Header Page 1 of 49.
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ......................................................... 1
1.1 Khái niệm bảo hiểm ........................................................................ 1
1.2. Bảo hiểm xã hội .............................................................................. 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ............................................................. 13
2.1 Quá trình phát triểncủa BHXH Việt Nam ................................... 13
2.2 Những thành tựu đạt được và khó khăn của BHXH Việt Nam
hiện nay .................................................................................................. 20
2.3 Quy định về chế dộ thai sản ở Việt Nam ...................................... 25
2.4 Thủ tục, hồ sơ hưởng chế đột hai sản ........................................... 35
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP ................................................................... 38
3.1 Định hướng ...................................................................................... 38
3.2 Giải pháp.......................................................................................... 39
3.3 Kiến nghị .......................................................................................... 44
Footer Page 1 of 49.
Header Page 2 of 49.
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,
Việt Nam bước sang một thời kỳ phát triển mới. Sự chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế - xã hội to lớn cho
đất nước. Nhiều lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh, đời sống nhân dân cũng
ngày càng được nâng cao. Chính vì vậy, BHXH đã ra đời để bảo vệ cuộc
sống “ Của dân, do dân và vì dân” lý tưởng của nước Cộng hòa Xã hội
Chủ Nghĩa Việt Nam.
Xin chân thành cảm ơn!
Footer Page 3 of 49.
Header Page 4 of 49.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm bảo hiểm
1.1.1 Nguồn gốc của bảo hiểm
Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh phát triển rất
mạnh, với tốc độ tăng trưởng trung bình khá cao. Đặc biệt, ở một số nước trên
thế giới, bảo hiểm đã trở thành một phần không thể thiếu trong kinh doanh cũng
như trong cuộc sống nói chung. Vậy bảo hiểm có nguồn gốc như thế nào?
Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại. Tuy
nhiên, bảo hiểm thực sự xuất hiện từ khi nào thì người ta vẫn chưa có được câu
trả lời chính xác. ý tưởng về bảo hiểm được coi là đã xuất hiện từ khá lâu, khi
mà người xưa đã nhận ra lợi ích của việc xây dựng một kho thóc lúa dự trữ
chung phòng khi mất mùa, chiến tranh… Như vậy, ngay từ xa xưa, con người đã
có ý thức về những bất trắc có thể xảy đến với mình, và tìm cách phòng tránh
chúng.
Ý tưởng về sự rủi ro được hình thành một cách rõ nét vào khoảng thế kỷ
XV, khi châu Âu mở những cuộc thám hiểm, khai phá tới các miền đất ở châu á,
châu Mỹ. Nhu cầu giao thương giữa các châu lục trở nên mạnh mẽ, ngành hàng
hải ngày càng phát triển. Những đội tàu buôn lớn ra đi, và trở về với sự giàu có
từ nguồn hàng dồi dào, hấp dẫn từ những miền đất mới. Tuy nhiên, đồng hành
với đó cũng là những trường hợp rủi ro không quay về được do nhiều nguyên
nhân như: dông bão, lạc đường, cướp biển… Những nhà đầu tư cho những
chuyến đi mạo hiểm như vậy đã cảm thấy sự cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi
ro để tránh tình trạng một số người bị mất trắng khoản đầu tư của mình do một
hiểm ngày nay đã phát triển nhanh chóng trên nhiều mặt và dần dần đóng vai trò
rất quan trọng đối với con người.
1.1.2 Bản chất của bảo hiểm
Bằng sự đóng góp của số đông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro, quĩ
sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít. Mỗi cá nhân
hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các công ty
bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do rủi
ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường. Khoản tiền
bồi thường này được lấy từ số phí mà tất cả những người tham gia bảo hiểm đã
nộp. Tất nhiên, chỉ có một số người tham gia bảo hiểm gặp tổn thất, còn những
người không gặp tổn thất sẽ mất không số phí bảo hiểm. Như vậy, có thể thấy,
thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho
Footer Page 5 of 49.
2
Header Page 6 of 49.
tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Do đó, một nghiệp vụ bảo
hiểm muốn tiến hành được phải có nhiều người tham gia, tức là, bảo hiểm chỉ
hoạt động được trên cơ sở luật số đông, càng nhiều người tham gia thì xác suất
xảy ra rủi ro đối với mỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi.
Với hình thức số đông bù cho số ít người bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm sẽ
giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi ro, tiết
kiệm được nguồn chi cho ngân sách nhà nước. Như vậy, thực chất mối quan hệ
trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và
người được bảo hiểm, mà suy rộng ra, nó là tổng thể các mối quan hệ giữa
những người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành và sử
dụng quĩ sbảo hiểm. Quĩ bảo hiểm được tạo lập thông qua việc huy động phí bảo
một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo
hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm”.
1.2. Bảo hiểm xã hội
1.2.1 Định nghĩa về bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một phần của bảo hiểm khi phân theo cơ chế
hoạt động. Tuy đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng đến nay vẫn chua có định
nghĩa thống nhất về BHXH. Từ giác độ pháp luật: BHXH là một chế định bảo
vệ người lao động sử dụng nguồn đóng góp của mình, đóng góp từ người sử
dụng lao động(nếu có) và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật
chất cho người lao động được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm
hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động hoặc hết tuổi lao
động theo quy định của pháp luật hoặc người lao động bị chết. Dưới giác độ tài
chính: BHXH là quá trình san sẻ rủi ro và san sẻ tài chính giữa những người
tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Gần đây, một số quan
điểm cho rằng: BHXH là sự đảm bảo hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
người lao động khi họ mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm, bằng cách
hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của các bên
tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội….
1.2.2 Sự ra đời và phát triển của BHXH
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và
đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới.BHXH là một trong
những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, thể hiện trình độ văn
minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế cũng như khả năng quản lý của quốc gia
đó.BHXH xuất hiện năm 1850 do thủ tướng Bismach của nước phổ (nay là
CHLB Đức) đã thiết lập ở nước này.Mới đầu chỉ có giới thợ tham gia và chỉ có
bảo hiểm ốm đau, sau đó thu hút mọi tầng lớp xã hội và mở rộng ra đối với các
trường hợp khác.Luật bảo hiểm y tế được ban hành vào năm 1883. Và năm 1884
ban hành luật bảo hiểm về rủi ro nghề nghiệp do hiệp hội giới chủ quản lý. Năm
Footer Page 8 of 49.
đã đóng từ đủ 30 năm trở lên; - Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế
ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở
lên thì được hưởng 40 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm; 50 ngày nếu đã
đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên.
Footer Page 9 of 49.
6
Header Page 10 of 49.
- Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm được tính theo số ngày
chăm sóc con tối đa là 20 ngày làm việc nếu con dưới 3 tuổi; tối đa là 15 ngày
làm việc nếu con từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi. - Người lao động hưởng chế độ
ốm đau theo quy định tại 2 trường hợp đầu mức hưởng bằng 75% mức tiền
lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
Chế độ thai sản
Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây: Lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; người lao
động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi; người lao động đặt vòng tránh thai,
thực hiện các biện pháp triệt sản. Người lao động thuộc 2 trường hợp cuối phải
đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con
hoặc nhận nuôi con nuôi. - Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ
việc để đi khám thai năm lần, mỗi lần một ngày; trường hợp ở xa cơ sở y tế hoặc
người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ hai ngày
cho mỗi lần khám thai. - Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại
Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. + 4 tháng, nếu
làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường + 5 tháng, nếu
làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ
5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần. Mức trợ cấp một lần được quy
định như sau: + Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng 5 tháng lương
tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng
lương tối thiểu chung; + Ngoài mức trợ cấp quy định, còn được hưởng thêm
khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ một năm trở xuống thì được
tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3
tháng tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để
điều trị. - Trợ cấp hằng tháng: Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ
31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mức trợ cấp hằng tháng được
quy định như sau: + Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng
30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng
thêm 2% mức lương tối thiểu chung; + Ngoài mức trợ cấp quy định, hằng tháng
còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ
một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH
được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề
trước khi nghỉ việc để điều trị.
Chế độ hưu trí
Footer Page 11 of 49.
8
Header Page 12 of 49.
Người lao động có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên được hưởng lương hưu
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; nam
từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm
làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 làm việc
Header Page 13 of 49.
Thân nhân của các đối tượng được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, bao gồm: Con
chưa đủ 15 tuổi, con chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học, con từ đủ 15 tuổi trở lên
nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc
chồng từ đủ 60 trở lên hoặc vợ dưới 55 tuổi, chồng dưới 60 tuổi nếu bị suy giảm
khả năng lao động từ 81% trở lên; Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ
hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ
đủ 60 trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ; Cha đẻ, mẹ đẻ, cha
vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có
trách nhiệm nuôi dưỡng nếu dưới 60 tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ
và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. Ngoài trường hợp đầu, 3
trường sau phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn
mức lương tối thiểu chung. - Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân
bằng 50% mức lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người
trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối
thiểu chung. - Mức trợ cấp tuất 1 lần đối với thân nhân của người lao động đang
làm việc hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH được tính
theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân
tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH; mức thấp nhất bằng 3 tháng mức bình
quân tiền lương, tiền công tháng. Mức trợ cấp tuất 1 lần đối với thân nhân của
người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu,
nếu chết trong 2 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu
đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 1 tháng lương
hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng 3 tháng
lương hưu đang hưởng.
BHXH tự nguyện
a. Chế độ hưu trí - Người lao động hưởng lương hưu khi có đủ các điều
kiện sau đây: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; đủ 20 năm đóng BHXH trở lên.
Trường hợp nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH còn
hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 1 tháng lương hưu thì
mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.
Bảo hiểm thất nghiệp
Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều
kiện sau đây: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong thời gian
24 tháng trước khi thất nghiệp; đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức BHXH; chưa
tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp. - Mức trợ cấp
thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng
Footer Page 14 of 49.
11
Header Page 15 of 49.
đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. - Thời gian
hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:
+ 3 tháng, nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng bảo hiểm thất
nghiệp;
+ 6 tháng, nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng bảo hiểm thất
nghiệp;
+ 9 tháng, nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng bảo hiểm thất
nghiệp;
+ 12 tháng, nếu có từ đủ 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.
Chế độ BHYT
Người tham gia BHYT được hưởng các quyền lợi khám chữa bệnh như
sau: - Khám bệnh, chẩn đoán và điều trị - Xét nghiệm, chiếu chụp X-quang,
thăm dò chức năng - Thuốc trong danh mục theo quy định của Bộ Y tế - Máu,
các chế phẩm màu và dịch truyền - Các thủ thuật, phẫu thuật - Sử dụng vật tư,
trang của Pháp ở Đông Dương khi bị ốm đau, già yếu hoặc chết. Tuy nhiên, đối
với công nhân Việt Nam, gần như chính quyền Pháp phủ nhận quyền lợi BHXH
của họ. Điển hình là các công nhân Việt Nam làm việc trong các đồn điền, các
nhà máy…bị ốm đau bệnh tật hay chết đều không được hưởng chế độ chữa bệnh
mai táng…
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
được thành lập, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt, song Chính phủ đã
luôn chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân lao động nói chung và riêng đối
với công nhân, viên chức Nhà nước. Ngoài việc ban hành chế độ tiền lương,
Chính phủ đã ban hành các chế độ phụ cấp, trợ cấp xã hội mà thực chất là các
chế độ BHXH như: trợ cấp ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, trợ cấp già yếu,
trợ cấp cho cá nhân và gia đình công nhân, viên chức khi chết và xây dựng các
khu an dưỡng, điều dưỡng, bệnh viện, nhà trẻ...Về mặt luật pháp được thể hiện
trong các văn bản sau:
- Sắc lệnh số 54/SL ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công
chức.
- Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chính phủ.
- Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chính phủ về các quy chế hưu trí,
thai sản, chế độ chăm sóc y tế, tai nạn tử tuất của công viên chức.
Footer Page 16 of 49.
13
Header Page 17 of 49.
- Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 của Chính phủ ấn định cụ thể các chế
độ ốm đau thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân.
Nhìn chung giai đoạn này các chế độ bảo hiểm xã hội chưa được quy định
Header Page 18 of 49.
- Về đối tượng áp dụng là: công nhân viên chức Nhà nước ở các cơ quan, xí
nghiệp, công trường, nông trường, cán bộ, công nhân trong các đoàn thể nhân
dân; công nhân viên chức trong các xí nghiệp công tư hợp doanh đã áp dụng chế
độ trả lương như xí nghiệp quốc doanh; công nhân viên chức trong các xí nghiệp
công nghiệp địa phương đã có kế hoạch lao động, tiền lương ghi trong kế hoạch
Nhà nước.
- Về điều kiện và mức đãi ngộ: căn cứ vào sự cống hiến thời gian công tác,
điều kiện làm việc, tình trạng mất sức lao động và trợ cấp bảo hiểm xã hội nhìn
chung thấp hơn tiền lương và thấp nhất cũng bằng mức sinh hoạt phí tối thiểu.
- Về các chế độ được quy định bao gồm 6 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động – bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất; từng chế độ
có quy định cụ thể về điều kiện hưởng, tuổi đời, mức hưởng...
- Về nguồn kinh phí đảm bảo chi trợ cấp: do quỹ bảo hiểm xã hội của Nhà
nước đài thọ từ Ngân sách Nhà nước.
- Về quản lý quỹ bảo hiểm xã hội: Nhà nước thành lập quỹ bảo hiểm xã hội
là quỹ độc lập thuộc Ngân sách Nhà nước và giao cho Tổng Công đoàn Việt
Nam (nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) quản lý toàn bộ quỹ này (sau
này giao cho ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý quỹ hưu trí và tử
tuất).
Đây là Điều lệ tạm thời nhưng đã quy định đầy đủ 6 chế độ bảo hiểm xã
hội, các chế độ này chủ yếu dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm
khuyến khích mọi người tăng cường kỷ luật lao động, đẩy mạnh sản xuất và góp
phần ổn định lực lượng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân. Nghị định
218/CP được coi là văn bản gốc của chính sách BHXH và nó được thực hiện
trong hơn 30 năm. Tuy nhiên để phù hợp và đáp ứng với tình hình của đất nước
trong từng giai đoạn, nội dung của các quy định trong Điều lệ tạm thời đã qua 8
lần sửa đổi bổ sung với 233 văn bản hướng dẫn thực hiện. Đặc biệt là tại Nghị
định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
hiểm xã hội.
- Đề cập đến vấn đề bảo hiểm xã hội tự nguyện và vấn đề tham gia đóng
góp vào Quỹ bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động, người lao động và
hình thành Quỹ bảo hiểm xã hội.
Footer Page 19 of 49.
16
Header Page 20 of 49.
- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, tập trung trong cả nước,
độc lập với ngân sách Nhà nước. Quỹ bảo hiểm xã hội được Nhà nước bảo trợ,
cơ chế quản lý tài chính được thực hiện theo quy định của Nhà nước.
- Về các chế độ bảo hiểm xã hội, quy định 5 chế độ là ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất, không còn chế độ trợ cấp
mất sức lao động mà những người mất khả năng lao động được quy định chung
trong chế độ hưu trí với mức hưởng lương hưu thấp. Trong từng chế độ có quy
định cụ thể hơn về điều kiện hưởng, thời gian và mức hưởng.
- Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội được cấp sổ bảo hiểm xã hội, sổ
bảo hiểm xã hội ghi chép, phản ánh quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, mức
tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm xã hội đã
được hưởng.
- Đối với lực lượng vũ trang cũng đã có quy định riêng về bảo hiểm xã hội
(Nghị định số 45/CP của Chính phủ).
- Tài chính bảo hiểm xã hội được đổi mới cơ bản, tập trung ở những nội
dung chủ yếu sau:
+ Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành trên cơ sở sự đóng góp của người
sử dụng lao động và người lao động là chính, Nhà nước hỗ trợ cho nguồn Quỹ
Do có tổ chức thống nhất quản lý, bảo tồn, phát triển quỹ và thực hiện chi
trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho các đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội đã đảm
bảo cho việc chi trả đầy đủ, kịp thời và đúng quy định; khắc phục được những
tồn tại trước đây.
Trong quá trình thực hiện theo những quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội
từ năm 1995 đến trước khi gia nhập WTO, chính sách bảo hiểm xã hội đã có
những sửa đổi, bổ sung:
- Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội: Bổ sung đối tượng là cán bộ xã,
phường, thị trấn theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP thực hiện từ 1/1998; đối
tượng là người lao động làm việc trong các tổ chức thực hiện xã hội hóa thuộc
ngành giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao theo Nghị định số 73/1999/NĐCP của Chính phủ.
- Về chính sách bảo hiểm xã hội: Có sửa đổi, bổ sung cả về mức đóng, tỷ lệ
hưởng, điều kiện hưởng và phương pháp tính lương hưu tại các Nghị định số
93/1998/NĐ-CP, số 94/1999/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Điều
Footer Page 21 of 49.
18
Header Page 22 of 49.
lệ bảo hiểm xã hội; Nghị định số 04/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một
số Điều của Luật Sĩ quan Quân đội năm 1999; Nghị định số 61/2001/NĐ-CP về
chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động khai thác trong hầm lò; Quyết
định số 37/2001/QĐ-CP về chế độ nghỉ ngơi dưỡng sức; Nghị quyết số
16/2000/NQ-CP về tinh giản biên chế trong cơ quan hành chính sự nghiệp và
Nghị quyết số 41/2002/NĐ-CP về sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước.
Với những sửa đổi, bổ sung về chính sách bảo hiểm xã hội quy định tại các
văn bản trên, có ảnh hưởng nhiều đến việc quản lý quỹ và cân đối quỹ bảo hiểm
với BHXH bắt buộc đã tạo điều kiện để người dân tham gia và thụ hưởng chế độ
hưu trí khi về già, đảm bảo an sinh xã hội về lâu dài. Đặc biệt là việc thiết kế
chính sách tuân thủ đúng nguyên tắc đóng - hưởng, có sự chia sẻ theo nhóm đối
tượng để bảo đảm khả năng chi trả của Quỹ BHXH (quy định mức tiền lương,
tiền công đóng BHXH thấp nhất, bằng mức lương tối thiểu chung, nhưng tối đa
không quá 20 lần mức lương tối thiểu chung- nay là mức lương cơ sở đã khắc
phục tình trạng mức hưởng BHXH của một số trường hợp cao bất thường trước
khi có Luật BHXH).
Mô hình tổ chức thực hiện BHXH theo quy định tại Nghị định
94/2008/NĐ-CP, Nghị định 116/ 2011/NĐ-CP và Nghị định số 05/2014/NĐ-CP
ngày 17/01/2014, theo đó, BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có
chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự
nguyện, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ BH thất nghiệp; quản lý và sử dụng các
quỹ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BH thất nghiệp, BHYT theo quy định
của pháp luật. Mô hình cơ cấu tổ chức và chức năng của BHXH Việt Nam được
kiện toàn phù hợp với cơ chế quản lý hoạt động BHXH. Công tác chỉ đạo, điều
hành hoạt động chung của BHXH Việt Nam đã được đổi mới kịp thời, sát thực
tế, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ
được giao, phục vụ tốt hơn đối tượng tham gia và thụ hưởng chính sách.
2.2 Những thành tựu đạt được và khó khăn của BHXH Việt Nam hiện
nay
2.2.1 Thành tựu
Nếu như năm 1995, Ngành BHXH mới chỉ quản lý 2,2 triệu lao động, thì
đến cuối năm 2014, số người tham gia BHXH, BHYT đã lên tới trên 64 triệu
người; số thu vào Quỹ BHXH, Quỹ BHYT tính đến năm 2014 lần lượt tăng hơn
Footer Page 23 of 49.
20
Công tác KCB BHYT trong những năm gần đây đã có nhiều cải tiến theo hướng
thuận lợi hơn với người bệnh, trung bình mỗi năm có trên 100 triệu lượt người
Footer Page 24 of 49.
21
Header Page 25 of 49.
được đảm bảo quyền lợi KCB với chi phí hàng chục ngàn tỷ đồng; quyền lợi của
người tham gia BHYT ngày càng được mở rộng. Quỹ BHYT đã trở thành nguồn
tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng nguồn chi cho
công tác KCB, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Bên cạnh đó, các thủ tục hành chính về BHXH, BHYT thường xuyên được
rà soát và đơn giản hóa. Tính đến cuối năm 2014, các thủ tục giao dịch trong
lĩnh vực BHXH, BHYT, BH thất nghiệp chỉ còn 115 thủ tục; giao dịch BHXH
điện tử từng bước được đẩy mạnh, hiện đã có gần 55 nghìn DN thực hiện kê
khai đóng BHXH qua mạng internet; thời gian thực hiện thủ tục hành chính
trong giao dịch với các doanh nghiệp, cá nhân về kê khai tham gia BHXH,
BHYT được rút ngắn từ 335 giờ/năm xuống còn 108 giờ/năm; việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong giao dịch và quản lý của Ngành đang tiếp tục được
đẩy mạnh.
Ngày 20/11/2014, Luật BHXH sửa đổi được Quốc hội khóa XIII thông qua
tại Kỳ họp thứ 8, gồm 09 Chương, 125 Điều, quy định chế độ, chính sách
BHXH; quyền và trách nhiệm của NLĐ, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến BHXH, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ
chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan BHXH; Quỹ BHXH; thủ tục
thực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH, ghi nhận thành tích trong quá
trình cải cách, đổi mới liên tục gần 20 năm qua, từng bước xây dựng, hoàn thiện