Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế cấp thành phố ở hà nội - Pdf 42

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH CƢƠNG

CHẤT LƢỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ KINH TẾ CẤP THÀNH PHỐ Ở HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 62 34 04 01
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Trần Thị Minh Châu

HÀ NỘI - 2017


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH CƢƠNG

CHẤT LƢỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ KINH TẾ CẤP THÀNH PHỐ Ở HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 62 34 04 10
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Trần Thị Minh Châu

HÀ NỘI - 2017


Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ CẤP THÀNH PHỐ
Ở HÀ NỘI
3.1. Khái quát về thành phố Hà Nội và các cơ quan quản lý
nhà nước về kinh tế của thành phố Hà Nội
3.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về
kinh tế cấp thành phố ở Hà Nội
3.3. Thực trạng công tác đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý nhà nước về kinh tế cấp thành phố ở Hà Nội
Chƣơng 4: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ KINH TẾ CẤP THÀNH PHỐ Ở HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020
4.1. Yêu cầu mới và phương hướng nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế cấp thành phố ở
Hà Nội đến năm 2020
4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà
nước về kinh tế cấp thành phố ở Hà Nội đến năm 2020
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC
GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
1
5
5
8
19
23

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3

ĐTBD

Đào tạo, bồi dưỡng

4

HĐND

Hội đồng nhân dân

5

KT

Kinh tế

6

KT - XH

Kinh tế - xã hội

7


Trang
Bảng 2.1

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh

67

Bảng 3.1

Thực trạng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của CB QLNN

78

về KT cấp thành phố ở Hà Nội
Bảng 3.2

Trình độ lý luận chính trị của CB diện quy hoạch cấp thành

80

phố ở Hà Nội
Bảng 3.3

Thống kê trình độ QLNN của CB QLNN về KT

82

Bảng 3.4

Thống kê trình độ tin học, ngoại ngữ của CB QLNN về KT

chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Hà Nội năm 2015
Bảng 3.9

Thống kê trình độ chuyên môn nghiệp vụ của CB QLNN về

93

KT từ năm 2009 - 2015
Bảng 3.10 Cơ cấu chuyên ngành đào tạo của CB QLNN về KT

94

Bảng 3.11 Cơ cấu về giới của CB QLNN về KT

95

Bảng 3.12 Thống kê cơ cấu lứa tuổi của CB QLNN về KT ở Hà Nội

97

Bảng 3.13 Chỉ số năng lực cạnh tranh của thành phố Hà Nội

98

Bảng 3.14 Trình độ CB QLNN về KT được quy hoạch giai đoạn

102

2010 - 2015
Bảng 3.15 Số lượng CB QLNN về KT được bổ nhiệm từ 2009 - 2015


phố ở Hà Nội
3.2

Mức độ phù hợp của chuyên ngành được đào tạo với công
việc CB đang đảm nhiệm

106


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện đại, yếu tố quản lý có vai trò quan trọng. Nhờ quản
lý tốt, một quốc gia, một địa phương có thể phát triển nhanh trên nền tảng
nguồn tài nguyên nghèo nàn. Ngược lại, nếu quản lý kém, các quốc gia, địa
phương giàu tiềm năng có thể trì trệ, lạc hậu.
Trong hệ thống quản lý, cán bộ (CB) quản lý là yếu tố quyết định. CB
quản lý là người đưa ra quyết định về mục tiêu, phương án phát triển một
quốc gia, địa phương. Cán bộ quản lý cũng là người liên kết, tổ chức những
người khác thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước, địa phương
bằng cách triển khai các phương án phát triển tối ưu.
Quản lý nhà nước (QLNN) về kinh tế trong mô hình kinh tế thị trường
hỗn hợp có vai trò ngày càng tăng lên. Cán bộ QLNN về kinh tế (KT) là
người giúp Nhà nước thực hiện vai trò đó cả ở cấp quốc gia và cấp địa
phương. Quy mô nền KT càng lớn, tốc độ phát triển KT càng cao, cơ cấu nền
KT càng phức tạp, trách nhiệm của CB QLNN về KT càng lớn.
Hà Nội là Thủ đô là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính
quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch
quốc tế của cả nước. Trên địa bàn thành phố Hà Nội đã phát triển nhiều ngành

QLNN về KT phù hợp với nền kinh tế thị trường (KTTT).
- Làm rõ điểm mạnh, điểm yếu trong chất lượng đội ngũ CB QLNN về
KT cấp thành phố ở Hà Nội trong những năm gần đây.
- Phân tích thực trạng công tác CB của thành phố Hà Nội liên quan đến
đội ngũ CB QLNN về KT cấp thành phố ở Hà Nội, chỉ ra thành công, hạn chế
và nguyên nhân.
- Đề xuất bốn phương hướng, sáu giải pháp đảm bảo chất lượng đội
ngũ CB QLNN về KT cấp thành phố ở Hà Nội trong giai đoạn đến năm 2020.
6. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận án được trình bày trong 4 chương 11 tiết.


5

Chƣơng 1
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU NGOÀI NƢỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN

1.1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến chức năng của cán bộ
quản lý nhà nƣớc về kinh tế
Có nhiều quan niệm khác nhau về chức năng của CB QLNN về KT.
Nhánh tiếp cận về quản lý, quản trị chú trọng công việc mà CB quản lý phải làm.
Nhánh tiếp cận kinh tế, chính trị nhấn mạnh phạm vi can thiệp của nhà nước, lấy
đó làm căn cứ xác định chức năng của CB QLNN về KT.
Bản thân cách tiếp cận quản lý cũng bao gồm nhiều quan điểm khác
nhau. H.Fayol cho rằng, CB quản lý KT phải làm các chức năng, đó là dự
báo, lập kế hoạch, phối hợp, điều hành và kiểm tra. Ông cũng cho rằng, quản

trọng tiền ủng hộ nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ. Trường phái nhà nước
phúc lợi ủng hộ quan điểm nhà nước can thiệp mạnh vào lĩnh vực phân phối….
Dù tiếp cận theo cách nào thì điểm chung của các nhà khoa học là đều
thừa nhận nhà nước và qua đó là CB QLNN về KT phải thực hiện một số
chức năng nhất định trong quản lý nền KTTT hiện đại.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng cán bộ quản
lý nhà nƣớc về kinh tế
Hầu hết các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đều đề cập đến tố chất
của CB quản lý KT. H. Fayol đề cao các tố chất của người quản lý như sức
khỏe tốt, trí tuệ thông minh, năng lực quản lý, kiến thức chung vững vàng,
hiểu biết rộng và kinh nghiệm hoạt động chuyên môn [36, tr. 61-62].


7
Tiếp cận vấn đề QLNN trong chủ nghĩa tư bản, Max Weber cho rằng,
CB quản lý phải là những nhà chuyên môn tài giỏi, thành thạo công việc của
mình [73, tr. 113].
R. Tannenbaum và W.H. Schmidt trong tác phẩm “Làm thế nào để lựa
chọn mô thức lãnh đạo” [73, tr. 166-167], đã căn cứ theo mức độ vận dụng
chức quyền của CB quản lý để xác định rằng, có nhiều phong cách quản lý
khác nhau từ độc đoán gia trưởng, tự mình quyết định mọi vấn đề đến ủy
quyền rộng rãi cho cấp dưới ra quyết định.
R. Linkert trong tác phẩm “Mô thức mới của quản lý” [73, tr. 210], đã
khái quát hóa 4 phương thức hành động của giới quản lý, đó là: Chuyên chế
mệnh lệnh; mệnh lệnh ôn hòa; quản lý kiểu hiệp thương và quản lý với sự
tham gia của cấp dưới. Ông cũng cho rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến
hiệu quả quản lý ngoài phong cách, mà một số trong đó là: quan niệm của
người quản lý; môi trường làm việc; chuẩn mực hành vi của nhân viên; mối
quan hệ với cấp trên và cá tính của người quản lý.
F. E. Fiedler ủng hộ thuyết quyền biến và cho rằng, phong cách lãnh

cách làm chủ các biến số đó [36, tr. 194].
Các tác giả của cuốn sách “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” [40, tr.
437-438] cũng nhấn mạnh rằng, cần chú trọng đào tạo CB quản lý. Họ cho
rằng, có thể đào tạo CB bằng hai phương thức: tại chỗ (thang bậc công việc,
luân chuyển, trợ lý, ủy quyền tạm thời, tham gia ủy ban và hội đồng…) và
đào tạo tập trung các tri thức và kỹ năng cần thiết.
1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN

1.2.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến vai trò của cán bộ quản
lý nhà nƣớc về kinh tế
Về cơ bản, các công trình đã công bố ở trong nước đều đề cao vai trò
của CB QLNN về KT ở nước ta. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi


9
trọng vai trò của CB, coi CB là cái gốc của thành công và thất bại, là cầu nối
giữa Nhà nước, Đảng với nhân dân [32, tập 5, tr. 269, 240].
Luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Phan Đình Quyền với đề tài “Phát
huy vai trò quản lý KT của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay” [49] đã chứng minh Nhà nước ta có vai trò to lớn trong quản lý nền
KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), cũng có nghĩa là CB QLNN về
KT có nhiều việc để làm với tư cách người tham gia xây dựng đường lối
chiến lược, chính sách phát triển KT và trực tiếp sử dụng các công cụ quản lý
để biến các chính sách, chủ trương thành hiện thực.
Luận án tiến sĩ Kinh tế “Xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước
về KT ở các huyện ngoại thành (qua thực tế các huyện ngoại thành Hà Nội)”
[50] của tác giả Trần Huy Sáng có đề cập đến vai trò của đội ngũ công chức
QLNN về KT ở các huyện như sau:
- Đội ngũ công chức QLNN về KT là những người trực tiếp triển

môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ được giao.
Các tiêu chuẩn đó có quan hệ mật thiết với nhau. Coi trọng cả đức và
tài, đức là gốc.
Ngoài các tiêu chuẩn chung nói trên, CB lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
đoàn thể nhân dân còn phải:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công
nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển,
tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật; thuyết
phục và tổ chức nhân dân thực hiện. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ
quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.


11
- Gương mẫu về đạo đức, lối sống. Có tác phong dân chủ, khoa học, có
khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết CB.
- Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lý. Đã học tập có hệ thống
ở các trường của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân; trải qua hoạt động
thực tiễn có hiệu quả.
Cán bộ khoa học, chuyên gia còn phải:
- Có tư duy độc lập, sáng tạo, có ý thức hợp tác, say mê trong nghiên
cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ.
- Bám sát đời sống xã hội, có khả năng tổng kết thực tiễn.
- Chuyên gia đầu ngành phải có khả năng tập hợp và đào tạo CB khoa
học [1].
Theo Nguyễn Bá Dương, CB QLNN ở nước ta cần phải có các tố chất
đức và tài. Tố chất đức bao gồm: trung thành với mục tiêu, lý tưởng của
Đảng; luôn đặt lợi ích của nhân dân, của tổ chức lên trên lợi ích cá nhân, có
sự chín chắn, sâu sắc về chính trị, có nhân sinh quan, thế giới quan khoa học,

tịch Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố,
Giám đốc sở, ngành của tỉnh. Chất lượng đội ngũ CB lãnh đạo chủ chốt cấp
tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng được đánh giá về mặt cơ cấu, về phẩm chất
chính trị, đạo đức, về trình độ năng lực lãnh đạo và đề ra những phương
hướng xây dựng đội ngũ CB lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng Sông
Hồng trong thời kỳ mới.
PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm trong “Luận
cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” [70] đã trình bày các khái niệm về
CB, công chức, viên chức, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng
cao chất lượng đội ngũ CB, công chức nói chung, phân tích thực trạng đội
ngũ CB, công chức của nước ta giai đoạn 1986 - 2000 và đưa ra những kiến
nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ CB, công
chức về các phương diện số lượng, chất lượng và cơ cấu.


13
Trong Luận án tiến sĩ Kinh tế “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước” [52] của tác giả
Nguyễn Bắc Son đã đề cập chất lượng công chức được thể hiện qua các mặt
như: bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, lối sống, trình
độ nhận thức, kiến thức chuyên môn được đào tạo, năng lực công tác trong
thực tiễn, tuổi tác, tình trạng sức khỏe, ….
Luận án tiến sĩ Khoa học chính trị của tác giả Cao Khoa Bảng với đề tài
“Chất lượng đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội
quản lý trong giai đoạn hiện nay” [5] đã đưa ra quan niệm cho rằng, đội ngũ
CB diện Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội là những CB lãnh đạo, quản lý,
CB chủ chốt trong hệ thống bộ máy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể chính trị - xã hội cấp thành phố; các quận, huyện, thị ủy; các
Đảng bộ cấp trên cơ sở trực thuộc thành ủy; các sở, ban, ngành và các đơn vị

lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức” [45] đã phân tích vị
trí, vai trò của đội ngũ CB, công chức trong quản lý xã hội ở nước ta, quá
trình hình thành đội ngũ CB, công chức ở nước ta. Ngoài ra, công trình này
cũng trình bày tổng hợp có phân tích kinh nghiệm xây dựng đội ngũ công
chức của một số quốc gia trên thế giới.
Trong cuốn sách “Về chế độ công vụ Việt Nam” [27] do PGS.TS Nguyễn
Trọng Điều (chủ biên) đã đưa ra những kết quả nghiên cứu sâu sắc về công
chức, công vụ và hệ thống hóa cơ sở khoa học để hoàn thiện chế độ công vụ ở
Việt Nam hiện nay. Các tác giả cũng đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của
chế độ công vụ và cải cách công vụ ở Việt Nam qua một số thời kỳ, có tham chiếu
các mô hình công vụ của các nhà nước tiêu biểu cho các thể chế chính trị khác.
Đồng thời các tác giả cũng đề xuất lộ trình hoàn thiện chế độ công vụ Việt Nam
trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Nhà nước của dân, do
dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Luận án tiến sĩ Kinh tế của tác giả Trần Anh Tuấn với đề tài “Hoàn
thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam trong điều kiện phát triển và hội


15
nhập quốc tế” [66] đã đưa ra những đặc trưng của chế độ công chức gồm: Thi
cử công khai, chọn dùng người giỏi, thông qua kỳ thi cạnh tranh; sát hạch
nghiêm túc, thưởng người giỏi, phạt người kém; có chế độ cấp bậc nghiêm
túc; làm việc theo luật và tuân thủ theo pháp luật; có hệ thống quản lý đồng
bộ; quy định và coi trọng tác phong, kỷ luật, đạo đức chức nghiệp. Đồng thời
tác giả cũng cho rằng, nội dung của thể chế quản lý công chức chính là các
quy định về quản lý nhân sự và nguồn nhân lực trong các cơ quan Nhà nước;
nội dung của thể chế quản lý công chức bao gồm các quy định về quy hoạch,
kế hoạch xây dựng đội ngũ công chức, về chức danh tiêu chuẩn công chức, về
tuyển dụng công chức, các vấn đề liên quan đến sử dụng công chức, về đánh
giá và phân loại công chức, về đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD) công chức, về chế

những nhận xét về những thành công và những vấn đề còn tồn tại. Đặc biệt,
luận án đã đề xuất một số giải pháp có thể kế thừa trong đổi mới quy hoạch,
đào tạo, sử dụng đội ngũ CB quản lý KT.
Nâng cao chất lượng đội ngũ CB quản lý KT cũng đã được một số công
trình đề cập. Chẳng hạn như GS, TS Vũ Văn Hiền trong cuốn “ Xây dựng đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [30] đã đến cập đến quan điểm, chủ
trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng đội ngũ CB lãnh
đạo quản lý. Các tác giả cũng kiến nghị đào tạo và sử dụng những CB có tư
duy đổi mới, năng động, có kiến thức khoa học, kinh tế, luật pháp, có năng
lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
cao; đổi mới và khoa học hoá các khâu của công tác CB, xây dựng tiêu chuẩn
người CB lãnh đạo, quản lý về phẩm cách, trình độ, tư chất; xây dựng quy
hoạch CB những năm trước mắt, gắn liền với việc sắp xếp CB lãnh đạo, quản
lý, thực hiện luân chuyển CB để vừa bảo đảm sự ổn định và phát triển của nơi
CB đi, vừa tạo điều kiện để CB tại chỗ phát triển, giúp CB có triển vọng được
luân chuyển rèn luyện, trưởng thành, thực hiện chính sách thích hợp để bảo
đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần cho đội ngũ CB. Cải cách tiền



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status