Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
Đề tài:Nhận xét về hoạt động ghi nhãn hàng thực phẩm ở Việt Nam hiện nay 2
A.Khái niệm: 2
B.Hoạt động ghi nhãn hàng thực phẩm ở Việt Nam 2
I.Quyết định ghi nhãn 2
1/ Cơ sở pháp lý của quy chế ghi nhãn 2
2/ Nội dung bắt buộc ghi nhãn 3
3/ Thể hiện nội dung ghi nhãn 3
Trên thực tế, không có quy định nào bắt buộc ghi rõ khối lượng tịnh sau rã đông
trên bao bì nên nhiều nhà sản xuất lợi dụng khe hở này để "cân điêu" cho người
tiêu dùng một cách hợp pháp 17
IV. Nhận xét thực trạng, đánh giá hoạt động ghi nhãn hàng hóa ở Việt Nam hiện
nay 19
1
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
Đề tài:Nhận xét về hoạt động ghi nhãn hàng thực phẩm ở Việt
Nam hiện nay.
A.Khái niệm:
Nhãn hàng hóa: Nhãn hàng hoá được hiểu là bản viết, bản in, hình vẽ, hình ảnh,
dấu hiệu được in chìm, in nổi trực tiếp hoặc được dán, đính, cài chắc chắn trên
hàng hoá hoặc bao bì để thể hiện các thông tin cần thiết, chủ yếu về hàng hoá đó
Ghi nhãn hàng hóa: .Ghi nhãn hàng hóa là việc ghi các thông tin cần thiết, chủ
yếu về hàng hóa lênnhãn hàng hóa nhằm cung cấp cho người tiêu dùng những
thông tin cơ bản để nhậnbiết hàng hóa, làm căn cứ để người mua quyết định việc
lựa chọn, tiêu thụ và sửdụng hàng hóa, các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm
tra giám sát.
B.Hoạt động ghi nhãn hàng thực phẩm ở Việt Nam.
I.Quyết định ghi nhãn
1/ Cơ sở pháp lý của quy chế ghi nhãn
_ QĐ 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 về “Quy chế ghi nhãn hàng hóa đối với
hàng hóa sản xuất để lưu thông trong nước, hàng hóa xuất nhập khẩu để tiêu thụ tại
_ Là tên đã sử dụng trong tiêu chuẩn Việt Nam của hàng hóa đó.
_ Là tên mô tả cụ thể nói lên bản chất, công dụng chính của thực phẩm.
_ Trường hợp tên thực phẩm đã quá quen thuộc hoặc đã được Việt hóa thì có thể
để nguyên tên nước ngoài bằng tiếng Anh, tiếng theo hệ chữ tiếng La-tinh hoặc
thêm tên mặt hàng kèm tên chữ bằng tiếng nước ngoài (Ví dụ: Rượu Whisky, Bánh
Snack, Bánh Pizza…), hoặc chữ phiên âm ra tiếng Việt ( Ví dụ: Sủi cảo, Tàu vị
yểu…).
3
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
_ Loại hàng hóa có bao bì thương phẩm chứa nhiều loại sản phẩm khác nhau có
thể ghi tên chủng loại các hàng hóa kèm theo tên hiệu của nhà sản xuất (ví dụ: Kẹo
các loại NESTLE, Bánh các loại LUBICO…) hoặc kèm theo tên thương mại của
hàng hóa ( Ví dụ: Bánh mứt kẹo Đà Nẵng…).
( Trường hợp nhãn hiệu hàng hóa đã được nhà nưóc bảo hộ hoặc có giấy phép
chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hàng hóa, tên hàng hóa không phải ghi bằng
tiếng Việt trên phần chính của nhãn).
3.1.2. Vị trí ghi trên nhãn sản phẩm:
Chữ viết tên hàng hóa phải được ghi trên mặt chính (PDP) của nhãn và có chiều
cao không nhỏ hơn một nửa (1/2) chữ cao nhất có mặt trên nhãn hàng hóa hoặc
không nhỏ hơn 2mm ở ngay phía trên, phía dưới bên cạnh tên thương mại hay tên
hiệu của cơ sở sản xuất.
3.2. Tên, địa chỉ thương nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa:
3.2.1. Nếu hàng hóa của thương nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa (gọi chung là
thương nhân) được hoàn chỉnh tại một cơ sở sản xuất của mình, nội dung ghi nhãn
gồm:
Tên của thương nhân………sản xuất tại…… ; hoặc
Sản phẩm của……… địa chỉ giao dịch……….
3.2.2 Nếu hàng hóa của cùng một doanh nghiệp được sản xuất hoàn chỉnh tại hai
hoặc nhiều cơ sở sản xuất khác nhau, nội dung ghi nhãn gồm:
Sản phẩm của…… địa chỉ……………sản xuất tại………
Đơn vị dùng là mg, g, kg.
5
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
Hàng hóa có dạng hỗn hợp chất rắn và chất lỏng phải ghi khối lượng chất rắn và
tổng khối lượng hỗn hợp gồm cả chất rắn và chất lỏng.
b) Ghi định lượng “thể tích thực” áp dụng cho:
_ Hàng hóa có dạng thể lỏng. Đơn vị đo thể tích được dùng là ml, l ở nhiệt độ
200C ( hoặc nhiệt độ xác định tùy thuộc vào tính chất riêng của hàng hóa).
Kích thước và chữ số để ghi định lượng theo qui định của TT34/1999/TT-BTM
(phụ lục C).
Vị trí để ghi định lượng nằm ở phía dưới của phần chính của nhãn hoặc gần vị trí
của tên hàng hóa
Chữ và số ghi định lượng theo dòng song song với đáy bao bì .
3.4. Thành phần cấu tạo:
3.4.1. Sản phẩm được làm ra từ hai loại nguyên liệu trở lên thì phải liệt kê tên các
loại nguyên liệu đó vào nội dung thành phần cấu tạo trên nhãn hàng hóa.Thành
phần cấu tạo không phải là thành phần dinh dưỡng hay chỉ tiêu chất lượng chính.
3.4.2. Thành phần cấu tạo được ghi theo thứ tự từ cao xuống thấp về khối lượng
hoặc tỉ khối (% khối lượng).
Thành phần cấu tạo phải ghi hàm lượng hoặc tỉ khối của nguyên liệu nếu tiêu
chuẩn không nêu được chỉ tiêu chất lượng chủ yếu quyết định bản chất và chất
lượng của sản phẩm mang tên.
3.4.3. Cách ghi tên các chất phụ gia thực phẩm là thành phần cấu tạo:
_ Tên nhóm và tên chất phụ gia.
Ví dụ: Chất bảo quản: Natri benzoat
_ Tên nhóm và mã số quốc tế của chất phụ gia.
Ví dụ: Chất bảo quản (211).
6
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
Nếu chất phụ gia là “hương liệu”, “chất tạo ngọt”, “chất tạo màu” cần ghi thêm “
Ví dụ: Cháo ăn kiêng (acid béo hòa tan thấp)
3.5.4. Việc lựa chọn các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu để ghi nhãn hàng hóa phụ
thuộc vào:
Bản chất của sản phẩm.
Thuộc tính tự nhiên của sản phẩm.
Mối quan hệ trực tiếp đến công dụng chính và độ an toàn cần thiết của sản phẩm.
3.5.5.Trường hợp phân loại chất lượng: phải ghi lên nhãn hàng hóa các thông số
kinh tế, định lượng chỉ tiêu chất lượng chủ yếu
Ví dụ: Nước mắm cao cấp 20 độ đạm.
3.6. Ngày sản xuất, hạn sử dụng, thời hạn sử dụng:
3.6.1. Ngày sản xuất gồm hai số chỉ ngày, hai số chỉ tháng, hai số chỉ năm (số chỉ
năm có thể ghi bốn chữ số) hoàn thành sản xuất hàng hóa đó. Có thể ghi như sau:
Ngày sản xuất: 03.04.00, hoặc
NSX: 03/04/2000, hoặc
NSX: 030400
Ghi như trên có nghĩa là sản phẩm hoàn thành vào ngày 03 tháng 4 năm 2000.
3.6.2. Hạn sử dụng (HSD) hoặc hạn bảo quản (HBQ) là số chỉ ngày, tháng, năm
(cách ghi như NSX) mà quá mốc thời gian đó hàng hóa không còn được bảo hành
và không được phép lưu thông trên thị trường.
8
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
3.6.3. Thời hạn sử dụng (THSD) hoặc thời hạn bảo quản (THBQ) là khoảng thời
gian kể từ ngày sản phẩm hoàn thành đến thời điểm mà hàng hóa không còn được
bảo hành và không được phép lưu thông trên thị trường.
Có thể ghi hạn sử dụng theo 2 cách:
o NSX + THSD (hoặc THBQ): NSX: 12/07/00 THSD: 1 năm
o HSD: 12/07/01
Thực phẩm có bao gói, sử dụng quá 24 giờ đều phải có hạn sử dụng.
3.7. Hướng dẫn bảo quản, sử dụng:
_ Có thể ghi trong tài liệu kèm theo thực phẩm.
vàngôn ngữ.
6.Nội dung ghi trên nhãn hàng hóa bị tẩy xóa, sửa đổi.
7.Thay nhãn hàng hóa nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng.
8.Sử dụng nhãn hàng hóa đã được pháp luật bảo hộ mà không được sự chấp thuận
củachủ sở hữu.
9.Nhãn hàng hóa trùng với nhãn hàng hóa cùng loại của thương nhân khác đã
đượcpháp luật bảo hộ.
* Hình thức xử phạt:
• Phạt cảnh cáo
• Phạt tiền
• Tịch thu, tiêu hủy hàng hóa
• Tước quyền sử dụng : giấy chứng nhận hợp chuẩn; giấy chứng nhận hợp quy; giấy
chứng nhận điều kiện hoạt động của tổ chức chứng nhận sự phù hợp; giấy chứng
nhận kiểm định, tem kiểm định, dấu kiểm định; các giấy phép, chứng chỉ hành
nghề do cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng cấp
III. Thực trạng ghi nhãn hàng thực phẩm ở Việt Nam.
1. Thực phẩm trong nước.
Qua các đợt kiểm tra chuyên đề về nhãn hàng hoá đối với nhóm hàng hoá thực
phẩm trong thời gian gần đây, cho thấy, bên cạnh những cơ sở cung cấp thông tin
10
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
trên nhãn hàng hoá trung thực, đầy đủ còn có rất nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh
trong nước vi phạm qui chế ghi nhãn. Phổ biến là ghi không đủ các nội dung về
tên, thời gian và nơi sản xuất, tên chất bảo quản, phụ gia thực phẩm,…và ghi
không đúng các nội dung theo quy định đối với cả hàng tươi sống và qua chế biến.
• Ngày sản xuất (NSX) và hạn sử dụng (HSD) là một nội dung bắt buột phải ghi rõ
ngày tháng năm nhưng không ít nhà sản xuất chỉ ghi HSD mà không ghi NSX. Rồi
việc ghi không trung thực các nội dung bắt buột làm sai lệch thông tin về hàng hoá.
Chẳng hạn tại thời điểm cơ sở đang đóng gói nhưng sử dụng nhãn hàng hoá có
NSX sau đó cả 10 ngày ! Hoặc ghi hạn sử dụng trên nhãn 4 tháng trong khi tiêu
13
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
• Không rõ nguồn gốc xuất xứ sản phẩm
Rất nhiều sản phẩm bày bán trên thị trường mà người mua không thể biết rõ được
xuất xứ của chúng từ đâu. Nhất là các mặt hàng thực phẩm tươi sống không bao
gói, bán rộng rãi ở nhiều cửa hàng.
14
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
• Không có nhãn trên sản phẩm. Các sản phẩm không có bất cứ thông tin gì cung cấp
cho người tiêu dùng. Bao bì bằng giấy kém chất lượng, chữ luôn bị nhòe lên
nhau.Chúng được đựng trần trong các hộp hay gói nilon đơn giản. những hình ảnh
thế này chúng ta có thể bắt gặp ở rất nhiều nơi, đặc biệt là trong các cửa hàng kinh
doanh nhỏ lẻ
- Các hộp nhựa đựng nước trái cây và ô mai không có thông tin về sản phẩm, không
ghi hạn sử dụng, cách thức bảo quản.
15
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
-Dạo qua những điểm chuyên kinh doanh bánh l mứt l kẹo như Hàng Buồm, Hàng
Giầy, chợ Đồng Xuân, các loại bánh kẹo bày bán hầu hết đựng trong các bao nylon
cũng chỉ có mảnh giấy nhỏ in tên một số cơ sở nhỏ lẻ sản xuất, nhưng không hề có
thành phần, nguyên liệu, phụ gia, hạn dùng Thậm chí, một số loại tồn đọng từ
năm trước vỏ nhàu nhĩ, bám đầy bụi bẩn.
2.Thực phẩm nhập khẩu
16
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
Hàng nhập khẩu có trên thị trường Việt Nam thì có quy cách ghi nhãn riêng của
từng nước từng quốc gia Nhưng vẫn ghi đầy đủ các thông tin chính và quy chuẩn
chung của thế giới đặc biệt là ghi xuất xứ rõ ràng và cung cấp đầy đủ thông tin dễ
hiểu khoa học cho người tiêu dùng.Một số thực phẩm còn có thêm kiểm định của
cục hải quan xuất nhập khẩu => người tiêu dùng an tâm.
650gr gồm 5 - 6 khúc cá/gói. Xung quanh những miếng cá này có khá nhiều tuyết
trắng bám vào, thậm chí có những khúc lượng tuyết còn phủ kín hết phần thịt cá.
Một sản phẩm khác là vỉ nguyên liệu cho một nồi lẩu hải sản, lẩu thập cẩm. Sản
phẩm này có khối lượng là 450g (cho nồi lẩu nhỏ) và 900g (cho nồi lẩu lớn). Qua
tham khảo, thành phần của sản phẩm này bao gồm: Ốc, mực, cá, tôm cùng vài lát
cà chua, cà rốt và một số hương liệu cơ bản tạo mùi thơm.
sản phẩm cá trứng được nhà sản xuất khi khối lượng tịnh là 200g/vỉ, nhưng thực tế
sau khi rã đông chỉ còn khoảng 160g/vỉ. Như thế, tỷ lệ mạ băng lên tới 20%, nhưng
lại không được thể hiện trên bao bì. Thậm chí, nhiều sản phẩm hải sản có độ xuống
nước nhanh thì tỷ lệ mạ băng còn lên tới 25%. "Một chiêu trò "ăn gian" của nhà
sản xuất là nhanh chóng đưa sản phẩm vào mạ băng ngay khi thực phẩm còn tươi.
Với cách làm này, nhà sản xuất vừa được tiếng là cung cấp hàng ngon, đảm bảo,
nhưng bên cạnh đó, sản phẩm chưa kịp ráo nước sẽ nặng cân hơn, từ đó họ sẽ thu
lời nhiều hơn
• . Hàng đã qua chế biến :Thiếu khối lượng.
Là những loại đồ hộp có nước là những mặt hàng thường thiếu trọng lượng
nhiều nhất. Các sản phẩm này đều được đóng trong những vỏ hộp bằng nhựa, sắt
tây nên khá nặng cân. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các sản phẩm đều được các
nhà sản xuất cố tình "lờ" việc trừ trọng lượng bao bì. Hay nhiều trường hợp trên
nhãn hàng hóa ghi không đúng xuất xứ để nâng giá, như: Cá biển của Đài Loan
nhưng doanh nghiệp đóng gói lại ghi xuất xứ từ Nhật Bản để hợp thức hóa việc
18
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
"thổi giá" hiện công ty đang có một số thực phẩm phục vụ ăn nhanh như: Xúc xích,
thịt xông khói Do tính chất của mặt hàng này là đồ trữ lạnh nên việc mạ băng là
một trong những biện pháp bảo quản sản phẩm.
Tuy nhiên, sản phẩm của mặt hàng đã qua sơ chế, không phải mặt hàng tươi sống
đưa vào đóng băng, người dùng chỉ việc làm nóng bằng cách đảo qua dầu ăn hay lò
vi sóng nên khi đưa vào sử dụng khối lượng hầu như vẫn được bảo toàn như quy
chuẩn trên bao bì".hiện nay chưa có quy chuẩn nào cho mức mạ băng sản phẩm.
năm trở lại đây việc ghi nhãn mác này cũng được nhà sản xuất chú ý tới rất nhiều. Đối
với những hàng thực phẩm trong nước, kể cả hàng tươi sống hay đã qua chế biến được
các đơn vị sản xuất ghi nhãn mác khá đầy đủ những thông tin cơ bản cần có, những nhãn
mác này được đơn vị sản xuất quan tâm hơn về nội dung, về cách trình bày, tránh tình
trạng nhãn mác mập mờ, người tiêu dùng không thể đọc được những thông tin thiết yếu
trên sản phẩm. Còn đối với những hàng hóa thực phẩm nhập khẩu, vì được nhập khẩu
bên nước ngoài nên khi vào thị trường Việt cũng đã được chú ý hơn tới việc có thêm
nhãn phụ để chú thích về hàng hóa khá đầy đủ, những hàng hóa nhập khẩu đảm bảo chất
lượng đều có nhãn phụ ghi khá chi tiết, đầy đủ thông tin, đúng thông tin như trên nhãn
gốc để làm cho người tiêu dùng yên tâm hơn khi sử dụng hàng hóa.
Tuy vậy, thực trạng về hoạt động ghi nhãn hàng thực phẩm ở Việt Nam vẫn tồn tại
khá nhiều những vi phạm trong việc ghi nhãn. Bên cạnh những nhà sản xuất có trách
nhiệm, làm ăn lâu dài, tôn trọng, quan tâm tới sức khỏe người tiêu dùng, vẫn xuất hiện
những nhà sản xuất cung cấp hàng hóa ra thị trường ghi rất mập mờ về nhãn mác nhằm
lợi dụng sự thiếu cảnh giác của người tiêu dùng, cơ quan chức trách nhằm đẩy hàng hóa
tiêu thụ ra thị trường. Vẫn còn tồn tại khá nhiều những thực phẩm ghi không chính xác
nơi sản xuất của thực phẩm. Tuy nhiên, những sai phạm do ghi thiếu hay không đầy đủ
thông tin hàng hóa thì có thể dễ dàng nhận ra được, còn khai sai trọng lượng thực của
hàng hóa thì không phải lúc nào ta cũng phát hiện ra được dễ dàng. Đối với mặt hàng
thực phẩm tươi sống kể cả trong nước cũng như nhập khẩu, rất hay bị nhà sản xuất ghi
nhãn không chính xác hay thiếu thông tin về trọng lượng thực, vì đặc điểm của loại hàng
này thường là phải bảo quản trong điều kiện lạnh và được mạ băng để dễ dàng bảo quản,
song với thực trạng đã nêu ra trước đó thì đây chính là cách mà nhà sản xuất có thể mập
mờ ghi nhãn về trọng lượng thực của thực phẩm này sau khi giã đông. Tuy đã có những
20
Nhóm 7 –tổng luận thương phẩm học
quy định về tỷ lệ mạ băng trong sản phẩm thực phẩm tươi sống song vẫn có nhiều nhà
sản xuất không mấy để ý đến việc ghi thông tin này lên nhãn sản phẩm của mình. Nguyên
nhân vẫn còn tồn tại hiện tượng này vì việc kiểm tra trọng lượng thực của hàng hóa
không phải lúc nào cũng kiểm tra được vì việc kiểm tra mất khá nhiều thời gian và có thể
thông trên thị trường.
- Cục quản lý chất lượng hàng hóa tiếp tục phối hợp với các Chi Cục Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng kiểm tra đối với các cơ sở sản xuất có các hành vi vi phạm về
chất lượng, đồng thời tăng cường kiểm tra chất lượng và ghi nhãn hàng hoá đối
với hàng thực phẩm.
- Các thực phẩm bao gói sẵn phải bắt buộc ghi nhãn theo quy định của pháp luật
về ghi nhãn thực phẩm.
-Tùy từng loại thực phẩm bao gói sẵn, ngoài các quy định trên, nội dung bắt
buộc ghi nhãn còn phải đáp ứng một số quy định sau đây:
+ Thông tin trên nhãn phải đúng bản chất sản phẩm, trung thực, chính xác, rõ
ràng, không gây hiểu lầm cho người sử dụng;
+ Đối với thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng,
trên nhãn phải thể hiện được các nội dung chính sau: công bố thành phần dinh
dưỡng; hoạt chất tác dụng sinh học; tác dụng đối với sức khỏe; chỉ rõ đối tượng,
liều dùng, cách dùng, cảnh báo nếu có.
+ Đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm bổ sung vitamin, khoáng
chất, chất vi lượng không nhằm phổ cập cộng đồng như thức ăn công thức dành
cho bà mẹ mang thai, trẻ em dưới 36 tháng tuổi và thức ăn qua ống thông cho
người bệnh phải công bố mức đáp ứng so với nhu cầu dinh dưỡng, liều lượng sử
dụng của từng đối tượng và hướng dẫn của bác sĩ;
+Thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia
thực phẩm, một số thực phẩm biến đổi gen (thuộc đối tượng phải ghi nhãn theo
quy định của pháp luật về ghi nhãn đối với thực phẩm biến đổi gen) phải ghi rõ
thành phần và hàm lượng có trong thực phẩm;
+ Khi lấy thành phần nào đó trong sản phẩm làm tên sản phẩm thì phải ghi rõ
hàm lượng thành phần đó bên cạnh tên sản phẩm;
+Tên sản phẩm phải là cỡ chữ lớn nhất, rõ nhất và tối thiểu gấp 3 lần cỡ chữ
khác trên nhãn.
+Khi chuyển dịch nhãn phải bảo đảm không sai lệch nội dung so với nhãn gốc.
22