Bài thu hoạch đền gióng môn giáo dục quốc phòng đại học , các bạn
download về chỉ việc nộp thôi nhé, đầy đủ hết rồi.
LỜI NÓI ĐẦU
Có lẽ là người con đất Việt, không ai là không biết đến truyền thuyết
Thánh Gióng cùng con ngựa sắt. Tuổi thơ năm tháng đi qua, những câu
truyện cổ tích bà, mẹ hay kể cho cháu mỗi buổi chiều tan học cứ dần dần
in hằn trong tâm trí cháu.
Còn những người ông, cha, chú – những người lính bộ đội Trường
Sơn dù ít hay nhiều nhưng không ai là không nhắc đến chiến thắng Điện
Biên Phủ trên không – thành công của Phòng không – Không quân thời kì
kháng chiến chống Đế quốc Mỹ. Qua những lời kể, hẳn trong mỗi chúng ta
đều dấy lên niềm tự nào về những chiến thắng vang dội ấy, niềm tự hào về
máu xương cha ông ta đã đổ ra và cả niềm yêu Tổ quốc, nỗi niềm khát
khao xây dựng cũng như bảo vệ Tổ quốc hình chữ S bé nhỏ, thân thương
này.
Để tạo cho sinh viên hiểu thêm, biết thêm về những di tích lịch sử,
chiến thắng vang dội ấy, trường Đại học Kinh và Công nghệ nói chung và
khoa Giáo dục Quốc phòng – An ninh nói riêng đã tạo điều kiện cho sinh
viên có những buổi tham quan, ngoại khóa hết sức hữu ích, thay vì chỉ là
những tiết học lý thuyết khô. Chúng em xin cảm ơn nhà trường, cảm ơn
khoa rất nhiều vì điều này.
Bài thu hoạch này là kết quả những gì chúng em hiểu biết, học tập
thêm sau hai buổi ngoại khóa, sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn về sự tích
Thánh Gióng, đền Gióng, về hội Gióng và Phòng không – Không quân
cùng với chiến thắng lịch sử lẫy lừng Chiến thắng Điện Biên Phủ trên
không.
ĐỀN GIÓNG
<Ảnh>
Đánh giặc, lên ba hiềm vẫn muộn
Cưỡi mây, tầng chín hận chưa cao
Võ công hiển hách của Thánh Gióng cùng dân đánh giặc đã được
nhà thơ Ngô Chi Lan mô tả:
Thiết mã tại thiên, danh tại sử
Anh uy lẫm lẫm mãn giang san
Dịch nghĩa:
Ngựa sắt về trời, danh tại sử
Oai thanh vang dậy khắp xa gần
Đến thời Lê, vua Lê Đại Hành (980 - 1005) lại phong ông là Sóc
Thiên Vương, đổi Sóc Sơn thành Vệ Linh Sơn. Năm 981, sau khi đánh
thắng quân Tống trở về, vua lại phong ông là Phù Thánh Đại vương. Đến
thời Lý, vua Lý Thái Tổ đặt lại tên đền Gióng là Hiển Linh Điện, phong là
Xung Thiên Thần Vương. Thời Hậu Lê, Thánh Gióng được phong là Xung
Thiên Đổng Thần Vương, mẹ hiệu là Hiệu Thiên Mẫu. Vua Lê Kính
Tông(1600 - 1619) niên hiệu Hoằng Định có lập bia và tế lễ. Đến thời Lê
Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) nhà vua đã cúng áo chầu
và tiền vàng.
•
•
Kiến trúc
Đền Gióng là một tổng thể thống nhất, gồm nhiều công trình xây
trên diện tích rộng:
Tam quan đền khá lớn, trên có gác, mở thêm hai cửa nhỏ hai bên.
Trên bậc thềm là hai con rồng đá, tạc vào năm 1705. Trước cổng là một
•
Bên trái của đền là chùa Kiến Sơ.
Đền Gióng nằm trên một khu đất đẹp, tương truyền được xây dựng
chính trên nền ngôi nhà cũ nơi Gióng sinh ra. Trước đây, nơi này chỉ là một
thảo am nhưng vua Lý Thái Tổ khi dời đô ra Thăng Long đã cho xây
dựng thành một ngôi đền khang trang. Trải qua nhiều lần trùng tu, ngôi đền
hiện tại chủ yếu là những mảnh ghép của những công trình thời Lý, thời Lê
Trung Hưng, thời nhà Nguyễn và có cả những phần mang màu sắc đương
đại.
Trước đền có thủy đình nằm trong hồ bán nguyệt, được xây dựng từ
thời Lý. Trải qua gần 1.000 năm nhưng những nét chạm trổ tài hoa trên gỗ
vẫn còn gần như nguyên vẹn. Hằng năm thủy đình vẫn đứng đó lặng nghe
những liền anh liền chị hát giao duyên trong ngày lễ hội (9-4 âm lịch).
Cổng đền được xây dựng bằng gạch, đến nay đã được 109 năm. Phía
sau cổng là nhà tám mái (đúng ra là có hai tầng, mỗi tầng 4 mái), khá
giống với nhà tám mái trước chùa Láng vì cũng được xây dựng từ thời Lý.
Nhìn từ phía ngoài thì nhà tám mái không lớn, nhưng nếu có một ống
kính góc rộng, nằm ngửa ra giữa nhà mà chụp thì chắc chắn bạn sẽ thấy
rõ sự kỳ vĩ của nó. Dưới mỗi góc độ lại hiện ra một hình thù rất khác.
Sau nhà tám mái là nhà tiền tế, là nơi để thực hiện các nghi lễ. Tại đây,
du khách có thể dễ dàng nhận thấy sự chênh lệch “tuổi tác” khi bên trên
những cột gỗ có từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17) là những bức hoành phi
ghi lại những lời nói của Bác Hồ, những vần thơ Tố Hữu.
Ấn tượng nhất trong đền là cắp chiêng trống có đường kính lên tới 1,2m
với độ lớn tương đương chiếc trống đại được trưng bày tại lễ hội hoa vừa
rồi. Vào mùa lễ hội, tiếng trống, tiếng chiêng rền vang sẽ làm không khí
thêm phần hào hùng trong những hoạt cảnh tái diễn trận chiến anh hùng
của Thánh Gióng.
Với mỗi ngôi đền thì phần quan trọng nhất bao giờ cũng là hậu cung,
<Ảnh>
Hiện nước ta có gần 8000 lễ hội, trong đó có 7039 lễ hội dân gian,
mỗi lễ hội có một dáng vẻ khác nhau. Lễ hội Thánh Gióng đã tồn tại qua
hàng ngàn năm lịch sử. Nét độc đáo của lễ hội này là cư dân Việt cổ đã
lịch sử hoá một nhân vật huyền thoại, biến thành một nhân vật tín ngưỡng
để phụng thờ, phát triển thành lễ hội và nâng lên hàng Thánh.
Mang đặc điểm chung của lễ hội dân gian, lễ hội Thánh Gióng lắng
đọng khá nhiều lớp phù sa lịch sử - văn hóa, vẫn lưu giữ những nét riêng ít
lễ hội dân gian nào có được. Yếu tố “gốc” của lễ hội Thánh Gióng tồn tại
chủ yếu trong tiềm thức con người qua các thế hệ, gắn bó với mỗi người
và luôn được tiếp nhận cái tinh túy, bồi đắp thêm những lớp phù sa văn
hóa - tín ngưỡng, đồng thời cũng sàng lọc những yếu tố không còn thích
hợp để sự sáng tạo ấy luôn mang tầm nhân loại.
Đây là một lễ hội khá ổn định dẫu thời gian, sự tiếp biến văn hóa của
cuộc sống đương đại đã tác động rất lớn. Việc sưu tầm nghiên cứu lễ hội
Thánh Gióng có từ rất sớm và kỹ lưỡng. Những công trình sớm nhất đã
được ghi lại trong văn bia, thần tích ở các di tích đền Phù Đổng, đền Sóc
Sơn…của các nhà Nho. Huyền thoại về Thánh Gióng đã xuất hiện trong
các bộ sử của các vương triều quân chủ như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại
Nam nhất thống chí, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam ngữ
lục... Tư liệu xưa nhất là An Nam chí lược của Lê Tắc thế kỷ XIV. Công
trình của G.Dumoutier công bố năm 1893. Những năm đầu thế kỷ XX, lễ
hội Thánh Gióng được ghi chép tương đối tỷ mỷ trong cuốn sách Bắc Ninh
tỉnh khảo dị của Phạm Xuân Lộc. GS.TS Nguyễn Văn Huyên có 2 công
trình về Lễ hội Thánh Gióng ở làng Phù Đổng: Les fêtes de Phù
Đổng(1938 ), Les chants et les danses d’Ailao aux fêtes de Phù Đổng
( 1941 ). Sau năm 1954, nhiều công trình có giá trị về lễ hội Thánh Gióng
Sóc (Phù Ninh, Sóc Sơn), đền Thánh Gióng (Phù Đổng, Gia Lâm), đền
Sóc (Xuân Đỉnh, Từ Liêm), đền Gióng (Đông Bộ Đầu, Thường Tín) và đền
Gióng (Chi Nam - Gia Lâm). Hàng năm, các địa phương thờ Thánh Gióng
đều rất sáng tạo để tổ chức lễ hội, tưởng nhớ người anh hùng. Làng Phù
Đổng diễn lại chiến công của Thánh Gióng, bắt 28 cô gái xinh đẹp của làng
làm tướng giặc. Làng Sóc diễn lại cảnh Thánh Gióng đánh trận rồi bay về
trời... Điểm nhấn của hội Gióng ở các địa phương là hội trận mà không có
gươm đao, tất cả được tái hiện bằng biểu tượng. Lễ hội Thánh Gióng là
một hệ thống biểu tượng có những tầng ý nghĩa sâu xa, lâu đời, nhưng
cũng có tầng ý nghĩa mới mẻ, cô đọng.
Lễ hội Gióng được cử hành trên một diễn trường dài khoảng 3 km,
gồm đền Thượng, đền Mẫu và chùa Kiến Sơ. Thường 5 năm một lần, vào
năm chẵn thì tổ chức hội chính (từ 6 -12/4); còn các năm lẻ thì tổ chức hội
lễ vào ngày 9/4, sau nghi thức hành lễ, chiến sự chỉ xảy ra một trận kết
thúc ở Soi Bia. Sự phân công đã hình thành từ lâu đời: Phù Dực, Phù
Đổng thay nhau làm giáp kéo hội (đăng cai) được cử các tướng Văn Lang,
các đội cận vệ binh. Đổng Viên, Đổng Xuyên cử đội quân báo, quân lương.
Còn Hội Xá đến với phường múa hát Ải Lao, Tùng Choặc và diễn trò bắt
hổ.
Số người trực tiếp tham gia trong ngày hội tới vài trăm, gồm: các ông
hiệu, nữ tướng giặc Ân, quân phù giá nội, ngoại, làng áo đỏ, làng áo đen,
quân báo, quân lương… Sự nghiêm ngặt, linh thiêng cao độ đối với người
tham gia lễ hội từ trẻ mục đồng, quân phù giá đến phường Ải Lao, đặc biệt
các ông hiệu như hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng, hiệu trung quân, hiệu
tiểu cổ. Tướng nữ đóng giặc Ân (từ 9 - 12 tuổi) và các ông hiệu được chọn
lọc rất kỹ và phải phải tập dượt nghiêm túc và chịu những điều kiêng kỵ
nghiêm ngặt. Riêng ông hiệu cờ sống chay tịnh riêng biệt trong một tháng
theo tục trai giới trong nhà cầu của đền, có người phục vụ.
thanh náo động đầy quyền uy tạo nên một bài ca hùng tráng chứa chan
niềm tin thắng lợi và lòng tự hào dân tộc. Trong ngày lễ lớn, trò diễn trận,
rước kiệu, múa cờ, chia phe diễn lại sự tích Thánh Gióng đánh giặc Ân là
những màn diễn xướng độc đáo thể hiện tinh thần đoàn kết toàn dân, ý chí
quật cường của dân tộc, tôn vinh vị anh hùng dân tộc Thánh Gióng. Đây là
cuộc tổng diễn xướng anh hùng ca Thánh Gióng tích tụ những giá trị tinh
thần cao đẹp của một dân tộc chống ngoại xâm liên tục để tự khẳng định
nền độc lập tự do sau hàng ngàn năm Bắc thuộc.
Độc đáo nhất trong lễ hội Gióng là ngựa trắng và ông hiệu cờ. 28
thiếu nữ đóng tướng giặc, thực chất tượng trưng cho tinh tú (chọn những
cô bé còn ngây thơ là biểu hiện hồn nhiên như bầu trời, người Việt lấy thờ
Mẫu làm trọng). Lễ rước Bạch Mã (ngựa trắng) vào giữa trưa, ngựa trắng
tượng trưng sức mạnh linh khí của trời và tượng trưng phương Đông, mặt
trời. Khi rước, người ta cầu mong có được sinh khí tràn trề, muôn loài sinh
sôi nảy nở. Theo tục lệ, khi rước ngựa trắng trời thường nổi gió, có nghĩa
là trời ứng vận vào người "Thiên nhân hợp khí" mà tạo cho khí thiêng của
trời tràn về trần gian. Khi rước về, sinh khí đó hội tụ vào lá cờ đỏ của ông
hiệu cờ. Màu đỏ là màu của sinh khí, màu của sức sống, gắn với thần linh.
Chỉ có thể thì sức sống mới được phát triển và cái ước vọng qua ngày hội
mới trở thành ước vọng được mùa, ước vọng của phồn thực, ước vọng
của sự no đủ. Và, chính qua nhận thức đối với Phù Đổng Thiên Vương -
một uy lực siêu phàm như vậy, nên người xưa đã quan tâm đến nơi thờ
của Thánh Gióng và tổ chức lễ hội tưởng niệm.
Không chỉ làng Phù Đổng, nhiều địa phương khác thuộc Hà Nội cũng
tổ chức lễ hội suy tôn Thánh Gióng, như: Chi Nam (Gia Lâm), Xuân Đỉnh
(Từ Liêm),Vệ Linh (Sóc Sơn). Làng Vệ Linh ở phía Bắc thủ đô Hà Nội,
tương truyền là nơi Gióng đã trút giáp để cùng ngựa về trời, có đền thờ
Gióng và được Nhà nước quân chủ tặng danh hiệu "Xung thiên Thần
Thắng sử dụng ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, góp phần giành thắng lợi
trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.... một số loại vũ khí, phương tiện mà thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.
Phần trưng bày trong nhà gồm có 6 đề mục lớn:
Đề mục I: Bộ đội PK – KQ trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp (những chiến công của trung đoàn 367 tại chiến dịch Điện Biên Phủ
năm 1946 – 1954).
Đề mục II: Sự hình thành và phát triển các lực lượng PK – KQ chuẩn bị
cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1964).
Đề mục III: Bộ đội PK – KQ cùng với quân và dân miền Bắc đánh thắng
hai cuộc chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ra miền Bắc, đỉnh cao là
đập tan cuộc tập kích đường không chủ yếu bằng máy bay chiến lược
B.52 vào Hà Nội và Hải Phòng (2/1965 – 1/1973).
Đề mục IV: Bộ đội PK – KQ chiến đấu trong đội hình quân binh chủng
hợp thành, chiến dịch đường 9 Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào – 1971,
chiến dịch Quảng Trị – 1972, chiến địch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.
Đề mục V: Chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc; Xây dựng và sẵn sàng
chiến đấu, quản lý vững chắc vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, cùng cả
nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN (từ 1975 đến nay).
Đề mục VI: Trưng bày các chuyên đề về đoàn kết quốc tế, hợp tác vũ
trụ, đoàn kết quân dân, sức mạnh từ mặt đất.
Trưng bày trong nhà hơn 3.000 hiện vật, hình ảnh đã tái tạo lại những
trang sử oai hùng của bộ đội Phòng không – Không quân, mỗi hiện vật,
hình ảnh trong hệ thống trưng bày là huyền thoại về những chiến công
xuất sắc của bộ đội Phòng không – Không quân qua hai cuộc kháng chiến
chống Pháp, chống Mỹ, lập nên những kỳ tích anh hùng đánh thắng không
quân nhà nghề của nước có nền khoa học kỹ thuật hiện đại đến nay vẫn
còn là những điều hấp dẫn đối với nhiều khách tham quan trong và ngoài
o
nhiều yếu tố khác nhau .
*
Theo chức năng :
+Lực lượng không quân :đây là lực lượng máy bay trực tiếp chiến đấu với
các lực
lượng
không quân của đối phương hoặc sử dụng tên lửa ,bom để tiêu diệt các
căn cứ của đối phương .
+Lực lượng tên lửa:
lực
lượng này có nhiệm vụ tiêu diệt không quân hoặc các căn
cứ của địch.
+Lực lượng rada:
làm nhiệm vụ dẫn đường cho tên lửa hoặc không quân,phát hiện các mục
tiêu ,phương tiện tác chiến của đối phương từ sớm để thông báo cho các
lực lượng phòng không ,không quân khác chủ động tiêu diệt kẻ thù.
+
Pháo phòng không : được chia làm hai loại
Pháo cao xạ:chủ yếu đánh các mục tiêu trên không
Pháo binh:đánh các mục tiêu mặt đất
*
Theo các cấp quản lý:
+Lực lượng phòng không quốc gia :
lực lượng này có tính cơ động rất cao
+Lượng phòng không địa phương :nhiệm vụ của các lực lượng này thườn
g cố định, trang thiết bị thường không hiện đại.
Các chiến sĩ tiêu biểu nhất của phong không-không quân Việt Nam:
16. Phi công Lưu Huy Chao - Xuất kích nhiều nhất quân chủng
HÀ NỘI_ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG
“Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến
thắng vĩ đại nhất của VN trong thế kỷ 20, là trang sử vẻ vang của
truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước trong thời đại mới thời đại Hồ Chí Minh.
Trong 12 ngày đêm ở tháng 12.1972, Mỹ đã sử dụng 663 lượt máy bay
B.52 và 3.920 lượt máy bay chiến thuật, ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và
một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta hơn 100.000 tấn
bom đạn.
Riêng tại Hà Nội, chúng đã sử dụng 441 lượt máy bay B.52 cùng hàng
ngàn lượt máy bay chiến thuật, ném hơn 10.000 tấn bom và đã hủy diệt
nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó, gần 100 nhà
máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết hại 2.368 dân thường,
làm bị thương 1.355 người.
Khâm Thiên - một khu phố có mật độ dân số đông nhất Hà Nội - đã bị bom
B.52 tàn phá cả chiều dài trên 1km, gần 2.000 ngôi nhà, đền chùa, trường
học, trạm xá bị phá sập, 287 người chết, 290 người bị thương, có gia đình
6 người ngồi trong hầm chết toàn bộ. Máy bay B.52 của Mỹ còn rải bom
xuống hơn 100 điểm dân cư trong thành phố (Bệnh viện Bạch Mai, Gia
Lâm, Yên Viên, Uy Nỗ, An Dương...) làm hơn 1.000 người bị thương vong.
Từ ngày 18 đến ngày 29.12.1972 đã có 81 máy bay Mỹ bị ta bắn rơi.
BÀI HỌC VỀ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
Qua hai buổi ngoại khóa , chúng em đã rút ra được nhiều bài học quý
giá về lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta.
Khi được đến thăm quan đền Gióng tại xã Phủ Đổng, huyện Gia
Lâm :
Ca dao xưa có câu:
minh cho chân lý bao đời qua của ta “ Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền
cũng là dân”. Bác Hồ Chí Minh cũng từng nhận định “dân là gốc”.
-
Thánh Gióng bay về trời không màng danh lợi, là 1 tư tưởng vĩ đại .
Như bác Hồ của chúng ta cả cuộc đời vì dân vì nước. Trước khi mất, Bác
để lại biết bao niềm yêu thương và trong di chúc bác có viết: “Tôi chỉ có
một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước ta được hoàn toàn độc lập, dân
ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học
hành”.
Khi đến thăm quan bảo tàng Phòng Không Không Quân tại 171
Trường Chinh, Hà Nội, chúng em như được chứng kiến sự tái hiện lịch sử
các trận chiến trên vùng trời của Tổ quốc như trận Điện Biên Phủ trên
không, tấn công chiến lược máy bay B52… đều thể hiện rất rõ ràng và sâu
sắc :
Về tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
Về sự đoàn kết mạnh mẽ, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc Việt
Nam.
Về sự trưởng thành mạnh mẽ của lực lượng vũ trang dân tộc.
Về vận dụng mọi điều kiện để đánh giặc ngoại xâm.
Về nghệ thuật “Chiến tranh du kích”, lấy ít thắng nhiều.
Về những mất mát đau thương, những sự hi sinh cho độc lập tự do của
Tổ quốc.
Về niềm tự hào dân tộc.
Về tinh thần yêu chuộng hòa bình.
Tất cả đã tạo nên một Việt Nam đoàn kết, sức mạnh và giàu lòng
nhân ái. Thế hệ sau này, cần phải được học tập hướng về cội nguồn,
lịch sử hào hùng của dân tộc để tiếp thu và phát huy những truyền
thống đó, xây dựng đất nước ta ngày một giàu đẹp.
dân tộc