TIỂU LUẬN, TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC: Sai phạm trong việc lập hồ sơ để hoàn thuế giá trị gia tăng tại một công ty kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản - Pdf 42

Bộ Tài chính
---------Lớp Bồi dỡng kiến thức quản lý nhà nớc chơng trình chuyên viên chính
(Từ ngày 15-4-2002 đến ngày 12-7-2002)

Tiểu luận

Sai phạm trong việc lập hồ sơ để hoàn
thuế giá trị gia tăng tại một công ty kinh
doanh xuất nhập khẩu nông sản

Hà Nội, ngày 03 tháng 06 năm 2016


Đặt Vấn đề
Tiếp tục thực hiện cải cách thuế bớc II, một loạt các văn bản pháp luật
về thuế đã đợc ban hành và đa vào áp dụng nh Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu (1991), Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp (1993), Luật Thuế chuyển
quyền sử dụng đất (1994), Luật Thuế Giá trị gia tăng (1997), Luật Thuế thu
nhập doanh nghiệp (1999)... Trong đó Luật Thuế gây xôn xao, đợc d luận
quan tâm và đợc phổ biến, tuyên truyền nhiều nhất nhiều nhất có lẽ là Luật
thuế giá trị gia tăng đợc Quốc hội khoá IX thông qua ngày 10/5/1997, có hiệu
lực thi hành từ 1-1-1999 thay thế cho Luật thuế doanh thu. Sở dĩ thuế giá trị
gia tăng (GTGT) đợc quan tâm nhiều nhất là vì đây là một loại thuế gián thu,
đánh vào ngời tiêu dùng, có phạm vi áp dụng rất rộng bao trùm hầu hết các
hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và là một bớc thay đổi căn bản
so với thuế doanh thu trớc đây.
Một trong những điều kiện quan trọng để thực thi luật thuế giá trị gia
tăng là việc thực hiện tốt công tác kế toán, quản lý hoá đơn chứng từ trong các
giao dịch kinh doanh giữa các doanh nghiệp, cũng nh trong phạm vi từng
doanh nghiệp cụ thể.
Qua hơn 3 năm thực hiện, Luật thuế GTGT đã phát huy đợc tác dụng

hoá đơn GTGT, gồm 900 bộ.
Hai doanh nghiệp kinh doanh bán hoá đơn với số lợng lớn là Công ty
Hng Trung, số 77/15, quốc lộ 13 phờng 26, quận Bình Thạch, Tp.HCM đã xuất
tổng cộng 1.200 hoá đơn khống và Công ty cổ phần Đăng Quang, 491/27KL,
Lê Văn Sỹ phờng 12, quận 3 đã xuất đợc 390 hoá đơn khống.
/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc

3


Trớc tình hình trên, với t cách là cán bộ hoạch định chính sách tài chính
và từ những kinh nghiệm nghiên cứu thực tế của bản thân, sau khi tham gia lớp
bồi dỡng Quản lý Nhà nớc dành cho chuyên viên chính, tôi đã chọn nội dung:
Sai phạm trong việc lập hồ sơ để hoàn thuế giá trị gia tăng tại công ty
kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản làm đề tài tiểu luận cuối khoá.
Mục đích nghiên cứu là thông qua tình huống thực tế về một trờng hợp
vi phạm pháp luật trong sử dụng hoá đơn, chứng từ nhằm hợp thức hoá việc
hoàn khống tiền thuế giá trị gia tăng tại ba công ty xuất nhập khẩu nông sản
tại địa bàn Hà nội, qua đó tìm hiểu những nguyên nhân và kẽ hở trong các quy
định hiện hành về hoàn thuế để đa ra các giải pháp khả thi nhằm tăng cờng
công tác quản lý nhà nớc về Thuế GTGT.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 3 phần:
Phần I- Nội dung tình huống
Phần II- Phân tích tình huống
Phần III- Kiến nghị
Phần INội dung tình huống

Đầu tháng 4/2002, Cục cảnh sách điều tra (Bộ công an) đã khởi tố vụ án
làm hồ sơ khống XNK nông sản qua cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) để
chiếm đoạt hàng tỷ đồng tiền hoàn thuế GTGT, liên quan tới 3 doanh nghiệp


5


Luật thuế GTGT ra đời cũng là lúc việc xác minh hóa đơn để khấu trừ,
hoàn thuế chính xác đã trở nên bức thiết, đợc tiến hành gần nh nhất loạt và đại
trà tại các cơ quan thuế trong cả nớc. Mục đích nh vậy nhng không phải lúc
nào trên thực tế cũng thực hiện một cách đúng đắn. Lợi dụng sự thông thoáng
của Luật Doanh nghiệp, hàng loạt các công ty ma đã ra đời, chủ yếu để mua
hoá đơn tài chính rồi đem bán lại, tiếp sức cho những đối tợng hoạt động kinh
doanh trốn thuế hoặc lập hồ sơ xin hoàn thuế GTGT rút tiền Nhà nớc với trị
giá hàng trăm tỷ đồng. Trờng hợp đợc nêu trong tình huống trên chỉ là một
trong vô vàn những vi phạm thờng xuyên xảy ra trong đời sống hàng ngày, mà
nguyên nhân của những sai phạm đó cần phải đợc làm sáng tỏ để có biện pháp
đối phó kịp thời.
1. Một trong những nguyên nhân của tình trạng bán hoá đơn giả, sử
dụng hoá đơn khống để rút tiền Nhà nớc ngày càng tăng là do kẽ hở về luật
pháp trong xử lý hình sự hành vi sử dụng hoá đơn bất hợp pháp. Cụ thể trong
Luật hình sự, hành vi trốn thuế từ 50 triệu đồng trở lên đợc xác định là tội trốn
thuế nghiêm trọng, còn hành vi sử dụng hoá đơn khống rút hàng tỷ đồng của
Nhà nớc thì cha có quy định biện pháp xử lý thích đáng.
Trong trờng hợp chiếm đoạt thuế diễn ra ở tình huống trên, thủ đoạn
chính đợc sử dụng là lợi dụng qui định về mua hàng nông, lâm, thuỷ sản cha
qua chế biến của ngời sản xuất chỉ cần bảng kê nguồn hàng thu mua mà không
cần xác nhận nguồn hàng địa chỉ ngời bán, doanh nghiệp đã khai khống, lập
bảng kê giả để làm chứng từ khấu trừ thuế GTGT đầu vào, sử dụng hoá đơn ở
chợ đen để lập các hợp đồng mua bán nội địa giả bằng cách ký hợp đồng mua
bán qua nhiều thủ đoạn trớc khi xuất khẩu. Mỗi cung đoạn đều làm giả phiếu

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc


7


gian lận hoá đơn GTGT. Một số ý kiến nhận xét, nếu không có sự tiếp tay của
một số cán bộ biến chất từ các ngành chức năng thì hiện tợng này không phát
triển mạnh nh hiện nay, do đó, cần thành lập một lực lợng thanh tra đặc nhiệm
chuyên trách công việc chống gian lận thuế.
Thực tế, hầu hết các trờng hợp vi phạm chế độ quản lý và sử dụng hợp
đồng không đợc chuyển về đúng chỗ (Phòng ấn chỉ- cơ quan thuế) để xử lý
theo quy định mà chỉ xử lý hành chính một cách chiếu lệ, không đủ sức ngăn
chặn trò phi tang liên lu. Trong trờng hợp sai phạm của các Công ty XNK, du
lịch và đầu t xây dựng Hà Nội, công ty TNHH Vĩnh Trờng và Phớc Thắng, qua
kiểm tra thì ngày giờ trong hoá đơn và trình tự vào sổ công văn đến vênh nhau
rất lớn. Đây là trờng hợp đối phó với các cơ quan chức năng, để vi phạm một
nguyên tắc hành chính sơ đẳng nhất: không vào sổ công văn đúng thời điểm
phát sinh nghiệp vụ kinh tế ghi trong hoá đơn.
Mặt khác, trong sai phạm trên, do giá trị tiền thuế trên phiếu xác minh
(liên 2), có nhiều trờng hợp giá trị quá nhỏ, dới 10 nghìn đồng (do thu mua
nông sản có giá trị thấp), nên đã có nhiều ý kiến nghi ngờ về tính hiệu quả của
việc xác minh tính đúng đắn của các hoá đơn, bởi hoàn toàn không tơng xứng
với công sức, giấy mực đã bỏ ra. Từ đó, đã dẫn đến tâm lý buông lỏng trong
khâu quản lý hoá đơn chứng từ - một căn cứ quan trọng để xác định thuế
GTGT.
2. Một nguyên nhân khác tạo điều kiện cho sai phạm tại các công ty
trên là do trong thời gian qua, sự thông thoáng trong việc cấp phép kinh doanh
đã tạo ra sự bùng nổ các doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,
hợp tác xã và các hộ kinh doanh và ngợc lại các doanh nghiệp, đơn vị, cơ sở
này cũng biến mất rất nhiều. Xét trên khía cạnh kinh tế thị trờng thì đó cũng
/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc

9


Qua công tác kiểm tra tình hình sử dụng biên lai, hoá đơn tại các công
ty TNHH Vĩnh Trờng và Phớc Thắng, cơ quan chức năng đã phát hiện đợc lịch
sử của các trờng hợp vi phạm chế độ quản lý, sử dụng biên lai, hoá đơn. Các vi
phạm đó là các thủ đoạn lập hoá đơn khống đối với các hoạt động kinh doanh
không có thật, bỏ kinh doanh nhng không thanh toán, quyết toán hoá đơn; làm
mất biên lai, hoá đơn nhng không thông báo với cơ quan thuế; mua hoặc bán
hoá đơn trái phép hoặc sử dụng hoá đơn không hợp pháp để thanh, quyết toán
tài chính, khấu trừ thuế, hoàn thuế.
Từ thực tế trên, việc thí điểm phân loại doanh nghiệp trong hoàn thuế đã
đợc triển khai ở một số địa phơng. Hà Nội là một trong những địa phơng đi
đầu trong công tác này. Biện pháp này có thể giúp việc hạn chế sự chiếm đoạt,
làm thất thoát tiền thuế của Nhà nớc trong quá trình hoàn thuế GTGT. Nội
dung thực hiện là việc tiến hành phân loại các doanh nghiệp để tiến hành quy
trình hoàn thuế theo xu hớng u tiên các đơn vị chấp hành tốt pháp luật thuế và
ngợc lại.
Cụ thể, ngành thuế lập danh sách các đơn vị có hồ sơ yêu cầu hoàn thuế
theo một cách thức nhất định để quản lý chặt chẽ việc hoàn thuế. Theo các quy
định của Luật thuế GTGT, Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT và các quy định khác nh
Thông t số 122/2000/TT-BTC ngày 01-01-2001 của Bộ tài chính hớng dẫn thi
hành Nghị định 79/2000/NĐ-CP, việc hoàn thuế đợc tiến hành theo quy trình
hoàn thuế trớc - kiểm tra sau. Tuy nhiên, thực tế sau 3 năm thực hiện quy trình
hoàn thuế này cho thấy, việc kiểm tra sau hoàn thuế theo quy trình làm phát
sinh nhiều vấn đề, tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm nh việc chiếm đoạt
tiền thuế, truy thu thuế khống của các doanh nghiệp. Báo cáo cho thấy, các vi
phạm phổ biến xảy ra theo các phơng thức, thủ đoạn nh: các doanh nghiệp bán
/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc


11


doanh của một số ngành, nên nhiều năm qua, ngành thuế cũng đã cho phép
các doanh nghiệp sử dụng hoá đơn tự in. Tuy vậy, điều này rất hạn chế do
trình độ quản lý của ngành thuế trong thời gian trớc đây còn nhiều hạn chế,
hơn nữa các doanh nghiệp cũng ngại các thủ tục rờm rà, phức tạp và chi phí
cao. Do đòi hỏi của quá trình cải cách hành chính thuế, năng lực quản lý của
ngành thuế đã đợc nâng lên nhiều, giảm thiểu các thủ tục hành chính không
cần thiết. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng đã lớn mạnh cả về quy mô tài
chính, trình độ nhận thức, trình độ quản lý kinh doanh và cùng với quá trình
phát triển đó là các nhu cầu phát sinh. Thay vì sử dụng hoá đơn do Bộ Tài
chính phát hành thống nhất trong cả nớc, cho mọi mặt hàng (không tính toán
tới đặc thù từng ngành), làm cho các doanh nghiệp đôi khi gặp phải những khó
khăn trong giao dịch, các doanh nghiệp có thể sử dụng hoá đơn riêng do mình
tự thiết kế, phù hợp với quy định lại dễ giao dịch và tính toán chi phí đối với
đặc thù hàng hoá, dịch vụ của mình.
Thực tế cho thấy vấn đề hoá đơn tự in cũng vẫn còn những kẽ hở mà
ngành Thuế cần có biện pháp khắc phục. Theo phản ánh của Cục Thuế một số
tỉnh, việc sử dụng hoá đơn tự in của các đơn vị, nhất là khâu lu thông đang có
vấn đề. Trong trờng hợp sai phạm ở công ty TNHH Phớc Thắng một tờ hoá
đơn đã đợc sử dụng nhiều lần mà số thuế phát sinh lại không thu đợc. Do vậy,
công ty TNHH Phớc Thắng có số hoá đơn thừa và bán lại cho công ty XNK,
du lịch và đầu t xây dựng Hà Nội để công ty XNK, du lịch và đầu t xây dựng
Hà Nội hợp thức hoá hồ sơ xuất khẩu hàng hoá để truy thu thuế. Đây là một
ví dụ nhỏ trong hàng vạn trờng hợp, để thấy việc khuyến khích sử dụng hoá
đơn tự in của doanh nghiệp cần đi đôi với những biện pháp quản lý chặt chẽ
hơn.


/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc

13


Trờng, không kinh doanh mà đi bán hoá đơn. Sau khi bị phát hiện, công ty này
lập tức giải tán. Chủ công ty đó dới danh ngời khác thành lập công ty mới (vẫn
lấy tên là Vĩnh Trờng) xin cấp hoá đơn để tiếp tục kinh doanh. Cục Thuế TP.
Hồ Chí Minh biết rõ nh vậy nên không cấp hoá đơn. Ngời chủ này liền khiếu
nại, cho rằng: Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh không làm đúng chính sách, gây
khó dễ... Trờng hợp này, Cục thuế TP. Hồ Chí Minh cũng rất khó xử vì không
có quy định cụ thể nào về vấn đề này. Rất may là ông chủ này đã đợc cơ quan
pháp luật phát hiện và đa ra toà.
Đánh giá tình hình và rút ra những bài học trong công tác ấn chỉ thuế,
Tổng cục Thuế đã chỉ thị cho các đơn vị Cục Thuế các địa phơng tích cực thực
hiện các chỉ đạo của Tổng cục. Theo đó, để công tác quản lý ấn chỉ thuế phục
vụ tốt cho việc quản lý thuế, phí, lệ phí và tiền phạt, các địa phơng cần làm
tiếp tục tăng cờng kiểm tra, kiểm soát việc phát hành, sử dụng hoá đơn và tem
hàng nhập khẩu; xử lý kịp thời, dứt điểm các vụ tổn thất ấn chỉ tồn đọng và
mới phát sinh đúng quy định; kết hợp chặt chẽ việc bán hoá đơn với công tác
quản lý thuế; phát hiện kịp thời các tổ chức, cá nhân bỏ kinh doanh không
thanh toán, quyết toán hoá đơn để ngăn chặn có hiệu quả các hành vi lợi dụng
hoá đơn để trốn thu, kê khai khấu trừ thuế để chiếm đoạt tiền thuế của nhà nớc. Một công tác mà các đơn vị địa phơng trong cả nớc cần đặc biệt coi trọng
là cần tích cực phối hợp xác minh hoá đơn và thông báo kết quả xử lý vi phạm
đến các đơn vị liên quan để phục vụ kịp thời cho công tác tính thuế, khấu trừ
thuế, hoàn thuế GTGT.

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc

14

hàng. Khi bên mua xuất trả lại hàng hóa do không đúng quy cách chất lợng
(cho bên bán) thì hai bên cùng lập biên bản xác định rõ nguyên nhân trả lại
hàng. Số lợng, giá trị hàng hoá và số thuế GTGT của hàng hóa trả lại chi tiết:
giá cha có thuế, thuế GTGT, tổng giá thanh toán có thuế theo hoá đơn bên bán
đã xuất, số ký hiệu, ngày tháng của hoá đơn và gửi kèm hàng hoá xuất trả lại.
Căn cứ vào hoá đơn bán hàng và biên bản đã đợc lập, bên mua hạch toán giảm
giá vốn. Tơng tự nh vậy, bên bán điều chỉnh doanh số bán ra và số thuế GTGT
đã kê khai, bằng cách ghi số âm theo hoá đơn xuất trả mẫu bảng kê hoá đơn
chứng từ hàng hoá bán ra (mẫu số 02/GTGT), để trừ bớt số thuế GTGT đầu ra
trong tháng và giảm trừ doanh thu.
- Trờng hợp thứ hai, khi ngời mua là đối tợng sử dụng hoá đơn GTGT,
ngời bán sử dụng hoá đơn thông thờng. Khi bên mua xuất trả lại hàng hoá do
không đúng quy cách, chất lợng cho bên bán thì bên mua cùng bên bán lập
biên bản xác định rõ nguyên nhân trả lại hàng, số lợng, giá trị hàng hoá và số
thuế GTGT đã tính khấu trừ của số hàng hoá ghi trên hoá đơn mua hàng. Trên
cơ sở đó, bên mua xuất hoá đơn GTGT ghi rõ loại hàng hoá, số lợng, giá trị
hàng trả lại theo hoá đơn bên bán đã xuất chỉ ghi tổng giá hàng hoá, không ghi
dòng thuế GTGT (số ký hiệu, ngày tháng của hoá đơn) và gửi kèm hàng hoá
xuất trả lại. Với hoá đơn này làm căn cứ, bên mua hạch toán giảm giá vốn và
giảm trừ số thuế GTGT đã khấu trừ, bằng cách ghi số âm theo mẫu bảng kê
/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc

16


hàng hoá, dịch vụ mua vào hoá đơn bán hàng (mẫu số 05/GTGT), để trừ bớt
giá trị hàng hoá mua vào và số thuế GTGT đầu vào trong tháng. Bên bán điều
chỉnh doanh số hàng hoá bán ra và giảm trừ doanh thu.
1.2. Tiếp theo là vấn đề xung quanh việc sử dụng hoá đơn đối với hàng
bán thông qua đại lý hởng hoa hồng. Cũng theo Thông t 122, mục IV, phần B

Thông t số 122/2000/TT-BTC đã quy định các cơ sở kinh doanh khi mua bán
hàng hoá, dịch vụ phải thực hiện chế độ hoá đơn chứng từ theo quy định của
pháp luật; trong đó hớng dẫn cụ thể một số trờng hợp đợc sử dụng và ghi hoá
đơn. Căn cứ vào phơng thức tổ chức kinh doanh và tuỳ theo từng tình huống
cụ thể phát sinh tại cơ sở kinh doanh, các đơn vị thuế hớng dẫn thực hiện theo
quy định hiện hành.
2. Về công tác phân loại doanh nghiệp trong hoàn thuế:
Phân loại các đối tợng nộp thuế (các doanh nghiêp, hộ kinh doanh) là
việc xắp xếp các doanh nghiệp theo thứ tự u tiên hoàn thuế trên cơ sở xem xét
đánh giá ý thức tự giác trong việc chấp hành các quy định pháp luật về thuế
nói chung, về thuế GTGT noi riêng. Biện pháp này sẽ nhằm giải quyết việc
hạn chế các doanh nghiệp lợi dụng các chính sách của Nhà nớc về hoàn thuế
để trốn, tránh, chiếm đoạt tiền thuế gây tổn thất cho Nhà nớc. Việc phân loại
này sẽ cho cơ quan thuế một hồ sơ về quá trình đóng góp nghĩa vụ thuế của
các doanh nghiệp đối với ngân sách nhà nớc.
Hơn nữa, xuất phát từ việc hệ thống chính sách thuế và công tác quản lý
hoá đơn chứng từ và công tác kế toán thống kê còn yếu kém, còn nhiều điểm
cha phù hợp và dễ tạo ra kẽ hở để một số doanh nghiệp lợi dụng, thì việc tiến
hành phân loại doanh nghiệp để thực hiện xét hoàn thuế là việc làm cần thiết.
/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc

18


Tuy nhiên để áp dụng việc phân loại doanh nghiệp trong phạm vi toàn
quốc, việc phân loại nên đợc thực hiện thí điểm ở một số địa phơng để từ đó
rút ra các bài học kinh nghiệm. Cần theo dõi sát và tiếp thu các thông tin từ
thực tế triển khai thí điểm để tổng hợp và đề ra các biện pháp hợp lý.
Hiện nay ở Hà Nội, có một vấn đề phát sinh. Hầu hết các doanh nghiệp
vi phạm mà Cục thuế có quyết định thu hồi tiền hoàn thuế đều không nộp trả

Điều này giúp cho việc tuân thủ các quy định, quy trình của các đơn vị thuế
địa phơng đợc thực hiện rất nghiêm túc và thống nhất. Việc tuân thủ chặt chẽ
các quy trình quản lý sẽ giúp cho các Cục Thuế phát hiện kịp thời, theo dõi
chặt chẽ số lợng ký hiệu từng loại hoá đơn do các tổ chức, cá nhân bỏ kinh
doanh, không thanh, quyết toán hoá đơn mang theo. Từ đó, tạo điều kiện cho
việc ngăn chặn có hiệu quả việc lợi dụng hoá đơn để buôn bán phi pháp,
chiếm đoạt tiền thuế; tổ chức tốt việc xác minh hoá đơn kịp thời, chính xác và
phối hợp với các Cục Thuế liên quan, ngăn chặn đợc nhiều trờng hợp sử dụng
các hoá đơn bất hợp pháp trong kê khai khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT.
Để làm tốt công tác quản lý ấn chỉ trong phạm vi cả nớc, toàn nghành
Thuế cần tổ chức hội nghị tập huấn nghiệp vụ quản lý ấn chỉ thuế cho các cán
bộ quản lý ấn chỉ Cục Thuế các tỉnh, thành phố trong cả nớc. Nội dung, mục
đích và yêu cầu của hội nghị tập huấn về công tác quản lý hóa đơn tự in, nhằm
hớng dẫn cho cán bộ Thuế các cấp triển khai thực hiện chủ trơng về quản lý
đối với việc sử dụng hóa đơn tự in, từ đó tuyên truyền hớng dẫn và thực hiện
duyệt mẫu hóa đơn, đăng ký, quản lý, sử dụng hóa đơn tự in ở địa phơng theo
quy định.
Cần phải tổng hợp những nội dung thông tin trong công tác quản lý hóa
đơn tự in, đánh giá mặt u điểm, tồn tại về hóa đơn tự in hiện nay và trong đăng
ký mẫu sử dụng, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tự in hóa đơn cũng nh trách
/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc

20


nhiệm của ngành thuế địa phơng duyệt mẫu các loại hóa đơn tự in hiện nay
bao gồm: Hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng, hóa đơn cho thuê tài chính, hóa
đơn in ra từ máy tính tiền...
Một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý ấn chỉ là
việc cần phải thờng xuyên phát hiện và thông báo nhanh hóa đơn không còn

hợp mất hóa đơn, Cục Thuế tổng hợp nhanh (Phòng ấn chỉ kết hợp với Phòng
Xử lý thông tin) báo cáo số hóa đơn, loại hóa đơn do Tổng cục Thuế bằng
cách truyền mạng vi tính và đồng thời bằng văn bản. Tổng cục Thuế tổng hợp
ngay trong ngày, thông báo bằng truyền mạng, đồng thời bằng văn bản cho
các Cục Thuế và bằng cách đó Cục Thuế sẽ thông báo cho các Chi cục Thuế.
Định kỳ hàng tuần, tháng Cục Thuế, Chi cục Thuế tổng hợp hệ thống đầy đủ
các thông báo để cung cấp cho hoạt động thanh tra, kiểm tra. Nh thế chúng ta
vừa có thông tin chính xác, nhanh chóng, có hệ thống khoa học và các loại hóa
đơn không còn giá trị sử dụng. Khi cần đối chiếu nhanh, các đơn vị sẽ đợc
cung cấp thông qua hệ thống xử lý thông tin ở Cục, Chi cục Thuế. Thực hiện
tốt biện pháp này, đồng thời tăng cờng công tác kiểm tra, xử lý nghiêm khắc
các đối tợng làm mất hóa đơn, chúng tôi tin chắc rằng các hành vi lợi dụng
hóa đơn không còn giá trị sử dụng nhng đa vào thanh quyết toán tài chính,
thuế sẽ đợc đẩy lùi.
4. Về phối kết hợp các cơ quan chức năng trong quản lý hóa đơn,
chứng từ:
Hiện nay, số hoá đơn, chứng từ thất thoát đang trôi nổi trên thị trờng là
tơng đối nhiều, điều này dễ tạo điều kiện cho các vi phạm pháp luật có liên
quan đến hoá đơn, chứng từ nh nộp thuế, và hoàn thuế. Trách nhiệm không chỉ
cơ quan Thuế, mà phải xác định đây là trách nhiệm của cả các cơ quan giám
sát thi hành pháp luật.

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc

22


Theo số liệu của Tổng cục Thuế tại Công văn 1255/TCT- AC ngày
21/3/2002 thì tính đến ngày 12/3/2002 tại 59/61 tỉnh thành đã có 1.218 DN t
nhân, Công ty TNHH, hộ cá thể nghỉ, bỏ kinh doanh không thanh toán hóa

Kết luận

Việc áp dụng Thuế GTGT là một thành công lớn trong tiến trình cải
cách thuế ở nớc ta. Tuy không tránh khỏi những thiếu sót và bất cập trong quá
trình triển khai thực hiện, song thuế GTGT là một bớc phát triển căn bản trong
kỹ thuật thu thuế. Thuế GTGT không đánh vào phần giá trị đã đánh thuế ở
khâu trớc, tránh đợc tình trạng thuế đánh chồng lên thuế nh thuế doanh thu trớc đây, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Tổng số thu thuế GTGT không
ngừng tăng qua các năm. Bên cạnh u điểm trên, Thuế GTGT cũng có những
nhợc điểm nhất định, việc hạch toán và quản lý thuế nói chung là tơng đối
phức tạp, phải có hoá đơn, chứng từ trong mua bán hàng hoá, dịch vụ, phải
theo dõi đợc thuế đầu vào và thuế đầu ra. Ngoài ra, quy định cho phép hoàn
thuế một mặt khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích sự phát triển mạnh mẽ
của thị trờng trong nớc, mặt khác cũng là tạo điều kiện cho các hành vi gian
lận, vi phạm các quy định về thuế.

Thời gian qua, cùng với việc bổ sung, sửa đổi Luật thuế GTGT, các quy
định về hoàn thuế cũng liên tục đợc điều chỉnh, nhng trên thực tế sự gian lận
trong quá trình hoàn thuế có chiều hớng gia tăng cả về số lợng cũng nh quy
mô. Tình trạng này có nhiều nguyên nhân, xuất phát từ những quy định thiếu
/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/bfq1493018632-105412314930186323997/bfq1493018632.doc

24


chặt chẽ của hệ thống pháp luật (nh Luật Doanh nghiệp, Bộ luật hình sự) cũng
nh quy định của Luật thuế GTGT cha phù hợp với trình độ phát triển kinh tế
và điều kiện để thực thi luật (nh vấn đề quản lý và sử dụng hoá đơn); từ những
chủ trơng của Nhà nớc (khuyến khích xuất khẩu, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp)
đến việc triển khai thực hiện (áp dụng cơ chế hậu kiểm) để các doanh nghiệp
lợi dụng, gian dối, cấu kết với một số cán bộ công chức thoái hoá, biến chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status