ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ LÝ
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG SẢN XUẤT SẠCH HƠN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY HOÀNG VĂN THỤ
- THÁI NGUYÊN ”
Chuyên ngành : Khoa học Môi trƣờng
Mã số : 60.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS.TS. Đặng Văn Minh
THÁI NGUYÊN - 2012
lý công nghệ, phòng Kế toán của Công ty Cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ
đã tạo điều kiện giúp đỡ trong việc cung cấp các số liệu, tài liệu quý giá
để thực hiện luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng
nghiệp đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, 25 tháng 09 năm 2012
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Lý Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU. 1
1. Tính cấp thiết của luận văn. 1
2. Mục tiêu của luận văn. 2
3. Mục đích của luận văn. 2
4. Ý nghĩa của luận văn 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở pháp lý. 3
1.2. Cơ sở khoa học. 3
1.2.1. Sự hình thành và phát triển ý tưởng sản xuất sạch hơn. 3
iv
3.1.4. Đặc điểm kinh tế - xã hội . 31
3.1.4.1. Dân số và phát triển dân số . 31
3.1.4.2. Tài nguyên. 32
3.1.5. Tình hình phát triển kinh tế. 32
3.1.6. Về văn hóa – xã hội. 33
3.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế trƣớc và sau khi sản xuất sạch hơn. 33
3.2.1. Sản lượng các loại giấy của Công ty những năm gần đây . 33
3.2.2. Kết quả sản xuất kinh doanh qua các năm. 35
3.2.3. Đánh giá giá trị NPV qua các năm. 36
3.3. Đánh giá hiệu quả kỹ thuật trƣớc và sau khi sản xuất sạch hơn. 36
3.3.1. Dây chuyền công nghệ và nguyênvật liệu đầu vào. 36
3.3.1.1. Dây chuyền công nghệ cũ và nguyên liệu đầu vào. 36
3.3.1.2. Nguyên liệu, trang thiết bị và quy trình sản xuất . 38
3.3.1.3 Cân bằng vật chất đầu vào và đầu ra của công nghệ cũ . 40
3.3.1.4. Những tồn tại của dây chuyền cũ. 41
3.3.1.5. Dây chuyền công nghệ mới và nguyên liệu đầu vào . 41
3.3.1.6. Cân bằng vật chất đầu vào và đầu ra của dây chuyền mới . 43
3.3.1.7. Đánh giá hiệu quả đạt được giữa hai công nghệ trước và sau khi sản xuất
sạch hơn. 46
3.3.2. Thu hồi, tuần hoàn và tái sử dụng trong sản xuất sạch hơn. 48
3.3.2.1. Thu hồi, tuần hoàn bột giấy, hóa chất phụ trợ . 48
3.3.2.2. Tái sử dụng các phế phẩm và phế thải trong các công đoạn sản xuất. .
53
3.3.3. Các sản phẩm phụ hữu ích . 54
3.4 Đánh giá hiệu quả môi trƣờng trƣớc và sau khi sản xuất sạch hơn. 55
3.4.1. Nguồn thải, xử lý chất thải và hiện trạng môi trường Công ty trước
sản xuất sạch hơn . 55
3.4.2. Hệ thống xử lý các nguồn thải và hiện trạng môi trường Công ty khi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Hiệu quả áp dụng sản xuất sạch hơn tại Công ty giấy Xuất Khẩu Thái
Nguyên. 19
Bảng 1. 2. Hiệu quả áp dụng sản xuất sạch hơn của Nhà máy xi măng Lưu Xá
thành phố Thái Nguyên. 21
Bảng 3.1. Sản lượng và doanh thu các loại giấy qua các năm. 34
Bảng 3.2. Kết quả sản xuất kinh doanh trong 4 năm gần đây. 35
Bảng 3.3. Phân tích chi phí và lợi ích qua các năm. 36
Bảng 3.4. Cân bằng vật chất cho các công đoạn sản xuất giấy xi măng trước SXSH
của Công ty giấy Hoàng Văn Thụ. 40
Bảng 3.5. Cân bằng vật liệu cho dây chuyền sản xuất giấy xi măng cho 1000kg sản
phẩm sau khi áp dụng SXSH. 44
Bảng 3.6. So sánh điểm khác biệt giữa hai công nghệ trước SXSH và khi SXSH của
Công ty giấy Hoàng Văn Thụ. 46
Bảng 3.7. Hiệu quả về kỹ thuật trước và sau khi thực hiện SXSH. 47
Bảng 3.8. Lợi ích của quá trình tuần hoàn trong sản xuất sạch hơn năm 2011. 51
Bảng 3.9. Lợi ích từ việc tái sử dụng trong sản xuất sạch hơn năm 2011 . 54
Bảng 3.10. Chất lượng nước mặt thượng và hạ lưu sông Cầu năm 2011. 59
Bảng 3.11. Chất lượng nước thải sau xử lý Công ty cổ phân giấy Hoàng Văn Thụ
năm 2011. 60
Bảng 3.12. Chất lượng môi trường không khí tại công ty Hoàng Văn Thụ năm 2011. .
62
Bảng 3.13. Kết quả phân tích chất thải rắn của công ty cổ phần Giấy Hoàng Văn
Thụ năm 2011. 63
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Trong xu thế toàn cầu hoá thì sự tăng trưởng nền kinh tế luôn đi cùng với vấn
đề bảo vệ môi trường. Khi mức sống của người dân tăng lên, trình độ học vấn tăng
lên thì nhu cầu của con người không dừng lại ở việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu vật
chất mà cần có một môi trường tốt. Từ nhận thức đó họ càng mong muốn hướng tới
sự phát triển bền vững.
Nhưng bên cạnh đó các doanh nghiệp với mục đích tối ưu hóa lợi nhuận của
mình mà không ngừng các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên làm cho tài
nguyên ngày càng bị cạn kiệt và tất yếu hoạt động này sẽ gây ra các tác động tiêu
cực đến môi trường và xã hội như: ô nhiễm môi trường không khí, nước, chất thải
độc hại…. Xét trên quan điểm xã hội học thì doanh nghiệp hoàn toàn phải chịu
những chi phí do các tác động tiêu cực gây ra nhưng trên thực tế thì xã hội lại phải
gánh chịu. Đối với các nhà sản xuất đầu tư cho xử lý chất thải, bảo vệ môi trường là
một gánh nặng, sẽ làm tăng thêm giá thành, giảm cạnh tranh từ đó làm giảm lợi
nhuận. Vì lợi ích riêng của mình mà các doanh nghiệp thường bỏ qua lợi ích chung
của xã hội. Vậy thì phải phát triển kinh tế như thế nào để đạt được bền vững? Vào
thời điểm này thì câu trả lời chính là muốn phát triển bền vững thì nên tiến hành các
biện pháp sản xuất sạch hơn. Sự ra đời của sản xuất sạch hơn (SXSH) đã góp phần
đáng kể và đóng vai trò cốt lõi của sự nghiệp phát triển bền vững.
SXSH giúp tiết kiệm năng lượng và tài nguyên đồng thời làm giảm chất thải
và ô nhiễm, thậm chí loại bỏ các dòng thải và hiệu xuất tiêu thụ sẽ tiến tới 100%.
Ngày nay, biện pháp kiểm soát ô nhiễm cuối đường ống không được coi là
biện pháp ưu việt nữa vì hiệu quả chưa cao và rất tốn kém thay vào đó là biện pháp
xử lý dọc đường ống hay SXSH. SXSH mang tính chủ động và phòng ngừa là chính
trước khi các chất thải phát sinh. Do đó, nếu doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch
hơn không những thu được nhiều lợi ích cho doanh nghiệp mà còn cho xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
* Ý nghĩa trong thực tiễn:
- Đánh giá được hiệu quả khi áp dụng sản xuất sạch hơn.
- Đề xuất các biện pháp khả thi để thu được lợi ích cả về kinh tế và
môi trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở pháp lý
- Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1419 /QÐ-TTg ngày 7-9-2009 với
mục tiêu: Sản xuất sạch hơn được áp dụng rộng rãi tại các cơ sở sản xuất công
nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, vật
liệu giảm phát thải, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất
lượng môi trường, sức khỏe con người và bảo đảm phát triển bền vững.
- Công văn số 351/BCT - KHCN của Bộ Công thương về việc hướng dẫn đăng
ký nội dung thực hiện " Chiến lược SXSH trong công nghiệp đến 2011 - 2020"
- Công văn số 2015/BCT - KHCN V/v hướng dẫn đăng ký các nội dung năm
2011 thực hiện "chiến lược SXSH trong công nghiệp đến 2020"
- Quyết định số 105/QĐ - SCT của sở Công thương Thái Nguyên V/v thành
lập tổ SXSH trong công nghiệp tỉnh Thái Nguyên.
- Chỉ thị số 08/CT - BCT ngày 10/07/2008 của Bộ Công thương về việc áp
dụng SXSH trong các cơ sở sản xuất công nghiệp.
- Quyết định số 07/2007/QĐ - BCN phê duyệt quy định điều chỉnh phát triển
ngành công nghiệp giấy Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn năm 2010.
- Thông tư số 01/2009/TT- BCT hướng dẫn sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả đối với các cơ sở sản xuất
của ô nhiễm môi trường chưa thực sự nghiêm trọng, mức độ phát triển của các ngành công
nghiệp còn nhỏ lẻ. Khi mà ngành công nghiệp phát triển hơn và đã có dấu hiệu của sự ô
nhiễm thì 2 biện pháp sơ cấp được sử dụng đó là pha loãng và phát tán. Đối với hai phương
pháp này thì tổng lượng chất thải đưa vào môi trường không đổi. Thủy quyển và khí quyển
không phải là một bãi rác cho một loại chất thải: các kim loại nặng, các chất thải độc hại khó
Nước
Quá trình
sản xuất
Năng
lƣợng
Khí thải
Nƣớc
thải
Chất thải
rắn
Sản phẩm
Nƣớc
Phớt lờ
Pha loãng &
phát tán
Xử lý cuối
đường ống Sản xuất sạch hơn
Nguyªn
liÖu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo và phải kết hợp với xử lý ô nhiễm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
1.2.2. Định nghĩa về sản xuất sạch hơn
Theo Chương trình Môi trường LHQ (UNEP, 1994) Sản xuất sạch hơn là áp dụng liên
tục một chiến lược phòng ngừa môi trường tổng hợp đối với các quá trình sản xuất, các sản
phẩm và các dịch vụ nhằm làm giảm tất cả các tác động xấu đến môi trường và con người.
Đối với các quá trình sản xuất, SXSH bao gồm việc bảo toàn nguyên liệu, nước và
năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và làm giảm khối lượng, độc tính của các chất
thải vào nước và khí quyển.
Đối với các sản phẩm, chiến lược SXSH nhằm vào mục đích làm giảm tất cả các tác
động đến môi trường trong toàn bộ vòng đời của các sản phẩm, từ khi khai thác nguyên liệu
đến khâu thải bỏ cuối cùng.
Đối với các dịch vụ, SXSH là sự lồng ghép các mối quan tâm về môi trường trong
việc thiết kế và cung cấp dịch vụ.
Tóm lại, SXSH đòi hỏi áp dụng các bí quyết, cải tiến công nghệ và thay đổi thái độ.
SXSH không ngăn cản sự phát triển, SXSH chỉ yêu cầu rằng sự phát triển phải bền vững về
mặt môi trường sinh thái và hiệu quả kinh tế.
1.2.3. Các khái niệm và thuật ngữ liên quan.
- Công nghệ sạch: Bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào được các ngành công nghiệp áp
dụng để giảm thiểu hay loại bỏ quá trình phát sinh chất thải hay ô nhiễm tại nguồn và tiết
kiệm được nguyên liệu và năng lượng đều được gọi là công nghệ sạch. Các biện pháp kỹ
thuật này có thể áp dụng từ khâu thiết kế để thay đổi quy trình sản xuất hoặc là các áp dụng
trong dây chuyền sản xuất nhằm tận dụng phụ phẩm để tránh thất thoát (OCDE, 1987).
- Phòng ngừa ô nhiễm: Hai thuật ngữ SXSH và phòng ngừa ô nhiễm (PNÔN)
thường được sử dụng thay thế nhau. Chúng chỉ khác nhau về mặt địa lý thuật ngữ (PNÔN)
được sử dụng ử Bắc Mỹ trong SXSH được sử dụng ở các khu vực còn lại trên thế giới.
là việc bảo ôn bề mặt nóng/lạnh, hoặc thiết kế cải thiện các bộ phận cần thiết trong
thiết bị.
Công nghệ sản xuất mới là việc lắp đặt các thiết bị hiện dại và có hiệu quả
hơn. Giải pháp này yêu cầu chi phí đầu tư cao hơn các giải pháp sản xuất sạch khác,
do đó cần phải được nghiên cứu cẩn thận. Mặc dù vậy, tiềm năng tiết kiệm và cải
thiện chất lượng có thể cao hơn so với các giải pháp khác.
Tuần hoàn:
Tận thu và tái sử dụng tại chỗ là việc thu thập "chất thải" và sử dụng lại cho
quá trình sản xuất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
Tạo ra các sản phẩm phụ là việc thu thập (và xử lý) "các dòng thải" dể có thể
trở thành một sản phẩm mới hoặc bán ra cho các cơ sở sản xuất khác.
Thay đổi sản phẩm:
Cải thiện chất lượng sản phẩm để làm giảm ô nhiễm cũng là một ý tưởng cơ
bản của sản xuất sạch hơn.
Đổi mới sản phẩm là việc xem xét lại sản phẩm và các yêu cầu đối với sản
phẩm đó. Nếu có thể thay một cái nắp đậy kim loại đã được sơn bằng một cái nắp
đậy bằng nhựa cho một số sản phẩm nhất định thì đã tránh được các vấn đề về
môi trường cũng như các chi phí để sơn hoàn thiện nắp đậy đó. Cải thiện thiết kế
sản phẩm có thể đem lại tiết kiệm về tiêu thụ nguyên liệu và lượng hoá chất độc
hại sử dụng.
Trên thực tế để mang lại hiệu quả to lớn cho việc áp dụng quy trình sản xuất
sản xuất sạch hơn vào sản xuất thường được các doanh nghiệp áp dụng đồng loạt
nhiều giải pháp vào từng quy trình sản xuất. [14]
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Tổng quan tài liệu trên thế giới
Trên thế giới, hầu hết các nước cũng có chương trình SXSH và hỗ trợ tại chỗ
ngành Công nghiệp để thúc đẩy SXSH.
Tại Nhật Bản, công nghệ SXSH được chia thành hai loại hình chính, loại hình
công nghệ thông thường cho mỗi biện pháp hay còn gọi là “công nghệ cứng” và
công nghệ quản lý “công nghệ mềm”, dựa trên các ý tưởng về giảm tác động môi
trường của tất cả các công đoạn từ khai thác nguyên liệu đầu vào đến thải bỏ hoặc
tái chế các sản phẩm sau sử dụng. Hình thức SXSH phổ biến nhất được thể hiện
thông qua các chính sách về tiết kiệm năng lượng, với mục tiêu làm giảm lượng
phát thải khí nhà kính. Hiện nay, đã có 190 công nghệ SXSH của Nhật Bản được
Trung tâm Công nghệ môi trường Liên Hiệp quốc xây dựng thành một cơ sở dữ
liệu có thể chuyển giao vào các nước đang phát triển (được Ủy ban Xúc tiến
công nghệ SXSH của Trung tâm Môi trường toàn cầu đánh giá và tổng hợp).
Công nghệ SXSH được chia thành công nghệ cho các loại hình công nghiệp khác
nhau như ngành Dệt, ngành Hóa chất, ngành Chế biến thực phẩm; các loại hình
công nghệ khác nhau như thay đổi nguyên liệu đầu vào, đơn giản hóa qui trình,
cải tiến kiểm soát quá trình. [15]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
- Các nước Đông Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) cũng đang bắt
đầu quan tâm nghiêm chỉnh tới sản xuất sạch. Ở Lithuania, vào những năm 1950 chỉ
có 4% các Công ty triển khai sản xuất sạch, con số này đã tăng lên 35% vào những
năm 1990. Ở cộng hoà Séc, 24 trường hợp nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch đã cho
thấy chất thải công nghiệp phát sinh đã giảm gần 22000 tấn một năm, bao gồm cả
10.000 tấn chất thải nguy hại. Nước thải đã giảm 12.000 m
3
một năm và lợi ích kinh
tế ước tính khoảng 2,4 tỷ đô la Mỹ hàng năm.[13]
- Ngày nay, SXSH đã được áp dụng thành công ở cả các nước đang phát triển
như Trung Quốc, Ấn Độ, CH Séc, Tanzania, Mêhicô, v.v và đang được công nhận
Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành sớm tại Việt Nam khoảng năm
284. Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấy được làm bằng phương pháp thủ công để
phục vụ cho các ghi chép, làm tranh dân gian, vàng mã.
Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên bằng phương pháp công nghiệp đi
vào hoạt động với công suất 4.000 tấn/năm tại Việt Trì. Trong thập niên 1960, nhiều nhà
máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết có công suất nhỏ (dưới 20.000 tấn/năm) như
nhà máy giấy Việt Trì, nhà máy giấy Văn Điểm, nhà máy giấy Đồng Nai, nhà máy giấy Tân
Mai. Năm 1975 tổng công suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000 tấn/năm nhưng
do ảnh hưởng của chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng bột giấy và giấy nên sản lượng
thực tế chỉ đạt 28.000 tấn/năm. [2]
Từ năm 1990 đến năm 1999, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành sản xuất giấy
và bột giấy là 16%/năm, từ năm 2000 đến 2004 đạt 20%/năm, và đến năm 2009 đã là
28%/năm. Với tốc độ tăng trưởng cao như vậy, cùng với gia tăng sản phẩm giấy nhập khẩu,
đã nâng mức tiêu thụ giấy trung bình trên đầu người Việt Nam tăng từ 7,7kg/người/năm
trong năm 2000 và đến năm 2005 là 16kg/người/năm. Năm 2010 mức tiêu thụ trung bình
giấy trên đầu người là 22 kg/người/năm, sản lượng sản xuất giấy trong nước đạt hơn 1,38
triệu tấn giấy/năm (trong đó khoảng 56% là nhóm giấy công nghệp bao bì và 25% là nhóm
giấy vệ sinh) và 600.000 tấn giấy bột. [2]
Giấy là sản phẩm của nền văn minh nhân loại với lịch sử lâu đời hàng nghìn năm.
Thành phần chính của giấy là xenluylo, một loại polyme mạch thẳng và dài có trong gỗ,
bông và các loại cây khác. Trong gỗ, xenluylo bị bao quanh bởi một lignin cũng là polyme.
Để tách xenluylo ra khỏi mạng polyme đó người ta phải sử dụng phương pháp nghiền cơ
học hoặc xử lý hóa học. Quá trình sản xuất bột giấy bằng phương pháp nghiền cơ học là quá
trình có hiệu quả thu hồi xenluylo cao nhưng tiêu tốn nhiều năng lượng và không loại bỏ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
hết lignin, khiến chất lượng giấy không cao. Trong sản xuất giấy ngày nay, quá trình
Kraft được áp dụng phổ biến nhất. Tuy nhiên, hiệu suất thu hồi xenluylo ở quy trình hóa
bình một tấn giấy sản xuất còn phát sinh từ 45 - 48 kg chất thải rắn, chưa tính lượng
phế liệu đã được tái chế. Công suất trung bình của Việt Nam là 5.800 tấn giấy/năm và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
13.000 tấn bột/năm thấp hơn nhiều so với công suất trung bình của các nước có nền công
nghiệp giấy phát triển như Đức, Phần Lan và thấp hơn nhiều so với các nước có trình độ
phát triển tương đương như Thái Lan và Indonesia. [14]
Bên cạnh đó công nghệ lạc hậu cũng gây lãng phí nguyên vật liệu, tăng cao chi phí sản
xuất, hiệu quả qui mô trung bình của các doanh nghiệp sản xuất bột giấy là 57% và giấy in
77%, giấy viết là 81%, giấy vàng mã và bìa tương ứng là 70.2% và 91%. [14]
Quy mô nhỏ làm ảnh hưởng đến tính cạnh tranh sản xuất do chất lượng, chi phí sản
xuất và xử lý môi trường cao.
Công nghệ sản xuất từ những năm 70 - 80 hiện vẫn đang tồn tại phổ biến, thậm chí ở
cả các doanh nghiệp sản xuất với quy mô lớn. Nước thải, lignin là những vấn đề môi trường
chính đối với ngành sản xuất giấy. Việc xử lý là bắt buộc trước khi thải ra môi trường. Bên
cạnh đó, phát thải khí từ nồi hơi, chất thải rắn trong quá trình nấu, bùn thải của hệ thống xử
lý nước thải cũng là vấn đề cần được quan tâm. [3]
1.3.2.2. Hiện trạng, tiềm năng và thách thức của sản xuất sạch hơn tại Việt Nam
Khái niệm sản xuất sạch hơn đã được giới thiệu và thử nghiệm áp dụng trong công
nghiệp ở nước ta năm 1995 qua hai dự án do quốc tế tài trợ : “SXSH trong công nghiệp
giấy” và “Giảm thiểu chất thải trong công nghiệp dệt” do UNEP tại Bangkok và CIDA –
IDRC (Canada) tài trợ. Hại dự án này mới dừng lại ở mức giới thiệu khái niệm và xác định
tiềm năng giảm thiểu chất thải. Tiếp theo đó, các khái niệm về hiệu quả sinh thái, phòng
ngừa ô nhiễm, năng xuất xanh cũng được giới thiệu vào nước ta. Mặc dù tên gọi khác nhau,
song bản chất của các khái niệm trên hoàn toàn tương tự nhau với mục đích: “nâng cao hiệu
quả sử dụng nguyên liệu, năng lượng và chủ động ngăn chặn sự tạo thành chất thải ngay tại
nguồn phát sinh ra chúng, giảm thiểu chất ô nhiễm đi vào môi trường. Vào ngày 22/09/1999,
Bộ trưởng Bộ KHCN&MT (trước đây) Chu Tuấn Nhạ đã ký Tuyên ngôn Quốc tế về
nước được chú ý đúng mức, mà điển hình là hoạt động của dự án “ Trung tâm Sản xuất sạch
Việt Nam” (VIE/96/063) đã đào tạo được trên 100 cán bộ chuyên sâu về SXSH cho các
ngành công nghiệp và cơ quan nghiên cứu, tư vấn, trong đó có khoảng 30% số cán bộ này
đã cung cấp tư vấn về lĩnh vực SXSH. SXSH/Phòng ngừa ô nhiễm trong công nghiệp ngày
nay đã trở thành 1 trong 36 chương trình ưu tiên của chiến lược quốc gia về BVMT năm
2010 và định hướng năm 2020. Tuy nhiên, cũng vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém trong các
trình diễn kỹ thuật về đề tài nghiên cứu SXSH. Ví dụ như một số giải pháp về công nghệ chỉ
chiếm 5% trong tổng số các giải pháp loại này được thực hiện. Thêm vào đó, nhiều báo cáo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
đánh giá SXSH do các chuyên gia phải khẩn trương xây dựng đội ngũ chuyên gia trong
nước giỏi về kiến thức và kỹ năng thực hiện phương pháp luận cùng với sự phong phú về
kinh nghiệm thực hiện mới có thể đảm bảo chất dịch vụ về SXSH. Đây là yếu tố quan trọng
trong phát triển thị trường dịch vụ về lĩnh vực SXSH và đảm bảo tính bền vững của SXSH.
Trên cơ sở phân tích số liệu kiểm toán SXSH tại 60 doanh nghiệp thuộc các ngành
Giấy, Dệt, sản xuất bia và sản phẩm kim khí do Trung Tâm SXSVN thực hiện từ 1999 –
2004, các chuyên gia quốc tế và Việt Nam đã so sánh với các công nghệ tốt hiện có (BAT =
Best Available Technology) ở Châu Âu để ước tính và nhận xét: tiềm năng SXSH (tức là
tiềm năng giảm tiêu thụ nguyên liệu, hóa chất, năng lượng và nước) trong các doanh nghiệp
Việt Nam là rất lớn.
Như vậy, SXSH ở nước ta có thể đạt kết quả cao hơn nữa về cả lợi ích môi trường và
lợi ích kinh tế khi các giải pháp SXSH được áp dụng. Song với thực tiễn về trình độ phát
triển và tiềm lực tài chính hiện nay, thích hợp hơn cả đối với các doanh nghiệp nước ta làm
tìm kiếm các công nghệ tốt nhất và hấp dẫn về mặt kinh tế trong quá tình đổi mới công nghệ
(Ngô Thị Nga, 2005) [7]
Để duy trì và nhân rộng các kết quả đã đạt được, dự án VIE/04/064 “Đẩy mạnh các
dịch vụ mới về SXSH thông qua Trung Tâm Sản xuất sạch Việt Nam” đã được SECO
(Thụy Sĩ) tài trợ qua UNIDO (2005 -2007). Dự án này mở rộng phạm vi ứng dụng của
cơ chế tài trợ thích hợp cho đầu tư theo hướng SXSH.
Chưa có động lực của thị trường trong nước thúc đẩy các nhà công nghiệp do vậy
đánh giá SXSH chưa thành nhu cầu thực sự, chưa có thể chế và tổ chức thúc đẩy SXSH đi
vào thực tiễn hoạt động công nghiệp.
Bên cạnh đó, khảo sát của Trung tâm SXSH Việt Nam về thực tế đầu tư triển khai cho
các giải pháp SXSH năm 2003 đã rút ra được một số bài học đối với việc duy trì SXSH tại
các doanh nghiệp đã thực hiện tiếp cận này, đó là:
Phần lớn các giải pháp SXSH được thực hiện (thường là giải pháp có chi phí thấp)
dùng tiền nội bộ, không muốn vay vốn các ngân hàng để đầu tư cho giải pháp có chi phí lớn
hơn vì lãi suất cao, thời hạn cho vay ngắn và thủ tục cho vay rườm rà, phức tạp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
Hầu hết các đơn vị trình diễn SXSH trong các dự án khác nhau đều chỉ phân tích lợi
ích kinh tế một lần mà không tính toán liên tục để theo dõi lợi ích của các năm tiếp theo.
Phân tích lợi ích ở đây với chỉ về mặt tài chính thuần túy của công ty mà chưa tính đến
lợi ích kinh tế mở rộng thông qua giảm chi phí xã hội, tăng phúc lợi xã hội nhờ cải thiện môi
trường làm việc và chất lượng môi trường nói chung. Lợi ích về mặt kinh tế của các giải
pháp chưa tính đến lợi ích do giảm chi phí xử lý chất thải và chi phí xử lý chất thải chưa
được tính vào gia thành sản xuất.
Có rất nhiều giải pháp SXSH làm giảm nước tiêu thụ nhưng lợi ích kinh tế của các giải
pháp này chưa được xác định rõ ràng do hầu hết các doanh nghiệp tự khai thác nước ngầm
và chưa tính đủ giá cho loại nguyên liệu đặc biệt này.
Tiềm năng thực hiện SXSH ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn do hầu hết các
cơ sở này sử dụng thiết bị và công nghệ lạc hậu, mở rộng nhiều lần nên thiết bị không đồng
bộ, chắp vá bố trí mặt bằng không hợp lý và quản lý lỏng lẻo, chồng chéo. [3]
Trong những năm gần đây, công tác bảo vệ và quản lý môi trường của Việt
Nam đã được quan tâm và quản lý nghiêm khắc hơn và đặc biệt là từ khi Nghị định
64 của Thủ tướng chính phủ ra đời thì hàng loạt các doanh nghiệp Việt Nạm có vấn