MỞ ĐẦU
Thời gian như “bóng câu qua cửa”, đến lúc sắp phải nói lời chia tay tôi mới cảm
nhận được hết những tình cảm, những điều quí giá mà tôi có được từ lớp bồi dưỡng kiến
thức quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên chính.
Thực hiện chủ trương cải cách của Thủ tướng Chính phủ, quyết định số
161/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban hành ngày 04/8/2003 và Quyết
định số 13/2006/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ ngày 06/10/2006 Ban hành quy định các
chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước đối với cán
bộ, công chức (giai đoạn 2006 – 2010), Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ phối
hợp với Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà
nước ngạch chuyên viên chính tại trường Chính trị Thành phố Cần Thơ từ tháng 6
đến tháng 8 năm 2009.
3 tháng qua, tôi và các học viên của lớp học được truyền đạt 3 khối kiến thức
lớn: Nhà nước và pháp luật, hành chính Nhà nước và công nghệ hành chính, quản lý
Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực. Gồm có 27 chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về hệ
thống cơ quan Nhà nước, pháp luật và pháp chế XHCN, kỹ năng giao tiếp trong quản
lý hành chính Nhà nước, tin học hóa hành chính, quản lý Nhà nước về kinh tế, quản
lý Nhà nước về đô thị, tổng quan về các vấn đề xã hội…Những kiến thức, thông tin
của thầy cô và các học viên cùng lớp đã giúp tôi cập nhật, nắm chắc hơn kiến thức cơ
bản về quản lý Nhà nước, cũng như những kỹ năng, kinh nghiệm thực tiễn trong từng
lĩnh vực để từ đó ứng xử và xử lý công việc nhanh, hiệu quả, đúng theo chủ trương,
đường lối của Đảng và nhà nước, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, chiến lược, thể
chế của Nhà nước về phân cấp quản lý, tổ chức và quản lý có hiệu quả công tác bảo
đảm vệ sinh môi trường, nhất là ở khu đô thị, nơi tập trung dân cư đông đúc, thành phố
Cần Thơ đã xây dựng và tổ chức thực hiện thành công nhiều dự án, quy hoạch, kế
hoạch nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường trên địa bàn Thành phố. Chẳng hạn như:
dự án Cần thơ xanh, dự án xử lý nước thải, dự án nâng cấp đô thị. Nhiều hoạt động có
ý nghĩa khác được thực hiện thường xuyên như ngày chủ nhật xanh, thứ bảy tình
nguyện, thi đua xây dựng khu dân cư xanh- sạch- đẹp,…
1
thẩm quyền của thành phố trình báo, yêu cầu có biện pháp xử lý nhà máy của công ty
TNHH Đ thuộc tập đoàn NV hoạt động sản xuất xả thải trực tiếp ra sông, rạch gây ô
2
nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước, sức khỏe của
các hộ gia đình nơi đây. Qua khảo sát, có thể thấy diễn biến vụ việc như sau:
Tập đoàn NV là đơn vị đứng đầu trong làng thủy sản Việt Nam, Nhà máy của
công ty TNHH Đ thuộc tập đoàn NV chuyên chế biến sản phẩm tra xuất khẩu, thức
ăn gia súc, dầu cá, bột cá… đi vào hoạt động từ tháng 2 năm 2006 tại khu công
nghiệp - tiểu thủ công Thốt Nốt. Ngày nhà máy được khánh thành, không chỉ lãnh
đạo chính quyền sở tại mà hầu hết người dân ở địa phương đều rất vui mừng. Người
lao động có thêm việc làm, những hộ nuôi cá tra ở địa phương cảm thấy nhẹ lo vì đã
có đầu ra… Đầu năm 2007, tập đoàn NV tiếp tục đầu tư xây dựng khu nhà xưởng
mới, công suất 700 tấn cá nguyên liệu/ngày. Đến tháng 7 năm 2008 nhà máy của
Công ty D & A bắt đầu hoạt động. Chưa hết mừng, nỗi lo sầm sập đến, ngủ một đêm
thức dậy ra sông lấy nước, bà con không khỏi giật mình. Nước bị đổi màu, mặt nước
toàn mỡ cá, bốc mùi tanh nồng. Mùi hôi thối từ khu sản xuất lan rộng gây buồn nôn,
khó chịu. Bà con phản ánh nhưng công ty vẫn thải nước thải trực tiếp ra vàm rạch
Rạp và sông Hậu. Nhà ở cách xa nơi sản xuất hàng cây số vẫn thấy hôi. Người dân ở
Thới Thuận đành phải làm đơn trình báo vụ việc với cơ quan quản lý Nhà nước ở địa
phương. Chính quyền và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở quận cử cán bộ đến
làm việc với lãnh đạo của công ty, nhưng người đại diện của đơn vị viện lý do không
tiếp. Tuần sau, đoàn kiểm tra của địa phương do Chánh thanh tra Sở Tài nguyên &
Môi trường thành phố làm trưởng đoàn đến công ty TNHH Đ kiểm tra toàn bộ khu
sản xuất và nơi tiếp giáp với bờ sông. Kết quả kiểm tra cho thấy những điều bà con
phản ánh là có thật. Đoàn kiểm tra còn phát hiện đơn vị này chưa có báo đánh gia tác
động môi trường và trong khu vực sản xuất rộng lớn hàng chục ngàn mét vuông
không có hệ thống xử lý nước thải dù là đơn giản nhất. Toàn bộ nước thải chưa qua
xử lý theo rãnh nước xả thẳng ra sông, rạch. Tại khu nhà xưởng chế biến cũng không
trẻ em phải nhập viện do bị sốt, tiêu chảy và mắc các bệnh về đường hô hấp.
Tại kỳ họp HĐND thành phố Cần Thơ lần thứ 9, cử tri và các đại biểu
HĐND liên tục đề đạt ý kiến, chất vấn lãnh đạo UBND và Sở Tài nguyên & Môi
trường thành phố. Đoàn giám sát của HĐND thành phố, Chánh thanh tra Sở Tài
nguyên & Môi trường đã đến giám sát, yêu cầu lãnh đạo công ty thực hiện đúng
những cam kết bảo vệ môi trường như đã nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi
trường. Báo, đài liên tục phản ánh nguy cơ môi trường sống ở các khu dân cư gần
khu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thốt Nốt đang dần bị hủy diệt do nguồn nước
4
thải từ nhà máy của 2 công ty TNHH Đ và A, vi phạm nghiêm trọng các quy định về
bảo vệ môi trường.
Mỗi ngày, hai khu nhà xưởng này sản xuất hơn 1.000 tấn cá nguyên liệu, thải
ra khoảng 7.500m3 nước thải. Nếu hoạt động hết công suất khu xử lý nước thải tại
đây cũng chỉ xử lý được 3.500m3/ngày đêm. Như vậy, vẫn còn một khối lượng lớn
nước thải chưa qua xử lý thải trực tiếp xuống sông, rạch.Và theo phản ánh của người
dân địa phương, hệ thống xử lý nước thải của công ty TNHH Đ vận hành không liên
tục vì nhiều lúc các đường nước xả thải đều đầy máu và mỡ cá. Theo ước tính của
giới chuyên môn thì chi phí điện và hóa chất cho xử lý nước thải khá tốn kém,
khoảng 30 triệu đồng/ ngày đêm....
Như vậy, tình huống trên chỉ ra một thực trạng về sự cố tình vi phạm, mặc dù
đã bị xử lý vi phạm hành chính nhiều lần của các doanh nghiệp nói chung, của Công
ty D & A nói riêng và thiếu những động thái khắc phục có hiệu quả. Nhìn chung, có
thể lý giải hiện tượng này theo các nguyên nhân cơ bản như sau:
Thứ nhất, những nguyên nhân khách quan quyết định hoặc ảnh hưởng trực
tiếp, gián tiếp đến tình trạng vi phạm của Công ty D & A và tình trạng quản lý thiếu
hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước ở quận Thốt Nốt. Biểu hiện như:
Một là, xuất phát từ nền kinh tế thị trường và điều kiện kinh tế ỏ địa phương là
nguyên nhân cơ bản quyết định đến tình trạng trên. Nếu nền kinh tế thị trường tạo ra
trong điều kiện hiện nay, có thể thấy:
Một là, sự hạn chế của chính sách phát triển khoa học-công nghệ và môi
trường ở nước ta nói chung và ở Thành phố Cần Thơ nói riêng. Có thể nói chính sách
và môi trường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học công nghệ cao phục
vụ cho phát triển sản xuất ở nước ta hiện vẫn thực hiện theo cơ chế “cũ”. Do vậy,
kinh phí mất nhiều nhưng hiệu quả thực tế lại không cao. Chẳng hạn, viện nghiên cứu
kinh tế-xã hội thành phố khi thực hiện nghiên cứu các đề án do Chính phủ giao hay
của Thành phố đều chỉ tồn tại trên “giấy” mà chưa có thể áp dụng và áp dụng có hiệu
quả cao. Bởi, chính sách trả thù lao cho đội ngũ cán bộ, viên chức ở Viện vẫn chủ yếu
dựa vào “thâm niên công tác” và không đáng kể so với sự chi trả của các doanh
nghiệp tư nhân. Mặt khác, các công trình nghiên cứu khoa học-công nghệ vẫn chỉ
dừng lại ở một vài sáng kiến nhỏ à chưa phải là những công trình điển hình quốc gia.
6
Đây là những nguyên nhân cơ bản làm cho nền sản xuất trong nước với công nghệ lạc
hậu, máy móc, thiết bị quá cũ và chậm đổi mới.
Hai là, những hạn chế về mặt thể chế pháp luật về quản lý và bảo vệ môi
trường ở Việt Nam hiện nay. Trước hết, phải nói đến sự mâu thuẫn, chống chéo trong
phân cấp chức năng và phân cấp lãnh thổ hiện nay đã bộc lộ những khuyết tật cơ bản
của nó như: tính thụ động, trông chờ, ỷ lại; bệnh quan liêu, độc đoán, tham nhũng,
lãng phí hay các thủ tục hành chính rườm rà đã làm giảm hiệu quả và hiệu lực của
quản lý nhà nước, nhất là ở chính quyền địa phương hiện nay. Sau đó phải kể đến sự
hạn chế về năng lực, trình độ và kỹ năng của cán bộ, công chức, thanh tra viên, kiểm
tra viên, kỹ thuật viên ở Thành phố và quận Thốt Nốt trong việc thực thi hoạt động
công vụ ở địa phương. Sự cấp phép thành lập và hoạt động kinh doanh cho Công ty D
& A khi không đảm đảm điều kiện về thực tế theo báo cáo đánh giá tác động môi
trường mà Công ty gửi cơ quan chức năng xem xét trước khi thành lập và tiến hành
hoạt động sản xuất đã chứng minh khả năng xem xét, đánh giá của đội ngũ cán bộ,
công chức còn nhiều hạn chế. Mặt khác, chính những quy định về trình tự thủ tục
Như vậy, việc phát triển kinh tế-xã hội địa phương và trách nhiệm bảo đảm đời
sống mọi mặt cho người dân là tách rời nhau ? hay chính quyền Thành phố và doanh
nghiệp không còn cách xử lý, giải quyết nào khác mà chỉ được phép lựa chọn 1 trong
2 vấn đề trên ? là những câu hỏi mà tình huống đặt ra cần phải được làm sáng tỏ
nhằm một mặt bảo đảm sự phát triển ổn định kinh tế-xã hội nhưng mặt khác phải bảo
vệ được môi trường sống trong sạch cho người dân địa phương ở quận Thốt Nốt.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
Những hành vi từ phía Công ty D & A và chính quyền Thành phố Cần Thơ mà
tình huống nêu lên có thể được phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độ với những mục
đích khác nhau. Chẳng hạn, dưới góc độ pháp lý cơ quan có thẩm quyền tiến hành
các thủ tục cần thiết nhằm xác định vi phạm và xác định trách nhiệm pháp lý đối với
từng vi phạm cụ thể của Công ty D & A; hay dưới góc độ quản lý nhà nước cũng có
thể phân tích dưới góc độ hoạt động chuyên môn của từng loại cơ quan quản lý nhà
nước như: dưới góc độ quản lý nhà nước về y tế; quản lý nhà nước về tài nguyên và
môi trường; quản lý nhà nước về công thương; quản lý nhà nước về nông, lâm nghiệp
và thủy sản;….
Với mục tiêu mà tình huống đặt ra là nhằm xác định trách nhiệm của cơ quan
quản lý nhà nước; của doanh nghiệp đối với tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên con
8
rạch dài 1,5 km và xây dựng biện pháp cụ thể để khắc phục các hậu quả đó. Tiểu luận
phân tích tình huống dưới góc độ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
nhằm góp phần tìm ra phương hướng, cách thức giải quyết phù hợp với những yêu
cầu và mục tiêu mà tình huống đặt ra. Nhìn chung, tiểu luận phân tích theo các nội
dung cơ bản sau:
Thứ nhất, xác định mức độ và tính chất của hành vi gây ô nhiễm môi trường
của Công ty D & A. Theo quy định tại Điều 27 mục 1, nghị định 175 của Chính phủ
quy định: “Mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh, khách sạn, nhà hàng…có các chất thải ở
dạng rắn, khí, lỏng cần phải tổ chức xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải ra
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Hành vi xả thải vượt tiêu chuẩn
cho phép vi phạm quy định tại khoản 2 điều 10, nghị định 81/2006/NĐ-CP. Đồng
thời, khí thải như: mùi hôi thối, mùi khó chịu trực tiếp vào môi trường, không qua
thiết bị hạn chế môi trường, đã vi phạm khoản 11 điều 3, Điều 11 nghị định
81/2006/NĐ-CP. Cuối cùng là hành vi không thực hiện báo cáo giám sát định kỳ và
các tài liệu liên quan khác cho cơ quan lưu trữ tài liệu thông tin về môi trường theo
quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, vi phạm khoản 1 điều 9, nghị định
81/2008/NĐ-CP.
Như vậy, có thấy các hành vi vi phạm của Công ty D & A về các hành vi như:
Xả thải ra rạch, khí thải ra không; không làm báo cáo đánh giá tác động môi trường;
… như trên phân tích cần phải bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.
Thứ hai, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương. Trách nhiệm
quản lý nhà nước ở Thành phố Cần Thơ mà tình huống nêu lên có thể xác định theo:
Một là, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước của chính quyền ở Thành
phố Cần Thơ. Việc để cho Công ty Đ chưa lập báo cáo đánh giá tác động môi trường
nhưng vẫn được cơ quan quản lý Nhà nước cấp phép xây dựng và đi vào hoạt động,
dẫn đến sự cố đáng tiếc đã phản ánh tính trách nhiệm và chịu trách nhiệm của Sở Tài
nguyên và Môi trường khi thẩm định, đánh giá báo cáo tác động môi trường theo quy
định của Công ty D. Mặt khác, khi không có báo cáo, liệu Công ty D có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật hiện hành để được cấp phép thành lập, xây dựng và tiến
hành sản xuất ? Như vậy, có thể khẳng định rằng sự phối hợp giữa các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng
UBND ban hành quyết định sai. Đồng thời, tính thiếu trách nhiệm còn được thể hiện
trong việc để xảy ra vụ việc kéo dài, xử lý vi phạm hành chính nhiều lần nhưng
không có biện pháp khắc phục triệt để tình trạng vi phạm pháp luật của Công ty D.
Hai là, trách nhiệm của cơ quan thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm về môi
trường của Công ty D & A. Có thể khẳng định rằng, công tác thanh tra, kiểm tra của
cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường Thành phố Cần Thơ chưa
được tiến hành theo quy định như: thanh tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất;… Chưa có
Qua những phân tích trên, cho phép đưa ra những cách giải quyết và xử lý
khác nhau hoặc có cùng cách xử lý nhưng lựa chọn các giải tối ưu. Trên cơ sở đánh
giá và mục tiêu của tình huống và tiểu luận đặt ra, bản thân tôi mạnh dạn nêu lên một
số phương án xử lý cụ thể như sau:
11
a/ Phương án 1: Tiến hành xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật và
buộc đơn vị phải xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn Việt Nam cho phép
-Mục tiêu của tình huống: Nhằm đảm bảo trật tự pháp chế xã hội chủ nghĩa
thông qua việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định hiện hành và khắc phục sự cố
môi trường.
- Nội dung tiến hành:
+ Tiến hành kiểm tra để xác định mức độ chấp hành của 2 công ty, lập biên bản
vi phạm hành chính làm cơ sở ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi trực
tiếp xả các chất độc hại ra sông, rạch.
+ Buộc đơn vị trong thời hạn 180 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi
phạm hành chính, phải xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn Việt Nam cho phép.
+ Làm hệ thống ao, chia thành nhiều ô để nước thải tự phân hủy. Đây là
phương pháp xử lý sinh học có thể áp dụng cho các cơ quan chế biến thủy sản có
diện tích rộng.
+ Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả tình trạng ô nhiễm môi
trường do vi phạm hành chính (bao gồm cả việc đền bù thiệt hại về kinh tế và môi
trường đối với các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do vi phạm của đơn vị gây ra). Đồng
thời phải thực hiện đúng các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.
-Nguồn lực thực hiện phương án: Cơ quan tiến hành, UBND giao cho Sở Tài
nguyên và Môi trường tiến hành làm các thủ tục để kiểm tra, đề xuất mức xử lý và
các giải pháp xử lý của Công ty D và có trách nhiệm tiến hành theo dõi thực hiện cam
kết, báo cáo kết quả thường xuyên cho UBND Thành phố. Kinh phí thực hiện phương
án, đối với thủ tục kiểm tra xác định vi phạm do ngân sách thường xuyên của Thành
phân cấp và đặc biệt là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của dân cư, tổ chức thuộc
phạm vi quản lý.
- Nội dung thực hiện phương án:
Bước 1: Thanh tra UBND Thành phố tiến hành xác định
+ UBND Thành phố giao cho Thanh tra của UBND chủ trì, phối hợp với các Sở,
Phòng thuộc Sở,… tiến hành xác định trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan khi để xảy ra
tình trạng Công ty D không có báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng vẫn được
cấp phép xây dựng và hoạt động.
+ Thanh tra tiến hành các thủ thanh tra hành chính theo quy định.
13
+ Dự kiến mức xử lý trách nhiệm kỷ luật trình UBND Thành phố theo kế
hoạch được phân công.
Bước 2: Sở Tài nguyên và Môi trường tiền hành xây dựng kế hoạch xử lý ô
nhiễm môi trường trên địa bàn
+ Tiến hành thanh tra, kiểm tra xác định mức độ ô nhiễm để trình UBND
Thành phố quyết định mức xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp cưỡng chế buộc
Công ty A phải tiến hành.
+ Tiến hành xây dựng các giải pháp xử lý và giám sát xử lý như tình huống 1
và 2.
+ Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp báo cáo kết quả cho
UBND Thành phố.
- Nguồn lực thực hiện phương án: Về cơ quan tiến hành cụ thể theo các bước
trên. Kinh phí cho các thủ tục hành chính do ngân sách Thành phố; còn kinh phí khắc
phục do Công ty D chi phí.
IV. LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
Xuất phát từ mục tiêu cụ thể của mỗi phương án, cho phép chúng ta lựa chọn
các giải pháp khác nhau tùy thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhất định.
Nếu lựa chọn phương án 1 hay 2 thì nhằm giải quyết được hành vi vi phạm và khắc
nên trong quá trình xử lý khó
+ Phương án xử lý nước thảicó thể khử hết mùi hôi thối. Và
ít tốn kém, có thể thực hiệnmuốn bảo đảm khả năng tự làm
trong thời gian ngắn, chỉ cầnsạch triệt để cần diện tích đất
cải tạo một phần công suấtrộng và trồng cây xung quanh.
thiết bị. Khi đưa vào sử dụng
không tốn chi phí vận hành,
do đây là phương pháp tự làm
sạch, giúp doanh nghiệp hạ
giá thành sản phẩm, tăng khả
năng cạnh tranh trên thương
trường.
Phương án + Thể hiện tính nghiêm minh+ Sản xuất đình trệ, việc tiêu
2
của pháp luật, nhanh chóngthụ nguyên liệu thủy sản gặp
khắc phục ô nhiễm và phụcnhiều khó khăn; hàng ngàn lao
hồi môi trường;
động không có việc làm, nhà
+ Bù đắp được phần nàonước thất thu, tăng trưởng GDP
thiệt hại cho các tổ chức và cábị ảnh hưởng;
nhân bị ảnh hưởng;
+ Phương án đề xuất xử lý môi
+ Phương án đề xuất xử lý trường tuy có nhiều ưu điểm
Thu mẫu nước thải :
+ Từ hệ thống xử lý ra sông Hậu.
+ Đường thoát nước thải chưa qua xử lý.
+ Nguồn nước gần nơi xả nước thải;
ð Để kiểm nghiệm về mức độ gây ô
nhiễm của đơn vị.
2/ - UBND TPCT thành lập đoàn kiểm tra liên ngành :
. Kiểm tra toàn diện việc chấp hành các quy định hiện hành về môi trường của
2 công ty Đ & A.
. Đề nghị 2 công ty Đ & A nộp bản thiết kế xây dựng nhà máy cũng như hệ
thống xử lý nước thải cho đoàn kiểm tra liên ngành.
. Tiến hành kiểm tra hệ thống xả nước thải nổi và ngầm của hai đơn vị.
. Lập biên bản vi phạm hành chính.
16
. Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường ra quyết định xử phạt vi phạm hành
chính về bảo vệ môi trường và phối hợp với lực lượng cảnh sát môi trường giám sát
việc thực hiện quyết định.
3/ - Sau 10 ngày, kể từ ngày giao quyết định xử phạt – nếu không có khiếu nại,
khởi kiện đối với quyết định xử phạt công ty Đ & A phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Nếu cố tình không chấp hành thì bị cưỡng chế.
4/ Sau khi ban hành quyết định xử phạt, UBND TP giao cho phòng Môi trường
– Sở Tài nguyên Môi trường, Sở khoa học và công nghệ thành phố phối hợp với
chính quyền và các cơ quan chức năng huyện T và xã Thới Thạnh điều tra, xác định
phạm vi, mức độ ô nhiễm. Trên cơ sở đó, đưa ra phương án giúp 2 công ty Đ & A
khắc phục, phục hồi môi trường kịp thời và hiệu quả; đồng thời tiến hành việc bồi
thường thiệt hại về kinh tế và môi trường cho các tổ chức và cá nhân ; hỗ trợ về mặt
+ Các khu công nghiệp phải được phân khu chức năng hợp lý, đảm bảo. Những
khu công nghiệp hiện đã có khoảng một nửa diện tích đất quy hoạch được khai thác,
sử dụng cần khẩn trương xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp tập trung.
Đồng thời, yêu cầu tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp phải
hoàn tất các trạm xử lý nước thải cục bộ trước khi nối mạng vào hệ thống nước thải
của khu công nghiệp.Tiến hành chương trình báo cáo giám sát môi trường theo định
kỳ, để đánh giá diễn biến chất lượng môi trường.
+ Đối với các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, cần phải tự giác chấp
hành tốt các quy định hiện hành về bảo vệ môi trường, tránh không để xảy ra những
sự cố đáng tiếc làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và uy tín của đơn
vị; việc xử lý, khắc phục sự cố rất tốn thời gian, tiền của và công sức.
+ Chính quyền và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tăng cường phối
hợp kiểm tra hệ thống xử lý chất thải của các doanh nghiệp nhằm kịp thời phát hiện
và có biện pháp xử lý hiệu quả các vụ việc vi phạm. Chú ý phát huy vai trò của cán
bộ Dân Vận, Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội và toàn dân; tăng cường sự
giám sát của HĐND các cấp.
+ Bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường đối
với tổc chức, cá nhân có hoạt động tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn cho môi trường
(theo điều 134 Luật bảo vệ môi trường).
18
+ Đối với những doanh nghiệp cố ý, vi phạm có tổ chức và kéo dài đã xử phạt
vi phạm hành chính nhiều lần mà chưa khắc phục, cần kiên quyết, có biện pháp xử lý
nghiêm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.
- Đối với trung ương :
Tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với các cơ
sở, đơn vị sản xuất kinh doanh ngày càng phổ biến với những thủ đoạn tinh vi. Nhiều
đơn vị làm hệ thống xử lý nước thải nhưng chỉ làm cho có hoặc để “ngó”, khi có đoàn
với yếu tố bảo vệ môi trường.
Vấn đề môi trường nếu nhận thức chậm chừng nào thì hạu quả khó lường chừng ấy.
Theo tính toán của Word Band, cứ 1% tăng trưởng GDP của mỗi nước mà không có
giả pháp bảo vệ môi trường thì chất lượng môi trường sẽ giảm đi 3 lần. Thành phố
Cần Thơ cần phải chủ động phát huy vai trò phối hợp giữa liên vùng, phối hợp giữa
các Bộ ngành trung ương với địa phương để xx]r lý tốt vấn đề này. Trước hết là “nói
không” với các ngành sản xuất gay ô nhiễm, đắc biệt là ô nhiễm môi trường nước và
không khí. Chỉ cấp giấy phép đầu tư khi doanh nghiệp đã lập báo cáo tác động môi
trường và được cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường chấp thuận. Tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra và có phương án giả quyết, xử lý nghiêm đến nơi đến
chốn các doanh nghiệp vi phạm kéo dài, chậm khắc phục hậu quả. Nếu không, một
ngày không xa người dân sống ở vùng sông nước sẽ không có nước sạch để dùng.
Môi trường sống sẽ bị suy thoái, hủy diệt bởi chính chúng ta.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
01. Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Quyết định số 13/2006/QĐ-BNV ngày
06/10/2006 Ban hành quy định các chương trình đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước đối với cán bộ,
công chức.
02. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quyết định số
22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 về việc bắt buộc áp
dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
03. Chính phủ, Nghị định số 81/2006/NĐ-CP, ban hành ngày
9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong
20
lĩnh vực bảo vệ môi trường.
04. Quốc hội, Luật bảo vệ môi trường, ngày 29/11/2005.
05. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ban