Nâng cao hiệu quả giờ dạy mở rộng vốn từ lớp 4 - Pdf 42

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Cơ sở lí luận
Luyện từ và câu là môn học quan trọng để dạy Tiếng Việt ở Trường
Tiểu học. Phân môn luyện từ và câu khá khó hiểu và trừu tượng với học sinh
nhất là phần mở rộng vốn từ. Thực tế cuộc sống đòi hỏi các em có sự hiểu
biết về từ để giao tiếp. Do vốn sống của học sinh còn ít nên nhà trường Tiểu
học là nơi cung cấp cho các em có sự hiểu biết về cuộc sống và có vốn từ
sâu rộng hơn.
Hiện nay, học sinh được tiếp thu và tích lũy trong cuộc sống đa dạng,
phong phú thông qua nhiều nguồn thông tin, các em có năng lực nhận thức
phát triển hơn so với cùng độ tuổi của các em trước đây. Nhà trường là nơi
khai thác vốn sống sẵn có của học sinh, giúp học sinh điều chỉnh, chính xác
hóa, lí giải, củng cố, làm phong phú những tri thức trong bài đã và đang học,
tạo điều kiện để học sinh nắm thêm tri thức mới và giúp học sinh học tập lẫn
nhau. Trên cơ sở đó các em củng cố kiến thức, có kĩ năng thực hành, có
hứng thú học tập để nâng cao nhận thức.
2. Cơ sở thực tiễn.

1


Học sinh có xu hướng vượt ra khỏi giới hạn nội dung tri thức do
chương trình quy định, thể hiện ở chỗ học sinh không thỏa mãn với điều
kiện đã học theo chương trình mà muốn đi tìm cái mới, mở rộng đào sâu
những điều đã học, muốn hiểu biết của mình được ứng dụng vào thực tế.
Chính vì vậy đòi hỏi giáo viên phải có sự đổi mới trong giảng dạy để
phát huy hết khả năng vốn có của học sinh.

Nhìn vào thực trạng dạy luyện từ và câu hiện nay cho thấy: hoạt động
của học cả thầy và trò còn hạn chế. Nhiệm vụ dạy và học chưa được hiệu

I- Vấn đề cần giải quyết.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy luyện từ và câu ở tiểu học,
tôi nhận thấy việc dạy mở rộng vốn từ phần nào chưa đáp ứng đầy đủ yêu

3


cầu. Để khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm cho giờ học
có hiệu quả cao, theo tôi cần giải quyết những vấn đề sau:
1- Xây dựng bài tập giúp học sinh hiểu nghĩa từ, thành ngữ, tục
ngữ.

2- Phân tích bài tập để lựa chọn phương pháp và hình thức hoạt

động phù hợp.
3- Thực hiện dạy có đổi mới.

II- Cách giải quyết vấn đề.
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, tôi đã sưu tầm, đọc các tài liệu liên
quan như sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập, phương pháp giảng dạy,
từ điển Tiếng Việt…Kết hợp đọc sách với các nguyên tắc giảng dạy như:
đảm bảo tính chính xác, khái quát, gắn lý thuyết với thực hành, mở rộng vốn
từ…Tôi đã mạnh dạn xây dựng bài tập và hình thức tổ chức hoạt động cho
học sinh khi luyện tập.

1- Vấn đề 1: Xây dựng bài tập giúp học sinh hiểu nghĩa từ,
thành ngữ, tục ngữ.
1.1- Tiết 1:
Với yêu cầu mở rộng vốn từ thuộc chủ điểm, học sinh nắm được nghĩa


A

B
Nhân dân
Nhân hậu

“Nhân” có nghĩa là
“ người”

Nhân ái
Công nhân

Nhân loại
Nhân đức
“Nhân” có nghĩa là
“lòng thương người”
Nhân từ
Nhân tài

*Tìm tiếp các từ có tiếng “ nhân” cùng nghĩa.
6


Bài 3: Đặt câu với một từ ở bài tập 2.
Bài 4:
a) Điền câu tục ngữ vào chỗ chấm sao cho phù hợp với nội dung của
câu tục ngữ đó.

Khuyên con người sống hiền
lành, nhân hậu vì sống hiền lành,

Bài 1: Tìm các từ và viết vào cột theo mẫu:

Chứa tiếng “hiền”

Chứa tiếng “ác”

M: dịu hiền, hiền lành, …

M: hung ác, ác nghiệt, …

8


Bài 2: Xếp các từ sau vào ô thích hợp trong bảng: nhân ái, tàn ác, bất
hòa, lục đục, hiền hậu, chia rẽ, cưu mang, che chở, phúc hậu, hung ác,
độc ác, đôn hậu, đùm bọc, trung hậu, nhân từ, tàn bạo.

Từ cùng nghĩa

Từ trái nghĩa

M: nhân từ, …

M: độc ác, …

M: đùm bọc, …

M: chia rẽ, …

Nhân hậu

hoặc bị hại thì những người
khác cũng bị ảnh hưởng.

Người khỏe mạnh cưu mang,

Nhường cơm sẻ áo.

giúp đỡ người yếu. Người may
mắn giúp đỡ người bất
hạnh.
Người giàu giúp người nghèo.
10


Lá lành đùm lá rách.
Giúp đỡ, san sẻ cho nhau lúc
khó khăn, hoạn nạn.

b) Nêu tình huống sử dụng mỗi thành ngữ, tục ngữ trên.
1.3- Phiếu bài tập để kiểm tra đánh giá học sinh sau hai tiết học.
Phiếu có nội dung như sau:
Bài 1: Tìm từ có tiếng “kết” để điền vào chỗ chấm trong các câu sau
sao cho phù hợp với nội dung:
a) Bạn bè trong lớp phải…………..với nhau.
b) Các thế lực phản động…………...với nhau để chống phá nhà nước
ta.

Bài 2: Chọn từ thích hợp trong các từ sau để điền vào chỗ chấm:
nhân chứng, nhân tâm, nhân ái, nhân lực, nhân tài.
a) Giàu lòng ………….


Bài 1: Với các từ cho sẵn học sinh có thể lựa chọn từ để điền theo cột.
Bài có độ nhiễu thấp phù hợp với mọi đối tượng học sinh.Ngoài ra, còn có
sự nâng cao mở rộng dành cho đối tượng học sinh khá giỏi.
Bài 2: Là bài tập nối cột giúp học sinh hiểu nghĩa từ, mở rộng vốn từ.
Với nghĩa từ và các từ đã cho sẵn học sinh dễ dàng nối được nghĩa với từ
phù hợp. Bài tập phù hợp với mọi đối tượng học sinh.
Bài 3: Học sinh đặt câu với từ đã cho ở bài tập 2, học sinh được lựa
chọn từ đặt câu do vậy không gây khó với học sinh.
Bài 4:Ở sách giáo khoa yêu cầu học sinh nêu nội dung các câu tục
ngữ. Đây là điều rất khó với học sinh tiểu học.Với hình thức điền vào chỗ
chấm, các câu tục ngữ và nội dung đã cho sẵn nên phù hợp với mọi trình độ
học sinh. Ngoài ra còn có phần mở rộng- học sinh nêu tình huống sử dụnggiúp học sinh sử dụng phù hợp, nâng cao sự hiểu biết để học sinh có thể áp
dụng khi nói, viết.

2.2-Phân tích bài tập tiết 2.
Bài 1: Tôi lấy nội dung bài 1 ở sách giáo khoa vì đây là bài tập phù
hợp với đối tượng học sinh tiểu học, nhưng tôi đã chuyển bài về dạng biểu
bảng để học sinh dễ làm, dễ hiểu và trình bày một cách khoa học.

13


Bài 2: Với các từ đã cho sẵn học sinh nhận biết nghĩa của từ và sắp
xếp từ phù hợp theo cột. Đây là bài tập phù hợp với mọi đối tượng học sinh
vì độ nhiễu rất thấp.
Bài 3: Là bài tập điền từ, các từ cần điền đã cho sẵn.Học sinh có thể tự
lựa chọn từ một cách dễ dàng để điền vào chỗ chấm. Học sinh không khó
khi điền từ so sánh phù hợp. Ở đây còn có sự mở rộng giúp học sinh có thói
quen dùng thành ngữ đúng trong việc nói, viết qua việc đặt câu.

động đã nêu ở vấn đề 1, 2. Lớp 4C tôi dạy theo hệ thống câu hỏi ở sách giáo
khoa.

III- Kết quả:

Vào tuần học thứ 1, tôi khẳng định trình độ hai lớp 4B, 4C bằng cách
đưa ra phiếu đánh giá trình độ. Tôi thu được kết quả như sau:

15


Điểm
Năm học

2008-2009

7-8

5-6

0-4

Lớp
Số h/s

2007-2008

9-10

SL


16.0

4C

30

2

6.7

9

30.0

15

50.0

4

13.3

4B

29

2

6.9


Kết quả trên cho thấy, trình độ về luyện từ và câu ở hai lớp 4B, 4C là
tương đương nhau. Số học sinh đạt điểm khá giỏi thấp, từ 32,3% đến 37,9%.
Số học sinh không đạt cao, từ 13,3% đến 17,3% .

Sang tuần 2,3 tôi thực hiện dạy luyện từ và câu ở cả hai lớp 4B, 4C :
- Lớp 4B: Dạy theo hướng đổi mới đã nêu ở trên.
- Lớp 4C: Dạy theo sách hướng dẫn và hệ thống bài tập ở sách giáo khoa.
Sau khi giảng dạy, tôi đưa phiếu đánh giá kết quả (như đã nêu ) và thu
được kết quả như sau:

16


Điểm
Năm học

2008-2009

7-8

5-6

0-4

Lớp
Số h/s

2007-2008


30

2

6.7

4B

29

10

34.5 12 41.4

7

24.1

4C

29

3

10.3 9

12

41.4



KẾT LUẬN

1- Những bài học kinh nghiệm.
Từ việc áp dụng vào giảng dạy ở phần trên, qua thực tế những giờ lên
lớp, bản thân tôi rút ra được những bài học kinh nghiệm sau:
- Trước khi dạy một bài nào đó, người giáo viên phải nghiên cứu,
chuẩn bị để biến những câu hỏi, bài tập khó thành những câu hỏi bài tập dễ
hiểu hơn để giúp học sinh hiểu nghĩa từ và dùng từ phù hợp.
- Người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức hoạt
động phù hợp với mỗi bài, với trình độ học sinh để giờ học đạt hiệu quả cao
nhất.
- Người thầy phải có sự chuẩn bị chu đáo và có hình thức tổ chức hoạt
động phong phú, sôi nổi, hiệu quả chứ không phải chỉ là hình thức qua loa ,
đại khái.

18


- Thường xuyên tổ chức hoạt động cho học sinh với nhiều hình thức
để được thông tin hai chiều, từ đó có phương pháp và hình thức hoạt động
phù hợp.
2- Điều kiện vận dụng.
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy để dạy tốt tiết luyện từ và câu ở tiểu
học cần những điều kiện sau:
- Giáo viên cần có thời gian nghiên cứu sách giáo khoa, sách hướng
dẫn, sách bài tập để xây dựng hệ thống bài phù hợp.
- Giáo viên có trình độ kiến thức về từ ngữ, có sự linh hoạt, sáng tạo
trong giảng dạy.
- Học sinh được làm quen với các hoạt động học tập từ các lớp dưới


20


21


22


23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status