoá giúp người dạy, người học đi từ những “phần chìm ”
để tìm ra tư tưởng, chủ đề của tác phẩm văn học . Làm thế nào chúng
ta – vừa là người đọc truyện, vừa là người giảng truyện để truyền cho
HS cái cảm giác “ Uống xong lại khát ” ấy.
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, 11,12, tác phẩm tự sự chiếm 20,0%
số lượng tiết học chính khoá và học thêm ( Lớp 12 :17/47 bài chiếm
* Đọc nghiên cứu các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn
lớp 11,12 như : “ Chí Phèo”; “ Chữ người tử tù – Ngữ văn 11”; “ Vợ
nhặt” ; “ Những đứa con trong gia đình”; “ Chiếc thuyền ngoài xa” –
Ngữ văn 12 ).
4 .2. Nghiên cứu thực tiễn :
* Dự một số tiết dạy tác phẩm tự sự của đồng nghiệp .
* Khảo sát các đề thi đại học, đề thi học sinh giỏi của tỉnh Thanh Hoá
trong các năm học.
* Chọn 2 lớp cơ bản có trình độ ngang nhau , một lớp chú ý rèn luyện
năng lực khai thác tình huống truyện cho học sinh trong các giờ học và
một lớp không nhấn mạnh đến vai trò của tình huống truyện. So sánh,
đối chiếu kết quả để rút ra kết luận .
5.
Những luận điểm bảo vệ :
* Khái niệm: tác phẩm tự sự, tình huống truyện.
* Các loại tình huống truyện trong tác phẩm tự sự .
* Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm tự sự. Rèn luyện cách
khai thác tình huống truyện trong trong quá trình dạy tác phẩm tự sự .
* Những dẫn chứng minh hoạ.
* Kết quả thực nghiệm .
* Kết luận
6.
Những đóng góp cũng như ý nghĩa lý luận và thực tiễn của
đề tài .
nhà văn phải xử lí tình huống một cách hợp lý. Tình huống phải mang
giá trị thể hiện tư tưởng của tác phẩm. ( Đáp án đề thi chọn đội tuyển
dự thi học sinh giỏi quốc gia lớp 12 THPT năm học 2006 – 2007 của sở
giáo dục và đào tạo Thanh Hoá)
Hay : tình huống truyện là một trong những yếu tố cơ bản của văn xuôi
tự sự. Tình huống tạo nên những nét riêng của từng truyện, đồng thời
thể hiện tài năng và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Nghệ thuật tạo
dựng tình huống là tạo hoàn cảnh đặc trưng, đặt nhân vật vào một
hoàn cảnh đặc biệt nào đấy để nhân vật bộc lộ hết tính cách tâm trạng
của mình.
2.
Các loại tình huống truyện trong tác phẩm tự sự .
2.1. Tình huống bên ngoài
2.2.Tình huống bên trong- Tình huống nhận thức:
3.
Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm tự
sự. Rèn luyện cách khai thác tình huống truyện trong
trong quá trình dạy tác phẩm tự sự .
2.1. Vai trò của tình huống truyện:
Đặc biệt với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò quan trọng trong nghệ
thuật dựng truyện- có ý nghĩa đối với sự phát triển của mạch truyện .
Nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng rất chú trọng đến yếu tố này: “ Đôi
khi người ta nghĩ ra được một cái tình thế xảy ra trong câu truyện thật
hay và thế là coi như xong một nửa” ( Tình thế sảy ra truyện) . Trong
quản ngục chính là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản
đàn mà nhạc luật đều hỗn độn, xô bồ. Chính việc lựa chọn tình huống
này giúp cho nhà văn xây dựng thành công các nhân vật để thể hiện
cho ý tưởng ngợi ca về vẻ đẹp một thời vang bóng đã đi qua.
Hay trong truyện Vợ nhặt– Kim Lân ( Ngữ văn 12 tập 2 ) là một tác
phẩm rất độc đáo về tinh huống. Đó là Tràng- Một anh nông dân nhà
nghèo, hình thức thô kệch, tính tình ngờ nghệch lại là dân ngụ cư giữa
lúc đói kém mà lấy được vợ hơn nữa lại là vợ theo. Tình huống bất
thường đó gây sự chú ý ngạc nhiên tới người xung quanh và ngay cả
bản thân Tràng. Bởi đói khát, người Tràng nuôi thân chẳng xong lại còn
đèo bòng. Và không chỉ lạ mà nó còn đan xen giữa mừng và lo, vui và
buồn. Hạnh phúc đặt trên bối cảnh thê lương ảm đạm của nạn đói năm
1945 trong khi gia đình Tràng đang đứng trước cái đói quay, đói quắt.
Tình huống đó sẽ chi phối tới sự phát triển của truyện và cách xây
dựng các nhân vật. Như vậy bắt đầu từ việc khai thác tình huống khi
tiếp cận tác phẩm mà người giáo viên có thể dẫn dắt học sinh phân
tích nhân vật Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Các lớp nghĩa của truyện
sẽ được sáng tỏ cùng các giá trị hiện thực và nhân đạo. Chủ đề tác
phẩm về bài ca cuộc sống: bên lề cái chết con người ta vẫn mơ ước,
vẫn khát vọng là ý nghĩa cơ bản mà nhà văn Kim Lân chuyển đến bạn
đọc.
Với tác phẩm Chí Phèo ( Ngữ văn 11 tập 1 ), để tạo sự chuyển đổi về
tư tưởng nhân vật, tác giả đã cho Chí Phèo gặp thị Nở. Nguời phụ nữ
ma chê quỷ hờn này đã đã làm thay đổi tâm tính của hắn. Từ sau trận
ốm, Chí Phèo cảm nhận được sự cô đơn, sự chăm sóc của thị Nở đã
đánh thức giấc mơ ngày xưa của hắn. Chí Phèo muốn làm hoà với mọi
người. Chí muốn thị Nở sẽ là cầu nối với dân làng Vũ Đại. Rõ ràng sự
gặp gỡ này chính là tình huống cho nhân vật bộc lộ những trăn trở
hai tình huống truyện đặc biệt.
Tình huống 1: Tình huống đảo ngược: Không phải quyền uy có thể
chiến thắng mà ở đây vẻ đẹp, sức mạnh tinh thần đã chiến thắng vũ
lực. Đó là sự trái ngược giữa chốn nhà tù đầy uy lực với ánh sáng của
văn minh, văn hoá. Tình huống khái quát đầy tính nhân văn và là một
cái nhìn tiến bộ, đầy lạc quan của Nguyễn Tuân.
Tình huống 2: Cảnh cho chữ:
Cảnh cho chữ được tác giả xây dựng trong một khung cảnh đầy kịch
tính, huyền thoại. địa điểm cho chữ: Trong phòng giam người tử tù, một
nơi bẩn thỉu, tối tăm. Mục đích cho chữ lại rất cao quí, rất đẹp. ở nơi
đầy tội ác lại diễn ra một việc làm đẹp, trong sáng nhất. Chính tình
huống này có tác dụng làm nổi bật chiều sâu tâm lý của mỗi nhân vật
trong truyện. Giữa phòng giam tử tù người ta viết tặng nhau, người ta
nâng niu từng nét bút, thưởng thức mùi thơm của mực, khoan thai,
trang trọng. Người ta thực sự hoà đồng vào nhau, cùng nhau trút bỏ
ngăn cách, toả sáng cho nhau để trở lại chính con người của họ “ Con
người – những tấm lòng trong thiên hạ”. ở đây cái đẹp đã chiến thắng,
cái đẹp đã lên ngôi, “ cái đẹp đã cứu vớt con người” ( Đôxtôiepxki)
Tình huống truyện được tác giả xây dựng bằng bút pháp lãng mạn đầy
kịch tính. Đó là cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Giữa cái nhà ngục
đầy bóng tối, đầy rệp, muỗi lại cháy lên một ngọn đuốc, lửa rừng rực và
sáng trên tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Vì nhà ngục vốn là nơi
giam cầm, đày đoạ con người, vậy mà tại chốn ngục tù này lại diễn ra
một việc “ chưa từng có”. Người ta vẫn tự do, vẫn bình thản ngồi viết
chữ tặng nhau như ở ngoài đời. Nhưng người cho chữ lại là người tử tù,
cổ đeo gông, chân bị xiềng mà vẫn ung dung viết chữ, nét chữ thật
vuông vắn, thật đẹp, còn thầy thơ lại và ngục quan vốn là những người
coi tù lại “ khúm núm” , “ run run” như chấp nhận một sự đổi thay ngôi
thứ. đó là những nghịch lí tạo nên bức tranh vừa hiện thực vừa lãng
văn. Các nhân vật lãng mạn thường đối lập giữa tính cách và hoàn
cảnh, giữa lí tưởng và hiện thực cuộc sống, nhân vật thường đứng cao
hơn hoàn cảnh, không chịu sự tác động của hoàn cảnh khách quan. ở
nhân vật quản ngục những đối lập ấy tạo ra chiều sâu tâm lý: Làm
nghề coi tù, sống giữa tội ác, hàng ngày chứng kiến bao cảnh xô bồ,
hỗn tạp, viên quản ngục lại biết kính mến khí phách, biết trọng người
có tài, biết day dứt “ chọn nhầm nghề”; có một sở nguyện thiêng liêng
là “ treo ở nhà riêng mình đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”.
Nguyễn Tuân đã nhìn thấy trong người viên quản ngục một “ tính cách
dịu dàng… một thanh âm trong trẻo xen vào giữa một bản đàn hỗn
độn, xô bồ”. đây chính là một cái nhìn đầy lãng mạn, nhưng cũng là
một cái nhìn mang tính thẩm mĩ cao.
Trong truyện ngắn Chữ người tử tù, tài hoa của tác giả còn thể hiện ở
cách xây dựng ngôn ngữ. ở đây tác giả nói về chữ viết nhưng lại nói về
cách sống, về nhân cách. Chỉ cần một nét chữ “ vuông vắn, tươi tắn”
đối với Huấn Cao đã là biểu hiện của một nhân cách tự do, nhân cách
của thiên lương toả sáng. Cần chú ý cách sử dụng ngôn từ trong cách
gọi nhân vật của nhà văn: ông không viết “ viên quản ngục” mà viết
“ ngục quan”, không viết tên tù mà viết “ ngục tù”. ở đây không phải vì
vị thế con người đã thay đổi mà tác giả thay đổi ngôn từ, mà chính là
tấm lòng cảm kích, trân trọng Huấn Cao và người quản ngục của
Nguyễn Tuân.
Mặt khác khi miêu tả nhân vật của mình, tác giả thường dùng ngôn
ngữ khoa truơng, phóng đại. Tính phóng đại trong ngôn ngữ của ông
đều nhằm mục đích khắc hoạ đậm nét chân dung nhân vật lãng mạn.
Chẳng hạn trong cảnh cho chữ những cụm từ “ nét chữ vuông vắn, tươi
tắn nói lên cái hoài bão, cái khí phách tung hoành của Huấn Cao”, các
từ “ khúm núm”, “ run run”, “ bái lĩnh”… đều nói lên sự ngưỡng mộ,
một vở kịch câm. Nhà văn tỉnh lược tối đa lời nói, tăng cường hành
động. Tất cả diễn ra nhanh gọn.
+ Câu chuyện của gia đình ngư dân được nhà văn quay cận cảnh với
những diễn biến chớp nhoáng: “ Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng
vào chỗ tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời
thuyền…”
+ Hành động tàn nhẫn của người chồng: “ Chẳng nói chẳng rằng lão
trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp
vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng
nghiến ken két…”
+ Phản ứng mãnh liệt của thằng Phác: “ lao qua trước mặt tôi”, “ chạy
một mạch”, “ nhảy bổ vào” người bố.
+ Sự cam chịu của người vợ: “ Thế rồi thật bất ngờ người đàn bà buông
đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo gã đàn
ông. Cả hai người trở lại chiếc thuyền…”
Những tình tiết dồn dập diễn ra trong một khoảnh khắc. Chiếc thuyền
vó đã biến mất. Tất cả như “ trong câu chuyện cổ đầy quái đảm”. Sau
một loạt các hành động dồn dập đó câu chuyện trở về với nhịp độ bình
thường.
Cái chuyện đánh vợ của người đàn ông diễn biến nhanh đến nỗi chính
Phùng là người chứng kiến từ đầu đến cuối cũng không tin là thật. Anh
kinh ngạc đến mức mấy phút đầu “ cứ đứng há mồm ra mà nhìn”, và
khi sự việc đã kết thúc anh “ đứng trơ giữa bãi xe tăng hỏng” , “ đưa
mắt ngơ ngác nhìn ra một quãng bờ phá ban nãy chiếc thuyền vừa
đậu”.
Bi kịch gia đình ngư dân diễn ra như ảo giác, chỉ có một chi tiết rất thật
là chiếc thắt lưng da ( dùng để đánh vợ) thằng bé giằng được từ tay
người bố vẫn còn trên tay nó. Chi tiết “ chiếc thắt lưng” lặp lại nhiều
với mình ‘‘ Phải , phải, bây giờ tôi đã hiểu…’’ là một quá trình nhận
thức chớp nhoángkhiến Đẩu đồng cảm hơn với cảnh ngộ éo le của
người đàn bà vùng biển. Cái vỡ ra trong Đẩu không phải là hành vi thoả
hiệp với cái ác, cái lạc hậu mà là sự thức nhận sâu sắc về những nghịch
lí trong cuộc đời.
Nguyễn Minh Châu không dừng câu chuyện của mình sau cuộc gặp gỡ
giữa ba người ở toà án huyện. Ngòi bút của nhà văn còn muốn đào xới
sâu hơn vào phần tự ý thức của con người. Câu chuyện khép lại bằng
hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa.
Qua tình huống nhận thức của nhân vật Đẩu, qua những trăn trở của
Phùng, người đọc nhận ra điều Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm: Con
người ta luôn luôn phải nhìn lại mình. Hoạt động tự ý thức khiến con
người ngày càng hoàn thiện hơn. Đấy là ý nghĩa sâu xa của truyện
ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện
độc đáo của Nguyễn Minh Châu đã tạo điều kiện cho câu chuyện phát
triển hợp lô gíc và góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề truyện.
III. Kết luận
III.1. Kết quả thực nghiệm :
Với những suy nghĩ trên và bằng thể nghiệm của chính mình , cách
khai thác vai trò của tình huống truyện trong dạy tác phẩm tự sự đã
giúp tôi đạt được những kết quả nhất định. Những học trò trong lớp dạy
của tôi đã quan tâm hơn đến giờ học Văn và có hứng thú trong quá
trình học. Trên cơ sở đó , từ những lớp bình thường có thể chọn những
học sinh có khả năng học văn để bồi dưỡng. Trong kì thi tốt nghiệp
THPT năm học 2007 -2008 , kết quả điểm Văn của trường rất khả
quan . Cụ thể : Số học sinh dự thi : 472. Điểm 0->2: 0 ; điểm 3 -> 4,9 :
35 ; điểm 5 ->7,9 : 382 ; điểm 8->10 : 55 ( có nhiều học sinh đạt điểm
9 ). Trong kì thi đại học các năm học 2006 – 2006 ; 2006- 2007 có
Điểm 710
Số
bài
Số bài
%
37
3
8
49
10
20,4
bài
%
Số bài %
17
lượng
HS tham
Số lượng
Năm học
dự
giải
2004-2005
9
0
0
0
0
0
2005-2006
10
5
4
2
0
2008 – 2009
8
7
7
0
0
0
KK
Ba
Nhì Nhất
=> Căn cứ vào sự đối chứng trên , có thể thấy rằng: Rèn luyện năng
lực cho HS nhận biết vai trò của tình huống truyện trong học văn tự sự
là công việc cần thiết của người giáo viên dạy văn. Bởi sẽ dành nhiều
3.
Ngữ Văn 11, 12 NXB GD
4.
Tạp chí THPT số 30
5.
Tiếng Việt lớp 11 – NXBGD – 2002
6.
Tạp chí giáo dục số 176 ( kì 1-11-2007 )
Mục lục:
I.Đặt vấn đề
1.
Lí do chọn đề tài
2.
Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.
Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
thác tình huống truyện trong quá trình dạy tác phẩm tự sự
Những dẫn chứng minh hoạ
III. Kết luận