Đánh Giá Hiệu Quả Áp Dụng Sản Xuất Sạch Hơn Cho Nhà Máy Chế Biến Tinh Bột Sắn INTIMEX Thanh Chương, Nghệ An - Pdf 42

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
---------------------------------------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG SẢN XUẤT SẠCH HƠN
CHO NHÀ MÁY CHẾ BIẾN TINH BỘT SẮN INTIMEX
THANH CHƯƠNG, NGHỆ AN
Sinh viên thực hiện
Lớp
Khóa
Chuyên ngành

: PHẠM THỊ DIỆP ANH
: MTE
: 57
: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Giáo viên hướng dẫn

: ThS. CAO TRƯỜNG SƠN
ThS. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ

Địa điểm thực tập

: NHÀ MÁY CHẾ BIẾN TINH BỘT
SẮN INTIMEX THANH CHƯƠNG
Hà Nội - 2016



ii


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
APO

Cơ quan năng suất Châu Á

ANZECC

Hội đồng Bảo tồn và môi trường Australia và New Zealand

BOD5

Biochemical Oxygen Demand

COD

Chemical oxygen demand

DN

Doanh nghiệp

GTRT

Giảm thiểu rác thải

ISO



Sản xuất sạch hơn

SP

Sản phẩm

TNHH

Trách nhiệm hữu hạng

UNEP

Chương trình môi trường Liên hợp quốc

UNIDO

Tổ chức phát triển Công nghiệp của Liên hợp quốc

US. EPA

US Enviromental Protection Agency.

VNCPC

Trung tâm SXSH Việt Nam

WBCSD
WRAP



v


ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp vì vậy sản xuất lương thực thực
phẩm là một vấn đề thiết yếu trong cuộc sống người dân. Ngoài hai loại cây
chủ yếu là lúa và ngô thì sắn là một loại cây lương thực quan trọng đứng hàng
thứ 3. Cây sắn hiện nay đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực, thực phẩm
thành cây công nghiệp hàng hóa có lợi thế cạnh tranh cao. Sản xuất sắn là
nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén
đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ. Theo Tổng
cục Thống kê năm 2012 thì Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung là vùng
sản xuất sắn nhiều nhất cả nước với 175 nghìn ha và sản lượng khoảng 3 triệu
tấn năm 2012. Tây Nguyên là vùng sản xuất sắn thứ 2, tập trung chủ yếu ở 4
tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông. Năm 2012 diện tích sắn của
Tây Nguyên đạt 149,5 ha, năng suất bình quân chỉ 17 tấn/ha, tổng sản lượng
2,5 triệu tấn; vùng Đông Nam Bộ đứng thứ 3 với 96,5 nghìn ha và sản lượng
2,4 triệu tấn. Sắn được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như sản xuất
tinh bột, sản xuất thức ăn chăn nuôi và xuất khẩu. Trong đó thì sản xuất tinh
bột sắn là chiếm phần lớn.
Sản xuất và chế biến sắn đã đem lại cho nước nhà cũng như người dân
nguồn thu nhập không hề nhỏ. Tuy nhiên thực tế hiện nay việc sản xuất gặp
rất nhiều khó khăn và thách thức như cơ sở vật chất, trang thiết bị sản xuất,
công nghệ và trình độ của người quản lý... Từ đó gây ra những thất thoát lãng
phí trong quá trình sản xuất, chất thải không được tận thu triệt để dẫn đến gây
ô nhiễm môi trường.
Sản xuất sạch hơn được biết đến như một tiếp cận giảm thiểu ô nhiễm
tại nguồn thông qua việc sử dụng nguyên nhiên liệu có hiệu quả hơn. Việc áp

trường tổng hợp đối với các quá trình sản xuất, các sản phẩm và các dịch vụ
nhằm làm giảm tất cả các tác động xấu đến môi trường và con người.
Đối với các quá trình sản xuất, SXSH bao gồm việc bảo toàn nguyên
liệu, nước và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và làm giảm khối
lượng, độc tính của các chất thải vào nước và khí quyển.
Đối với các sản phẩm, chiến lược SXSH nhằm vào mục đích làm giảm
tất cả các tác động đến môi trường trong toàn bộ vòng đời của các sản phẩm,
từ khi khai thác nguyên liệu đến khâu thải bỏ cuối cùng.
Đối với các dịch vụ, SXSH là sự lồng ghép các mối quan tâm về môi
trường trong việc thiết kế và cung cấp dịch vụ.
Tóm lại, SXSH đòi hỏi áp dụng các bí quyết, cải tiến công nghệ và thay
đổi thái độ. SXSH không ngăn cản sự phát triển, SXSH chỉ yêu cầu rằng sự
phát triển phải bền vững về mặt môi trường sinh thái và hiệu quả kinh tế.
Các khái niệm và thuật ngữ liên quan: công nghệ sạch, phòng ngừa ô
nhiễm, giảm thiểu rác thải, kiểm soát ô nhiễm, năng suất xanh.
Công nghệ sạch: Bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào được các ngành công nghiệp
áp dụng để giảm thiểu hay loại bỏ quá trình phát sinh chất thải hay ô nhiễm tại nguồn
và tiết kiệm được nguyên liệu và năng lượng đều được gọi là công nghệ sạch. Các
biện pháp kỹ thuật này có thể áp dụng từ khâu thiết kế để thay đổi quy trình sản xuất
hoặc là các áp dụng trong dây chuyền sản xuất nhằm tận dụng phụ phẩm để tránh
thất thoát (OCDE, 1987).
Phòng ngừa ô nhiễm: Hai thuật ngữ SXSH và phòng ngừa ô nhiễm (PNON)
thường được sử dụng thay thế nhau. Chúng chỉ khác nhau về mặt địa lý thuật ngữ

3


PNON được sử dụng ở Bắc Mỹ trong khi SXSH được sử dụng ở các khu vực còn lại
trên thế giới.
Giảm thiểu rác thải: Khái niệm về giảm thiểu rác thải được đưa vào năm

trong và bên ngoài công ty. Cụ thể là:
- Nâng cao hiệu quả sản xuất do áp dụng SXSH dẫn đến hiệu quả sản
xuất tốt hơn, nghĩa là có nhiều sản phẩm được tạo ra hơn trên một đơn vị đầu
vào nguyên liệu thô.
- Bảo toàn nguyên liệu và năng lượng thô: do giảm được nguyên liệu thô
và năng lượng đầu vào nên giảm được chi phí đầu vào, đồng thời giảm được
chi phí xử lí. Đây là các yếu tố doanh nghiệp đặc biệt quan tâm vì nguồn tài
nguyên ngày càng cạn kiệt, giá cả tăng cao.
- Các cơ hội thị trường mới và tốt hơn: Do nhận thức của người tiêu
dùng về môi trường ngày càng tăng nên đòi hỏi các doanh nghiệp phải thể
hiện được sự thân thiện với môi trường trong sản phẩm và quá trình sản xuất
của họ. Do đó khi thực hiện SXSH sẽ nâng cao được hình ảnh của công ty
trong việc bảo vệ môi trường vì vậy người tiêu dùng và các đối tác dễ dàng
chấp nhận các sản phẩm của công ty hơn, có thể mở ra được nhiều cơ hội thị
trường mới và sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn và bán ra thị
trường với giá cao hơn (Bộ Công Thương, 2011).
- Giảm chi phí tổng thể: SXSH giúp tối ưu hóa các quy trình sản xuất và
giảm lượng chất thải phát sinh, do mức tiêu thụ nguyên vật liệu, năng lượng và
nước được giảm bớt. Từ đó giảm chi phí đầu vào, đồng thời giảm chi phí xử lý.
- Môi trường làm việc tốt hơn: bằng cách đảm bảo các điều kiện làm việc
thích hợp thông qua thực hành SXSH: công nghệ sản xuất ít rò rỉ chất thải
hơn, quản lý nội vi tốt hơn nên môi trường làm việc sạch sẽ và trong lành
hơn, ít phát sinh ra tai nạn lao động, giảm đáng kể các bệnh nghề nghiệp.
Doanh nghiệp có thể làm tăng ý thức của các cán bộ, đồng thời xây dựng ý
thức kiểm soát chất thải. Các hoạt động như vậy sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt
được khả năng cạnh tranh (Nguyễn Xuân Hoàn, Võ Đình Long,2014).
- Tiếp cận dễ dàng với các nguồn tài chính: Các cơ quan tài chính ngày
một nhận thức rõ sự nghiêm trọng của việc hủy hoại môi trường và hiện đang

5

1.1.3. Các giải pháp kỹ thuật để đạt được sản xuất sạch hơn
Trong thực tế sản xuất có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát
thải các chất ô nhiễm vào trong môi trường: quá trình quản lý người lao động,
nguyên liệu đầu vào, yếu tố khách hàng hay yếu tố công nghệ,…do vậy việc
thay đổi các yếu tố này có thể dẫn đến việc thay đổi quá trình phát thải chất ô
nhiễm vào môi trường.
Các giải pháp sản xuất sạch hơn không chỉ đơn thuần là thay đổi thiết bị, mà
còn là các thay đổi trong quá trình vận hành và quản lý của một doanh nghiệp. Các
giải pháp sản xuất sạch hơn có thể chia thành các nhóm sau: Giảm chất thải tại
nguồn, tuần hoàn và tái sử dụng tại chỗ, thay đổi sản phẩm.
1.1.3.1. Giảm chất thải tại nguồn
Trong nhóm giải pháp giảm chất thải tại nguồn bao gồm:
-

Quản lý nội vi là một phương pháp đơn giản nhất của SXSH. Quản lý nội vi

không đòi hỏi chi phí đầu tư và có thể được thực hiện ngay sau khi xác định nguyên
nhân và tìm được các giải pháp xử lý.
- Tối ưu hóa quá trình sản xuất để đảm bảo các điều kiện sản xuất được
tối ưu hoá về mặt tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất và phát sinh chất thải. Các
thông số của quá trình sản xuất như nhiệt độ, thời gian, áp suất, pH, tốc độ...
cần được giám sát và duy trì càng gần với điều kiện tối ưu càng tốt, làm cho
quá trình sản xuất đạt được hiệu quả cao nhất, có năng xuất tốt nhất.
- Thay đổi nguyên liệu là việc thay thế các nguyên liệu đang sử dụng
bằng các nguyên liệu khác thân thiện với môi trường hơn. Thay đổi nguyên
liệu còn có thể là việc mua nguyên liệu có chất lượng tốt hơn để đạt được hiệu
suất sử dụng cao hơn.
- Cải tiến thiết bị là việc thay đổi thiết bị đã có để nguyên liệu tổn thất ít
hơn. Việc cải tiến thiết bị có thể là điều chỉnh tốc độ máy, là tối ưu kích thước
kho chứa, là việc bảo ôn bề mặt nóng/lạnh, hoặc thiết kế cải thiện các bộ phận

đầu tiên của UNEP về lĩnh vực này được tổ chức tại Canterbury (Anh). Sau
đó các hội nghị tiếp theo đã được tổ chức cứ 2 năm một: tại Paris (Pháp,
1992); Warsaw (Ba Lan, 1994); Oxford (Anh, 1996); Phoenix (Hàn Quốc,
1998); Montreal (Canada, 2000), Prague (CH Séc, 2002),… Năm 1998, thuật
ngữ SXSH được chính thức sử dụng trong "Tuyên ngôn Quốc tế về sản xuất
sạch hơn" (International Declaration on Cleaner Production) của UNEP

8


(Khoa Môi trường – ĐH Khoa học Huế, 2012). Nhìn chung các nước công
nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch,… khái
niệm SXSH được biết đến từ năm 1985. Các nước châu Á như Ấn Độ,
Singapore, Thái Lan,… thực hiện từ năm 1993 đến nay.
Chương trình WRAP (Waste reduction program couple with cost
reduction – giảm chất thải đi đôi với giảm chi phí) đã cắt giảm phát thải 58
chất gây ô nhiễm xuống hơn một nửa vào năm 1995 và đang tiếp tục giảm
thiểu nhiều hơn.Ở Newzealand các Công ty đã tiết kiệm được từ 50 – 100%
chi phí hàng năm nhờ giảm thiểu chất thải và nơi nào táu sử dụng chất thải
còn thu được lợi nhuận. Thời gian thu hồi vốn trong một số trường hợp chỉ
vài ngày hoặc vài tuần.
Tại Nhật Bản, công nghệ SXSH được chia thành hai loại hình chính,
loại hình công nghệ thông thường cho mỗi biện pháp hay còn gọi là “công
nghệ cứng” và công nghệ quản lý “công nghệ mềm”, dựa trên các ý tưởng về
giảm tác động môi trường của tất cả các công đoạn từ khai thác nguyên liệu
đầu vào đến thải bỏ hoặc tái chế các sản phẩm sau sử dụng. Hình thức SXSH
phổ biến nhất được thể hiện thông qua các chính sách về tiết kiệm năng
lượng, với mục tiêu làm giảm lượng phát thải khí nhà kính. Hiện nay, đã có
190 công nghệ SXSH của Nhật Bản được Trung tâm Công nghệ môi trường
Liên Hiệp quốc xây dựng thành một cơ sở dữ liệu có thể chuyển giao vào

đang bắt đầu quan tâm nghiêm chỉnh tới sản xuất sạch. Ở Lithuania, vào
những năm 1950 chỉ có 4% các Công ty triển khai sản xuất sạch, con số này
đã tăng lên 35% vào những năm 1990. Ở cộng hoà Séc, 24 trường hợp nghiên
cứu áp dụng sản xuất sạch đã cho thấy chất thải công nghiệp phát sinh đã
giảm gần 22000 tấn một năm, bao gồm cả 10.000 tấn chất thải nguy hại.
Nước thải đã giảm 12.000 m3 một năm và lợi ích kinh tế ước tính khoảng 2,4
tỷ đô la Mỹ hàng năm. (Khoa Môi trường – ĐH Khoa học Huế, 2012).
Ở khu vực châu Phi, với sự giúp đỡ của các chương trình UNEP, 4 lĩnh
vực tiêu thụ và sản xuất bền vững cho khu vực đã được xác định và các hành
động cụ thể đã được bắt đầu. Các lĩnh vực ưu tiên đó chính là năng lượng,
nước và vệ sinh; sự phát triền đô thị và nơi cư trú; và công nghiệp dựa vào
năng lượng tái tạo. Các biện pháp SXSH và các trung tâm SXSH là nhân tố

10


chủ chốt trong việc thực thi kỹ thuật tại các khu vực. Một khía cạnh quan
trọng khác đối với khu vực này đó là sự hợp tác chặt chẽ với 2 đối tác quan
trọng đó là African Roundtable on SCP và Marrakech Task Force on
Cooperation for Africa, những tổ chức hỗ trợ cho việc thực hiện chương trình
khung 10 năm của châu Phi (African 10YFP). (Khoa Môi trường – ĐH Khoa
học Huế, 2012).
Ngày nay, SXSH đã được áp dụng thành công ở cả các nước đang phát
triển như Trung Quốc, Ấn Độ, CH Séc, Tanzania, Mêhicô, v.v... và đang
được công nhận là một cách tiếp cận chủ động, toàn diện trong quản lý môi
trường công nghiệp. Một số kết quả áp dụng SXSH tiêu biểu:
- Ở Trung Quốc các dự án thực nghiệp tại 51 công ty trong 11 ngành
công nghiệp cho thấy SXSH đã giảm được ô nhiễm từ 15 – 31% và có hiệu
quả gấp 5 lần so với các phương pháp truyền thống (Khoa Môi trường – ĐH
Khoa học Huế, 2012).

khí nhà kính trong các ngành công nghiệp ở châu Á và Thái Bình Dương
(GERIAP) công ty đã tiết kiệm được khoảng 2.600 USD hàng năm, hoàn vốn
ngay lập tức, tiết kiệm được 20.000 lít nhiên liệu thải dầu mỗi năm và khí nhà
kính hàng năm giảm được 53 tấn CO2 (UNEP, 2006a).
- Ở Trung Quốc:
+ Công ty TNHH Sắt & thép Thạch Gia Trung (Shijiazhuang Iron & Steel
company limited) nằm trong Thành phố Thạch Gia Trang, thủ phủ của tỉnh
Hà Bắc ở Trung Quốc. Nó là một doanh nghiệp thuộc sở hữu lớn của nhà
nước, sản xuất tròn kết cấu chất lượng. Công ty đã áp dụng thành công các
giải pháp tiết kiệm nước và tái chế với vốn đầu tư ban đầu khoảng 1.17 triệu
USD. Tiết kiệm khoảng 1.390.000 USD/năm, thời gian hoàn vốn kết hợp là
10 tháng, đồng thời giảm 271 tấn CO2/năm (UNEP, 2006b).
+ Công ty TNHH Hóa chất công nghiệp An Huy Liquan sản xuất các loại
hóa chất như Amoniac, phân đạm, hydrogen peroxide, axit amoni cacbonat,
methanol, lưu huỳnh,… và sản lượng khoảng 1 triệu tấn/năm. Công ty đã đầu tư
cho SXSH khoảng 686.000 USD. Giảm 35.883 than tấn/năm, giảm 42.000 kWh
điện/năm. Tương đương, tiết kiệm hàng năm là 1.326.000 USD, hoàn vốn sau 6
tháng. Đồng thời, giảm phát thải khí nhà kính 54.307 tấn/năm, giảm các chất ô

12


nhiễm trong khí quyển khác như SO2 (5 tấn/năm), NOx(196,7 tấn/năm), CO
(8,2 tấn/năm) và PM10(216 tấn/năm) (UNEP, 2006b).
- Ở Thái Lan:
+ Công ty TNHH Hóa chất Á Châu nằm trong Bangpakong ở Thái Lan,
sản xuất các loại sản phẩm bao gồm đồng sulphate, oxit đồng, đồng clorua và
các loại khác với tổng sản lượng khoảng 6.000 tấn mỗi năm. Công ty tham gia
vào dự án GERIAP để tăng năng lực của mình trong áp dụng các phương
pháp hiệu quả năng lượng. Công ty đã đầu tư khoảng 72.753 USD và tiết

khuôn khổ dự án US/VIE/96/063 do Chính phủ Thụy Sĩ (thông qua Cục Kinh
tế Liên bang Thụy Sĩ – SECO) tài trợ. Dự án này do Tổ chức Phát triển Liên
hợp quốc (UNIDO) điều hành và Trường Đại học Bách Khoa (trực tiếp là
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường) thực hiện. VNCPC hiện là thành
viên chính thức trong mạng lưới toàn cầu của UNIDO – UNEP về “Hiệu quả
tài nguyên và Sản xuất sạch hơn” (RECP), liên tục nỗ lực để xây dựng một
nền sản xuất và tiêu thụ bền vững (SCP) ở Việt Nam và khu vực (Trung tâm
Sản xuất sạch hơn, 2013)
Qua quá trình triển khai thành công đánh giá SXSH tại khoảng 300
doanh nghiệp trên cả nước, những kết quả thu được đã khẳng định SXSH
hoàn toàn có thể được áp dụng thành công ở các doanh nghiệp Việt Nam và
mang lại hiệu quả về kinh tế và môi trường cho bản thân doanh nghiệp cũng
như cộng đồng.
Trong suốt những năm qua, VNCPC đã đào tạo va xây dựng một mạng
lưới các chuyên gia nòng cốt về SXSH trên cả nước để thực hiện kế hoạch
này về bảo vệ môi trường. Các hoạt động của VNCPC được quản lý tích hợp
theo ISO 9001 và 14001 (chất lượng kết hợp môi trường) do tổ chức hàng đầu
thế giới trong lĩnh vực giám định, thử nghiệm, thẩm tra và chứng nhận SGS
của Thụy Sĩ cấp chứng chỉ và đánh giá giám sát từ năm 2002 đến nay (Trung
tâm Sản xuất sạch hơn, 2010).
Mục tiêu của nước ta hiện nay là phấn đấu gia đoạn 2016 – 2020 có
90% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng
SXSH trong công nghiệp, 90% các sở Công Thương có cán bộ chuyên trách
đủ năng lực hướng dẫn SXSH cho các cơ sở sản xuất công nghiệp, phát triển

14


mạng lưới chuyên gia tư vấn, giảng viên, cán bộ hỗ trợ SXSH có đủ năng lực,
đáp ứng nhu cầu tư vấn, đào tạo và hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghiệp

-Quản lí nội

Lợi ích MT
Giảm 2.300 tấn

Lợi ích kinh tế
Giảm 15-20% lượng

vi
-Thay đổi

khí thải

điện tiêu thụ còn

CO2/năm

170 lít dầu/tấn sản

thiết bị
-Thay đổi

phẩm ~864000 lít
dầu FO/năm (Lan

công nghệ

Phương, 2011)

15


năng suất

công nghệ

Giảm 3.300 m3
nước thải/năm
Giảm tỷ lệ chai
vỡ
Giảm lượng

rửa chai
Tổn thất
bia tại khâu
bão hòa

-Bổ sung
thiêt bị
- Thay đổi
công nghệ

tháng
Tiết kiệm 550 triệu
VNĐ/năm
Thu hồi vốn sau 3

nước thải phát

năm
Tiết kiệm 84 triệu


Giải pháp

Lợi ích MT

Quản lí nội vi

Giảm phát thải

Tiết kiệm 212 triệu

30 tấn bụi/năm

VNĐ/năm

Giảm phát thải

Tiết kiệm 100 triệu

275 tấn

VNĐ/năm (Bộ Công

CO2/năm

Thương, 2010a)

-Quản lí nội
vi.
-Kiểm soát

giảm ô nhiễm

lớn

môi trường

-Tiết kiệm 30% năng
lượng điện, tiêt kiệm
1,6 tỷ đồng/năm
(Bảo Ngọc, 2011)

Tại Thanh Hóa: Công ty cổ phần bia Thanh Hóa tiến hành nghiên cứu áp
dụng SXSH năm 2011 đã xác định được các nguyên nhân thất thoát nguyên liệu,
nước thải có hàm lượng chất hữu cơ cao. Nhóm nghiên cứu đã đưa ra các giải
pháp quản lí nội vi, bổ sung thiết bị giúp công ty giảm được 96000 lít nước thải/
năm

giảm được 16,08 kg BOD; 24 kg COD; 12,984 kg SS; 53052x105 MPN

coliform xả vào môi trường. Đồng thời, tiết kiệm được 2343,72 triệu đồng/ năm,
thời gian hoàn vốn là 3,3 năm ( Hồ Thị Lam Trà và cs, 2014)
Tại Quảng Nam: Công ty TNHH sản xuất và thương mại Nam Hưng là
một công ty tư nhân thành lập từ năm 2005, chuyên sản xuất và gia công các
sản phẩm dệt làng nghề các loai theo nhu cầu của thị trường. Vấn đề đặt ra
với công ty là các ô nhiễm của quá trình sản xuất là nhiệt độ, khói và bụi thải
lò hơi, bụi bông, nước thải có BOD và các hóa chất dư cao. Công ty đã tiến
hành nghiên cứu áp dụng SXSH và đạt được nhiều lợi ích như giảm phát thải
bụi trong khói thải, giảm phát thải 814 tấn CO2/năm, tiết kiệm 376.8 triệu
VNĐ/năm (Bộ Công Thương, 2011a).
Tại Nghệ An: Là một trong 5 tỉnh mục tiêu của chương trình SXSH của


nội vi
-Bổ sung

SO2, giảm ô

sau 2 năm triển khai

nhiễm nguồn

áp dụng (Việt Hùng,

nước

2012)

Giảm 33 tấn

Tiết kiệm 34 triệu

muối nguyên

đồng/năm

mía

thải rắn nước thiêt bị

đường
sông Con

An

rắn hàng năm
Giảm phát thải

Tiết kiệm 2 triệu

1,1 tấn CO2

đồng/năm

hàng năm
Giảm phát thải

Tiết kiệm 17,7 triệu

35.500m3 nước

đồng/năm (Bộ Công

hàng năm

Thương, 2012)

Thành phố Hồ Chí Minh: Gần đây, Thành phố Hồ Chí Minh mới có các
nghiên cứu điển hình như:
Bảng 1.4. Một số nghiên cứu điển hình tại TP. Hồ Chí Minh
Công ty

Vấn đề

điện/năm
-Tái sử dụng được 30-

nghệ

18

40% phế liệu nhựa


Công ty -Thất thoát
Dêt
may
Thành

nguyên liệu
-Gây ô nhiễm

-Quản lí nội vi
-Bổ sung thiết

Giảm thải ra

-Tiết kiệm được gần 13

môi trường trên tỷ đồng về điện và dầu

bị

10.000 tấn CO2 FO

phát triển công nghiệp, thương mại và công nghệ môi trường, các cấp lãnh
đạo các nhà máy chưa có nhận thức đầy đủ về SXSH và ngại thay đổi.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status