Luận văn: Đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn pot - Pdf 17

Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám

Luận Văn
Đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh tại Công ty cổ phần xi
măng Bỉm Sơn
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường, với các chính sách kinh tế
mở và chiến lược tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển kinh tế thị trường đã, đang
và sẽ đặt nền kinh tế nước ta nói chung và các doanh nghiệp nói riêng đối diện với những
thách thức, khó khăn trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt mang tính quốc tế nhằm
giành giật khách hàng và mở rộng thị trường ngay trong nước cũng như thế giới. Trong
nền kinh tế thị trường, một khi không còn sự bảo hộ của nhà nước, các doanh nghiệp
trong nước phải tự điều hành quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu
quả để có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển. Mặt khác mục tiêu quan
trọng nhất mà tất cả các doanh nghiệp đều hướng tới là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Bởi nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện sống còn của doanh
nghiệp, đồng thời nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực hợp lý cũng
như thúc đẩy việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại vào quá trình
sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và sản
xuất vật liệu xây dựng trong điều kiện kinh tế thị trường có nhiều biến đổi phải thể hiện
được vai trò tiên phong của mình trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế
giới.

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động SXKD, phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của CTCP xi măng Bỉm Sơn qua 3 năm
2007 - 2009.
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của
CTCP xi măng Bỉm Sơn trong thời gian tới.
- Đồng thời có thể đúc kết kinh nghiệm cho bản thân qua quá trình làm việc học
hỏi, nghiên cứu tại Công ty.
3. Đối tượng nghiên cứu
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
- Đối tượng nghiên cứu: là các vấn đề liên quan đến hiệu quả SXKD của CTCP
Xi măng Bỉm Sơn.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, yếu tố vĩ mô - vi mô,
điểm mạnh - điểm yếu, những cơ hội và đe doạ của Công ty. Qua đó, đánh giá hiệu
quả SXKD của Công ty.
+ Về không gian: luận văn nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh tại CTCP
Xi măng Bỉm Sơn.
+ Về thời gian: Đánh giá hiệu quả kinh doanh của CTCP xi măng Bỉm Sơn
trong khoảng thời gian 2007-2009, định hướng và xây dựng giải pháp đề xuất cho các
năm 2010 - 2015.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, năng lực và trình độ còn hạn chế, vì vậy đề tài
không tránh khỏi những sai sót. Kính mong sự góp ý, giúp đỡ của các thầy, các cô để
đề tài được hoàn thiện hơn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã sử dụng

mạnh cách mạng khoa học và công nghệ sản xuất, tiến nhanh lên hiện đại hoá, tăng
cường chuyên môn hoá và hợp tác hoá, nâng cao cường độ sử dụng các nguồn lực, chú
trọng việc sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lượng sản phẩm dịch vụ. Phát triển
kinh tế theo chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ
sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp chính là hiệu
quả kinh doanh vì nó là điều kiện để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển, đạt
được lợi nhuận tối đa. Vì vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh
doanh phải đề ra các phương án và các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một nhiệm vụ quan trọng
đối với mọi doanh nghiệp, và muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đòi hỏi các
doanh nghiệp phải sử dụng tốt các yếu tố đầu vào như: lao động, vật tư máy móc thiết
bị, vốn và thu được nhiều kết quả của đầu ra.
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
Để hiểu rõ khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, ta xem xét các
quan niệm đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh:
- Về thời gian: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải là hiệu quả
đạt được trong từng giai đoạn, từng thời kỳ, và trong cả quá trình không giảm sút.
- Về mặt không gian: Hiệu quả SXKD được coi là đạt được khi toàn bộ hoạt
động của các bộ phận, các đơn vị đều mang lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh
doanh chung và trở thành mục tiêu phấn đấu của toàn công ty.
- Về mặt định lượng: Hiệu quả SXKD biểu hiện mối tương quan giữa kết quả
thu được và chi phí bỏ ra để sản xuất kinh doanh, hiệu quả sản xuất kinh doanh chỉ đạt
được khi kết quả cao hơn chi phí bỏ ra, và khoảng cách này càng lớn thì hiệu quả đạt
được càng cao và ngược lại.

phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm chi phí.
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với
chi phí tối thiểu. Nói một cách tổng quát, hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh
trình độ và năng lực quản lý, đảm bảo thực hịên có kết quả cao những nhiệm vụ kinh
tế - xã hội đặt ra với chi phí thâp nhất.
1.1.1.3 Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một tất yếu khách quan
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nâng cao hiệu quả SXKD là một vấn đề
quan trọng, là một tất yếu khách quan đối với mọi doanh nghiệp, đồng thời nó cũng
góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội. Và xét về phương diện mỗi
quốc gia thì hiệu quả SXKD là cơ sở để phát triển để đưa đất nước thoát khỏi nghèo
nàn lạc hậu. Vì vậy nó không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp mà
còn là mối quan tâm của toàn xã hội, bởi vì các lý do sau:
- Xuất phát từ sự khan hiếm các nguồn lực làm cho điều kiện phát triển sản xuất
theo chiều rộng bị hạn chế do đó phát triển theo chiều sâu là một tất yếu khách quan.
Nâng cao hiệu quả SXKD là một hướng phát triển kinh tế theo chiều sâu nhằm sử
dụng các nguồn lực một cách tiết kiệm và có hiệu quả.
- Để có thể thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng, hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp phải đảm bảo thu được kết quả đủ bù đắp chi phí và có lợi nhuận.
Đối với các doanh nghiệp thì hiệu quả SXKD xét về số tuyệt đối chính là lợi nhuận, do
đó việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở để giảm chi phí, tăng lợi nhuận.
- Thị trường càng phát triển thì sự cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng
khốc liệt, để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh như vậy buộc các
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
doanh nghiệp phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả SXKD nhằm chiếm được ưu thế
trong cạnh tranh trên thị trường.
- Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trên đường hội nhập với các nước
trong khu vực và thế giới, sự yếu kém của các doanh nghiệp Việt Nam đang buộc họ

đầu vào trong phạm vi doanh nghiệp mà còn nói lên trình độ sử dụng từng nguồn lực
trong từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp, kết quả càng cao và chi phí bỏ ra càng
thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao.
Giữa kết quả và hiệu quả có mối quan hệ mật thiết với nhau. Kết quả thu được
phải là kết quả tốt, có ích, nó có thể là một đại lượng vật chất được tạo ra do có chi phí
hay mức độ thoả mãn của nhu cầu và có phạm vi xác định. Hiệu quả SXKD trước hết
là một đại lượng so sánh giữa đầu ra và đầu vào, so sánh giữa chi phí kinh doanh với
kết quả thu được. Như vậy, kết quả và chi phí là hai giai đoạn của một quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí là tiền đề để thực hiện kết quả đặt ra.
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản suất kinh doanh
Trong thời kỳ đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển theo cơ chế thị trường
cùng với sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại và phát triển được đòi hỏi các doanh nghiệp
phải tiến hành SXKD có hiệu quả. Để đạt được điều này, các doanh nghiệp phải xác
định được các phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong đầu tư, đề ra các giải pháp
quản lý và sử dụng các nguồn lực vốn có. Muốn vậy các doanh nghiệp phải tiến hành
phân tích các nhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ và xu hướng tác động của từng
nhân tố đến kết quả, hiệu quả kinh doanh
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp gồm có: môi trường vĩ mô và môi
trường vi mô. Môi trường vĩ mô gồm những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn
có ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp như các yếu tố kinh tế,
xã hội,chính trị, tự nhiên và kỹ thuật. Môi trường vi mô bao gồm những lực lượng có
ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp như nhà cung ứng, khách hàng, đối thủ cạnh
tranh và công chúng trực tiếp. Phân tích môi trường kinh doanh giúp cho doanh nghiệp
thấy được mình đang trực diện với những gì từ đó xác định được chiến lược kinh
doanh phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.1.2.1 Những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
* Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế có vai trò quan trọng quyết định đối với việc hình thành và
hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời các yếu tố này cũng góp phần quyết định
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD

tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm, đồng thời bảo vệ môi trường sinh
thái.
* Yếu tố môi trường tự nhiên
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
Yếu tố tự nhiên bao gồm nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi
trường sinh thái, vị trí địa lý của tổ chức kinh doanh…là một trong những yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động SXKD của tất cả các doanh nghiệp.
* Yếu tố xã hội
Các doanh nghiệp cần phân tích các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và
nguy cơ có thể xảy ra, từ đó giúp doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lược kinh
doanh phù hợp với đặc điểm văn hóa xã hội của từng khu vực. Các yếu tố xã hội như
dân số, văn hóa, thu nhập
1.1.2.2 Những yếu tố thuộc môi trường vi mô
* Khách hàng
Khách hàng là những người quyết định quy mô và cơ cấu nhu cầu trên thị
trường của doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng hàng đầu khi xây dựng chiến lược kinh
doanh, là những người quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Do
vậy, tìm hiểu kỹ lưỡng và đáp ứng đủ nhu cầu cùng sở thích thị hiếu của khách hàng
mục tiêu sẽ là điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
* Đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường thì sự cạnh tranh là một điều tất yếu, số lượng các
đối thủ cạnh tranh trong ngành càng nhiều thì mức độ cạnh tranh càng gay gắt. Các đối
thủ cạnh tranh và hoạt động của họ luôn được xem là một trong yếu tố ảnh hưởng quan
trọng đến việc ra quyết định kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên trên phương
diện xã hội thì cạnh tranh sẽ có lợi cho người tiêu dùng và thúc đẩy xã hội phát triển.
Việc phân tích các đối thủ cạnh tranh trong ngành nhằm nắm được các điểm mạnh,
điểm yếu của đối thủ để từ đó xác định chiến lược nhằm tạo được thế vững mạnh trên


Π
= TR - TC
Là sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, phản ánh kết quả kinh tế của mọi
hoạt động SXKD của doanh nghiệp và là cơ sở để tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả SXKD.
1.1.3.2 Nhóm chỉ tiêu tương đối phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh
a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
Để phản ánh một cách chung nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định
+ Hiệu suất sử sụng vốn cố định:

S
H
=
VCĐ
TR
Trong đó: H
S
là hiệu suất sử dụng vốn cố định
VCĐ
là vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh bình quân một đơn vị vốn cố định sẽ tạo ra được bao
nhiêu đơn vị doanh thu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Mức đảm nhiệm vốn cố định:


l
=
VLĐ
TR
Trong đó: l: là số vòng quay vốn lưu động
Chỉ tiêu này biểu hiện mỗi đơn vị vốn lưu động đầu tư vào kinh doanh có thể
mang lại bao nhiêu đơn vị doanh thu.
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
+ Mức đảm nhiệm vốn lưu động:

VLĐ
M
=
TR
VLĐ
Trong đó:
VLĐ
M

: là mức đảm nhiệm vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đơn vị doanh thu thì cần chi phí bao nhiêu
đơn vị vốn lưu động.
+ Mức doanh lợi vốn lưu động

VLĐ
r

Chỉ tiêu cho biết doanh thu một lao động có thể tạo ra trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
+ Lợi nhuận bình quân một lao động:


r
=
L
Π
Trong đó:

r
: là Lợi nhuận bình quân một lao động
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
Chỉ tiêu cho biết một lao động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh có thể
mang lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận.
+ Doanh thu/ chi phí tiền lương:

QL
TR
I
=
QL
TR
Trong đó:
QL
TR

I
Π

là lợi nhuận/ chi phí
Chỉ tiêu cho biết khi bỏ ra một đồng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
+ Tỷ lệ lợi nhuận/ doanh thu:

TR
I
Π
=
TR
Π
Trong đó:
TR
I
Π
là lợi nhuận /doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh thu thu được sẽ có bao nhiêu đồng
lợi nhuận.
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
+ Khả năng thanh toán hiện thời(
H
K
)


vào Việt Nam trong đó có xi măng. Vì vậy, nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng
ngay từ bây giờ thì sản phẩm xi măng của ta khó mà có thể cạnh tranh được với sản
phẩm xi măng của họ.
1.2.2. Thị trường xi măng Việt Nam hiện nay
1.2.2.1. Thị trường xi măng Việt Nam từ năm 1991 đến cuối năm 1996
Từ năm 1991 đến 1996, Tổng công ty xi măng Việt Nam (VNCC) giữ vị trí độc
quyền về việc điều phối các hoạt động trên thị trường xi măng. Người tiêu dùng và các
nhà thầu xây dựng phải năn nỉ chờ duyệt kế hoạch, bị ám ảnh bởi giá xi măng, đặc biệt
là vào đầu mùa xây dựng (từ tháng ba đến tháng năm).
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
Năm 1995, khủng hoảng thiếu làm cho giá cả tăng vọt, các nhà thầu phải đồng
loạt ngưng thi công, sự phát triển của ngành xây dựng đã làm cho cầu xi măng tăng
vọt. Để giải quyết sự thiếu hụt này, một mặt, Chính phủ cho phép nhập khẩu xi măng
và ấn định hạn ngạch nhập khẩu để bảo vệ nhà sản xuất trong nước, mặt khác, Nhà
nước ấn định giá bán cao nhất ở năm vùng trọng điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,
TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ để bảo vệ người tiêu dùng. Điều này đã gây thiệt hại lớn
cho ngân sách nhà nước do việc nhập khẩu lậu, làm phát sinh việc mua bán hạn ngạch
nhập khẩu và tạo ra những hoạt động phi sản xuất trong nước.
1.2.2.2. Thị trường xi măng Việt Nam từ 1997 đến nay
Trong bối cảnh cầu vượt cung và nguồn vốn trong nước bị hạn chế cũng như vai
trò quan trọng ngành công nghiệp xi măng. Chính phủ đã khuyến khích các nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào ngành công nghiệp này dưới hình thức liên doanh.
Năm 1994, các tập đoàn Chinfon Global, Lucksvaxi, Holderbank đã nhảy vào
và lập những dự án liên doanh: Chinfon, Văn Xá, Sao Mai. Sự bước vào hoạt động của
các công ty liên doanh năm 1997 làm thay đổi cơ cấu thị trường, từ một thị trường độc
quyền chuyển sang thị trường thiểu số độc quyền.
Tóm lại, sự có mặt các nhà đầu tư nước ngoài trong ngành xi măng Việt Nam

- Tên tiếng anh: Bim Son Cement Joint Stock Company, tên viết tắt: BCC
- Trụ sở: Phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá
- Điện thoại: (84-373) 824.242 Fax: (84-373) 824.046
- Biểu tượng Công ty:

- Địa chỉ Email: [email protected]
- Website: www.ximangbimson.com.vn
- Lĩnh vực sản xuất kinh doanh:
+ Sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu xi măng, clinker.
+ Sản xuất kinh doanh các loại vật liệu xây dựng khác.
- Vốn điều lệ: 900 Tỷ đồng
b. Lịch sử hình thành
Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn - đơn vị anh hùng lao động, thành viên của
VICEM. Trước đây là Nhà máy xi măng Bỉm Sơn được thành lập ngày 4/3/1980 tại
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
phường Ba Đình - Thị xã Bỉm Sơn -Tỉnh Thanh Hoá, nơi có nguồn nguyên liệu dồi dào
với hai dây chuyền công nghệ ướt do Liên Xô giúp đỡ, công suất 1,2 triệu tấn/năm.
Tháng 10 năm 1981, dây chuyền 1 đã được lắp ráp hoàn chỉnh và đến 28/12/1981
những bao xi măng đầu tiên mác P40 nhãn hiệu “Con Voi” của Nhà máy xi măng Bỉm
Sơn đã chính thức xuất xưởng. Tháng 08 năm 1993, Nhà nước đã quyết định sát nhập
hai đơn vị là nhà máy xi măng Bỉm Sơn và Công ty cung ứng vật tư vận tải số 4, đổi
thành Công ty xi măng Bỉm Sơn là Công ty nhà nước đầu tiên trực VICEM, với tổng số
công nhân viên là 2.864 người, trong đó nhân viên quản lý là 302 người.
Cùng với sự tăng trưởng chung của đất nước, nhu cầu sử dụng xi măng ngày
càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó tháng 03/1994, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt dự
án đầu tư cải tạo hiện đại hoá dây chuyền số II của nhà máy xi măng Bỉm Sơn, chuyển
đổi công nghệ sản xuất xi măng từ công nghệ ướt sang công nghệ khô hiện đại. Nhờ

2.1.2.1. Chức năng
Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn có chức năng tổ chức sản xuất, cung ứng xi
măng cho khách hàng trên địa bàn được phân công đảm nhiệm.
2.1.2.2. Nhiệm vụ
Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn có nhiệm vụ sản xuất và cung cấp xi măng
cho các công trình xây dựng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài (hiện tại chủ yếu
là xuất khẩu sang Lào). Ngoài ra, Công ty còn có nhiệm vụ cung cấp xi măng cho các
địa bàn theo sự chỉ đạo của VICEM để tham gia vào việc bình ổn giá cả của thị
trường.
2.1.3. Đặc điểm cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty (thể hiện ở sơ đồ 1)
 Bộ máy quản lý: Sau khi cổ phần hóa Công ty xi măng Bỉm Sơn chính thức
trở thành Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn, bộ máy quản lý của Công ty có sự thay
đổi do sự thay đổi loại hình doanh nghiệp. Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức
theo mô hình cơ cấu kiểu hỗn hợp trực tuyến chức năng; gồm có: Đại hội đồng cổ
đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc Công ty, 5 phó giám đốc và 17
phòng ban.
 Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả những cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ
quan quyết định cao nhất của Công ty. Đại hội đồng cổ đông quyết định tất cả những
vấn đề thuộc về Công ty theo pháp luật qui định như: cơ cấu tổ chức sản xuất, qui mô
sản xuất kinh doanh, kế hoạch, nhiệm vụ, cổ tức, phương hướng đầu tư phát triển
 Hội đồng quản trị: Do Đại hội cổ đông bầu, là cơ quan quản lý cao nhất của
Công ty, đại diện cho các cổ đông, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty trừ những vấn đề thuộc
thẩm quyền của Đại hội cổ đông.
 Ban kiểm soát: Là cơ quan trực thuộc Đại hội cổ đông, có nhiệm vụ kiểm tra
tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động SXKD của Công ty.

P.GIÁM ĐỐC
ĐTXD
P. KT
T.Kho VTTB
P.GIÁM
ĐỐC NỘI
CHÍNH
P.
ĐSQT
P.
BVQS
VP.Ninh
Bình
Trạm y
tế
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
GIÁM ĐỐC
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
P.ĐHSX
P.KTSX
P.TN-KCS
P.KTAT
X.Mỏ NL
X.Ôtô VT
X.Tạo NL
X.Lò nung
X.NXM
X.Đóng bao
(Nguồn: Phòng Tổ chức lao động Công ty xi măng Bỉm Sơn)
22

Phòng Kế toán – Thống kê - Tài chính có nhiệm vụ giám sát bằng tiền đối với các
tài sản và các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Ths
Trần Bình Thám
Phòng vật tư, thiết bị có nhiệm vụ theo dõi vấn đề cung ứng vật tư, máy móc thiết
bị cho sản xuất.
 Các xưởng sản xuất kinh doanh: Có chức năng, nhiệm vụ thực hiện đúng
qui trình sản xuất để tạo ra sản phẩm kịp thời đảm bảo chất lượng và đảm bảo an toàn
cho máy móc thiết bị cũng như con người, gồm có 11 phân xưởng:
Khối sản xuất chính gồm xưởng mỏ, xưởng ô tô, xưởng nguyên liệu, xưởng lò
nung, xưởng nghiền xi măng, xưởng đóng bao.
Khối sản xuất phụ gồm xưởng sửa chữa thiết bị, xưởng sữa chữa công trình,
xưởng điện, xưởng cấp thoát nước – nén khí, xưởng cơ khí.
Trên đây là vài nét khái quát về tình hình tổ chức quản lý xi măng của CTCP xi
măng Bỉm Sơn. Có thể nói cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh như vậy là phù hợp
thích ứng với trình độ quản lý của Công ty và tránh được sự chồng chéo trong khâu
quản lý, đồng thời có thể nắm bắt được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong
toàn Công ty một cách cụ thể, chính xác, kịp thời.
2.1.4. Đặc điểm sản xuất và quy trình sản xuất của Công ty
2.1.4.1. Đặc điểm sản xuất và sản phẩm
Khẩu hiệu “Niềm tin của người sử dụng, sự bền vững của các công trình”
chính là mục tiêu và chính sách chất lượng của Công ty không ngừng áp dụng những
sáng kiến, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.
Hiện nay, CTCP xi măng Bỉm Sơn đang sản xuất các sản phẩm chính là xi măng
pooclang hỗn hợp PCB30 và PCB40 theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 6206-1997;
Các sản phẩm xi măng được bao gói trong loại vỏ bao PPK bền, đẹp, thuận lợi cho vận
chuyển, bốc dỡ và sử dụng. Trên vỏ bao được in đầy đủ những thông tin theo quy định
của nhà nước về nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp đối với hàng bao gói

thiết bị quá lâu nên chi phí sửa chữa cao, tiêu hao điện năng nhiều.
b. Dây chuyền sản xuất theo phương pháp khô (dây chuyền II)
Sản xuất theo phương pháp khô được cải tạo và hiện đại hoá từ dây chuyền ướt
theo công nghệ của Nhật Bản, hệ thống tháp trao đổi nhiệt 1 nhánh 5 tầng có nhiều cải
tiến nhằm tăng khả năng trao đổi nhiệt giữa bột liệu và gió nóng.
Quy trình sản xuất theo phương pháp khô (Xem phụ lục 6)
Có thể thấy quy trình sản xuất xi măng là rất phức tạp, hiện nay Công ty đang
kết hợp khai thác cả hai dây chuyền công nghệ, tuy nhiên với những ưu điểm vượt trội
của phương pháp khô thì sản xuất xi măng theo phương pháp lò khô đang dần được
SVTH: Nguyễn Thị Hoa_K40TKKD
25

Trích đoạn Phân tích tình hình chi phí của Công ty BẢNG 10: TÌNH HÌNH CHI PHÍ CỦA CÔNG TY QUA 3 NĂM (2007-2009) BẢNG 11: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY QUA 3 NĂM (2007 2009) BẢNG 15: NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỐ VÒNG QUAY VỐN LƯU ĐỘNG BẢNG 16: CÁC NHÂN TỐ HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG BÌNH QUÂN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status