BÀI TỔNG HỢP HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH NĂM 2018 - Pdf 42

MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục sơ đồ, hình
Lời mở đầu
Chương
Chương I. Nguồn gốc hình thành thuyết Âm dương - Ngũ hành......................1
1.1. Học thuyết Âm dương...............................................................................................1
1.1.1. Lý luận Âm dương.................................................................................................1
1.2. Thuyết Ngũ hành.......................................................................................................4

Bảng 1.1. Sự quy nạp vào Ngũ hành trong thiên nhiên......................................5
Hình 1.1. Đồ hình Lạc Thư điểm và Thần Qui hiện trên sông Lạc...................6
Chương II. Những nội dung cơ bản của học thuyết Âm dương Ngũ hành.....11
2.1. Nội dung cơ bản của học thuyết Âm dương...........................................................11

Hình 2.1. Biểu tượng Âm dương nói lên bản chất............................................11
Hình 2.2. Thờ sinh thực khí nam và nữ của đồng bào dân tộc Chăm.............11
2.2. Nội dung của thuyết Ngũ hành...............................................................................15

Bảng 2.1.Tóm tắt các sự vật hiện tượng theo Ngũ hành...................................16
Hình 2.3. Quan hệ tương sinh.............................................................................16
Hình 2.4. Quan hệ tương khắc...........................................................................17
Hình 2.5. tổng hợp tương sinh tương khắc của Ngũ hành...............................17
Bảng 2.2. Các yếu tố của Tam tài Ngũ hành.....................................................20
Chương III. ỨNG DỤNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH..........24
3.1. Y học.......................................................................................................................24

Bảng 3.1. Dùng Âm dương để khái quát quan hệ liên quan lẫn nhau của kết
cấu tổ chức của cơ thể.........................................................................................25

Hình 2.4. Quan hệ tương khắc...........................................................................17
Hình 2.5. tổng hợp tương sinh tương khắc của Ngũ hành...............................17
Bảng 2.2. Các yếu tố của Tam tài Ngũ hành.....................................................20
Chương III. ỨNG DỤNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH..........24
Bảng 3.1. Dùng Âm dương để khái quát quan hệ liên quan lẫn nhau của kết
cấu tổ chức của cơ thể.........................................................................................25
Bảng 3.2. Phân biệt dương chứng và âm chứng................................................26
Bảng 3.3. Nguyên tắc chữa bệnh dựa trên học thuyết Âm dương...................27
Bảng 3.4. Quy loại Ngũ hành..............................................................................31
Bảng 3.5. Sắp xếp các huyệt ngũ du liên quan đến tương sinh, tương khắc của
Ngũ hành.............................................................................................................. 34
Bảng 3.6. Phân Âm dương theo hàng Can........................................................52
Bảng 3.7. Phân Âm dương theo hàng Chi.........................................................52
Bảng 3.8. Phân tuổi theo mệnh...........................................................................55
Hình 3.1. Cung cấn trong bát quái.....................................................................67
Kết luận................................................................................................................ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................77


DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Chương I. Nguồn gốc hình thành thuyết Âm dương - Ngũ hành 1
Bảng 1.1. Sự quy nạp vào Ngũ hành trong thiên nhiên 5
Hình 1.1. Đồ hình Lạc Thư điểm và Thần Qui hiện trên sông Lạc 6
Chương II. Những nội dung cơ bản của học thuyết Âm dương Ngũ hành 11
Hình 2.1. Biểu tượng Âm dương nói lên bản chất 11
Hình 2.2. Thờ sinh thực khí nam và nữ của đồng bào dân tộc Chăm 11
Bảng 2.1.Tóm tắt các sự vật hiện tượng theo Ngũ hành 16
Hình 2.3. Quan hệ tương sinh 16
Hình 2.4. Quan hệ tương khắc 17
Hình 2.5. tổng hợp tương sinh tương khắc của Ngũ hành 17

dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược...Hai thế lực âm và dương tác
động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ. Sách Quốc ngữ nói rằng: "Khí của trời đất thì
không sai thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên dưới
không lên được, âm mà bị bức bách không bốc lên được thì có động đất".
Lão Tử (khoảng thế kỷ V - VI trước CN) cũng đề cập đến khái niệm Âm
dương. Ông nói: “Trong vạn vật, không có vật nào mà không cõng âm và bồng
dương”, ông không những chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá Âm dương của trời đất
mà còn muốn khẳng định trong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu thuẫn,
đó là Âm dương.
Học thuyết Âm dương được thể hiện sâu sắc nhất trong Kinh Dịch. Tương
truyền, Phục Hy (2852 trước CN) nhìn thấy bức đồ hình trên lưng con long mã
trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch
thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền (-) tức "vạch lề" để làm phù hiệu cho khí
dương và một nét đứt (--) là vạch chẵn để làm phù hiệu cho khí âm. Hai vạch (-),
(--) là hai phù hiệu cổ xưa nhất của người Trung Quốc, nó bao trùm mọi nguyên lý
của vũ trụ, không vật gì không được tạo thành bởi Âm dương, không vật gì không
được chuyển hóa bởi Âm dương biến đổi cho nhau. Các học giả từ thời thượng cổ
đã nhận thấy những quy luật vận động của tự nhiên bằng trực quan, cảm tính của
1


Học thuyết Âm dương – Ngũ hành

mình và ký thác những nhận thức vào hai vạch (--) (-) và tạo nên sức sống cho hai
vạch đó. Dịch quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động và biến hóa không ngừng,
do sự giao cảm của Âm dương mà ra, đồng thời coi Âm dương là hai mặt đối lập
với nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong mọi sự vật từ vi mô
đến vĩ mô, từ một sự vật cụ thể đến toàn thể vũ trụ.
Theo lý thuyết trong Kinh Dịch thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực
là nguyên nhân đầu tiên, là lý của muôn vật: "Dịch có thái cực sinh ra lưỡng nghi,


chứng. Nhưng nếu xét riêng ở phương Đông thì nếu đi từ bắc xuống nam ta sẽ
thấy phía bắc Trung Quốc nặng về phân tích hơn tổng hợp, còn phía nam thì
ngược lại, nặng về tổng hợp hơn phân tích. Người Bách Việt và người Hán đã xây
dựng nên hai hệ thống triết lý khác nhau.
Ở phương Nam, với lối tư duy mạnh về tổng hợp, người Bách Việt đã tạo ra
mô hình vũ trụ với số lượng thành tố lẻ (dương): hai sinh ba (tam tài), ba sinh năm
(Ngũ hành). Chính vì thế mà Lão Tử, một nhà triết học của nước Sở (thuộc
phương Nam) lại cho rằng: "nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Tư duy
số lẻ là một trong những nét đặc thù của phương Nam. Trong rất nhiều thành ngữ,
tục ngữ Việt Nam, các số lẻ như 1, 3, 5, 7, 9 xuất hiện rất nhiều. Ví dụ: "ba mặt
một lời"; "ba vợ, bảy nàng hầu"; "tam sao, thất bản"...
Ở phương Bắc, với lối tư duy mạnh về phân tích, người Hán đã gọi Âm dương
là lưỡng nghi, và bằng cách phân đôi thuần túy mà sinh ra mô hình vũ trụ chặt chẽ
với số lượng thành tố chẵn (âm). Chính vì vậy Kinh Dịch trình bày sự hình thành
vũ trụ như sau: "lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến
hóa vô cùng" (hai sinh bốn, bốn sinh tám). Người phương Bắc thích dùng số chẵn;
ví dụ, "tứ đại", "tứ mã", "tứ trụ"... Lối tư duy như vậy, hoàn toàn không có chỗ
cho Ngũ hành - điều này cho thấy, quan niệm cho rằng "Âm dương - Ngũ hành bát quái" chỉ là sản phẩm của người Hán có lẽ là một sai lầm.
1.2. Thuyết Ngũ hành
1.2.1. Sơ lược về học thuyết Ngũ hành
Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới những
nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình thành
thuyết Âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bản thể thế giới, bản thể các hiện tượng
trong vũ trụ đã giúp cho họ hình thành thuyết Ngũ hành. Thuyết Ngũ hành có thể
hiểu đó là thuyết biểu thị quy luật vận động của thế giới, của vũ trụ, nó cụ thể hóa
và bổ sung cho thuyết Âm dương thêm hoàn bị. Như vậy, học thuyết Ngũ hành là
học thuyết Âm dương, nhưng liên hệ cụ thể hơn trong việc quan sát quy nạp và sự
liên quan của các sự vật trong thiên nhiên.
4

Hiện tượng
Vật chất
Màu sắc
Vị
Mùa
Phương
Tạng
Phủ
Ngũ thể
Ngũ quán
Tình chí

Mộc
Gỗ, cây
Xanh
Chua
Xuân
Đông
Can
Đởm
Cân
Mắt
Giận

Ngũ hành
Hỏa
Thổ
Lửa
Đất
Đỏ

Nước
Đen
Mặn
Đông
Bắc
Thận
Bàng quang
Xương, tuỷ
Tai
Sợ

1.2.2. Hoàn cảnh ra đời
Cổ thư chữ Hán đã xác định rằng, thời Vua Đại Vũ - 4000 năm cách ngày nay,
khi đi trị thủy ở sông Lạc, thấy con Thần Quy hiện lên. Trên đầu, lưng, mai và
đuôi có những vết chấm. Nhà vua nhìn thấy và làm ra đồ hình Lạc Thư. Căn cứ
vào Lạc Thư mà Ngài đã phát minh ra Ngũ hành trong trước tác nổi tiếng là Hồng
Phạm cửu trù. Trong Hồng Phạm cửu trù khái niệm Ngũ hành xuất hiện. Hồng
phạm cửu trù được nhắc tới trong thiên Vũ Cống của kinh Thư. Nhưng đồ hình

5


Học thuyết Âm dương – Ngũ hành

Lạc thư như thế nào cũng không rõ và cũng chỉ được công bố vào đời Tống, tức là
hơn 3000 năm sau khi cổ thư nhắc tới sự kiện này.
Hình 1.1. Đồ hình Lạc Thư điểm và Thần Qui hiện trên sông Lạc

Hình minh họa những điểm trên thân Thần Qui hiện trên sông Lạc và đồ hình
Lạc Thư điểm. Cũng do các đạo gia đời Tống công bố sau khi lịch sử văn hóa Hán

phần nói về mối quan hệ giữa Ngũ hành với giới tự nhiên có rõ nét hơn. "Nguyệt
lệnh" dùng thuộc tính vốn có của năm loại vật chất và tác dụng (tương sinh) lẫn
nhau giữa chúng để thuyết minh cho sự biến hóa của thời tiết bốn mùa. Sự thuyết
minh này tuy có tính chất khiên cưỡng nhưng là một quan điểm duy vật. Còn về
mặt xã hội thì "Nguyệt lệnh" cũng giống như "Hồng phạm", ý đồ chính trị đã được
nâng lên đến mức thể chế hành động của ông vua theo Ngũ hành. Người ta lấy sự
chặt chẽ của trật tự Ngũ hành và quan hệ sinh khắc của nó để làm mực thước cai
trị xã hội.
Trâu Diễn là một lãnh tụ quan trọng của các nhà Ngũ hành thời Chiến quốc.
Khi đưa thuyết Ngũ hành vào lịch sử, ông đã dùng trật tự của Ngũ hành để gán
ghép cho trật tự của các triều đại vua. Ý tưởng của ông đã thành một nếp khẳng
định trong ý thức hệ của giai cấp phong kiến, đến nỗi gây ra cuộc tranh luận về
việc chọn tên "hành" cho triều đại nhà Hán (một triều đại mà học thuyết Âm
dương Ngũ hành rất thịnh và được đem ứng dựng vào tất cả các công việc hàng
ngày, vào mọi mặt của đời sống xã hội). Lý luận của Trâu Diễn được các danh gia
đương thời hấp thụ và quán triệt vào các lĩnh vực của hình thái ý thức xã hội.
Học thuyết Ngũ hành của Đổng Trọng Thư, một nho sĩ uyên bác đời Hán có
nhiều điểm khác với tư tưởng của Cơ Tử và Trâu Diễn. Đi sâu vào hình thái của
quy luật Ngũ hành, Đổng Trọng Thư cho rằng, trật tự của Ngũ hành bất đầu từ
mộc qua hỏa, thổ, kim,thủy. Khi phân tích quy luật sinh khắc của Ngũ hành, ông

7


Học thuyết Âm dương – Ngũ hành

đã dựa hẳn vào sự diễn biến của khí hậu bốn mùa. Theo ông, sở dĩ có sự vận
chuyển bốn mùa là do khí âm, dương biến đổi.
Trong "Kinh Dịch", khi nói về Ngũ hành, các nhà toán học và dịch học đã lý
giải nó trên hai hình Hà đồ và Lạc thư. Theo "Kinh Dịch” thì trời lấy số 1 mà sinh

2.1. Nội dung cơ bản của học thuyết Âm dương
Ở phần trên, định nghĩa thuyết Âm dương - Ngũ hành đã được trình bài một
cách khá rõ ràng, ở phần này, những nội dung cơ bản của thuyết trên sẽ được nêu
cụ thể, để độc giả có được hiểu biết cở bản về nó. Đầu tiên, chúng tôi xin nói về
thuyết Âm dương. Âm và dương là tên gọi đặt cho hai yếu tố cơ bản của một vật,
hai cực của một quá trình vận động và hai nhóm hiện tượng có mối liên quan biện
chứng với nhau.
 Tính cơ bản của âm: Ở phía dưới, ở bên trong, yên tĩnh có xu hướng tích tụ,
những gì yếu đuối nhỏ bé, tối tăm, thụ động, nữ tính, mềm mại.
 Tính cơ bản của dương: Ở phía trên, ở bên ngoài, hoạt động có xu hướng
phân tán, sự mạnh mẽ, cho ánh sáng, chủ động, nam tính, cứng rắn.
Dựa vào những thuộc tính cơ bản, người ta phân định tính chất Âm dương cho
các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội như sau:
Hình 2.1. Biểu tượng Âm dương nói lên bản chất
và mối quan hệ giữa âm và dương

Hình 2.2. Thờ sinh thực khí nam và nữ của đồng bào dân tộc Chăm

11


Học thuyết Âm dương – Ngũ hành

Cột hình tròn (dương) biểu hiện cho nam, hình bệ vuông (âm) biểu hiện cho
nữ.
2.1.1. Âm dương đối lập nhau
Âm dương là hai từ dùng để chỉ hai mặt đối lập mà chế ước lẫn nhau của mỗi
sự vật. Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai mặt Âm dương. Ví
dụ: Ngày - đêm, nước - lửa, ức chế - hưng phấn, khỏe - yếu.
2.1.2. Âm dương hỗ căn

Quy luật về bản chất của các thành tố của triết lý Âm dương là:
- Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, và
- Trong âm có dương, trong dương có âm.
Quy luật này cho thấy việc xác định một vật là âm hay dương chỉ là tương đối,
trong sự so sánh với một vật khác. Ví dụ, về trong âm có dương: đất lạnh nên
thuộc âm nhưng càng đi sâu xuống lòng đất thì càng nóng; về trong dương có âm:
nắng nóng thuộc dương, nhưng nắng nhiều sẽ có mưa nhiều (hơi nước bay lên)
làm nên mưa lạnh thuộc âm. Chính vì thế mà việc xác định tính Âm dương của các
cặp đối lập thường dễ dàng. Nhưng đối với các vật đơn lẻ thì khó khăn hơn nên có
hai hệ quả để giúp cho việc xác định tính Âm dương của một đối tượng:
+ Muốn xác định được tính chất Âm dương của một đối tượng thì trước hết
phải xác định được đối tượng so sánh. Màu trắng so với màu đỏ thì là âm, nhưng
so với màu đen thì là dương. Ta có thể xác lập được mức độ Âm dương cho nhiều
hệ; ví dụ, về màu sắc thì đi từ âm đến dương ta có đen-trắng-xanh-vàng-đỏ (đất
"đen" sinh ra mầm lá "trắng", lớn lên thì chuyển thành "xanh", lâu dần chuyển
thành lá "vàng" và cuối cùng thành "đỏ").
+ Muốn xác định được tính chất Âm dương của một đối tượng thì phải xác
định được cơ sở so sánh. Ví dụ, nước so với đất thì, về độ cứng thì nước là âm, đất
là dương; nhưng về độ linh động thì nước là dương, đất là âm.
 Quy luật về quan hệ giữa các thành tố
Quy luật về quan hệ giữa các thành tố của triết lý Âm dương là:
- Âm dương gắn bó mật thiết với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau, và
- Âm phát triển đến cùng cực thì chuyển thành dương, dương phát triển đến
cùng cực thì chuyển thành âm.
13


Học thuyết Âm dương – Ngũ hành

Ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, nóng và lạnh,... luôn chuyển hóa cho


Học thuyết Âm dương – Ngũ hành

giả”. Trên lâm sàng khi chẩn đoán phải xác định cho đúng bản chất để dùng thuốc
chữa đúng nguyên nhân.
Ví dụ: bệnh nhiễm khuẩn gây sốt cao (chân nhiệt) do nhiễm độc gây trụy
mạch ngoại biên làm chân tay lạnh, ra mồ hôi lạnh (giả hàn), phải dùng thuốc mát
để trị. Bệnh đi đại tiện phân lỏng do lạnh (chân hàn), do mất nước, mất điện giả
gây nhiễm độc thần kinh làm co giật, sốt (giả nhiệt) phải dùng các thuốc ấm để
chữa nguyên nhân.
2.2. Nội dung của thuyết Ngũ hành
Nội dung cơ bản của học thuyết Ngũ hành là mối liên hệ biện chứng duy vật
giữa các sự vật hiện tượng trong giới tự nhiên. Năm loại vật chất này vận động,
chuyển hóa và tác động lẫn nhau hình thành nên thế giới tự nhiên, xã hội và tư
duy. Ngũ hành vừa có tác động thúc đẩy, vừa có tác động ức chế lẫn nhau hình
thành nên một vũ trụ luôn luôn vận động theo hình xoáy ốc giống như quan điểm
vật chất luôn vận động trong triết học Mác-Lênin. Nó được ứng dụng rộng rãi trên
mọi lĩnh vực khoa học và đời sống. Cụ thể, Ngũ hành phản ánh những sự vật, hiện
tượng hay thuộc tính, quan hệ như:
Mộc: gỗ, mùa xuân, phương Đông, màu xanh, vị chua,…
Hỏa: lửa, mùa hạ, phương Nam, màu đỏ, vị đắng,…
Thổ: đất, giữa hạ và thu, trung ương, màu vàng, vị ngọt,..
Kim: kim khí, mùa thu, phương Tây, màu trắng, vị cay,…
Thủy: nước, mùa đông, phương Bắc, vị mặn,…
(Nguồn: sách Triết học, phần I, trang 50)
Tinh thần cơ bản của thuyết Ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau
gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc. Ngoài ra, còn có tương
thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hóa phức tạp của sự vật. Các hành thường sắp
xếp theo trình tự: Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy.



Hỏa
Nóng, hướng
lên trên

Thổ
Nuôi lớn

Đông
Gan, mật
gân cốt, tứ
chi

Thủy
Lạnh rét,
hướng
xuống dưới
Bắc
Thận, bàng
quang, não,
hệ bài tiết

Nam
Tim, ruột
non, mạch
máu

Trung
Lá lách, dạ
dày, hệ tiêu

16


Học thuyết Âm dương – Ngũ hành

 Tương khắc: Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau, làm thiệt hại
nhau, nhưng phải biểu hiện cái ý quân bình và giữ gìn lẫn nhau giữa các Hành.
Quan hệ tương khắc: A khắc B, ký hiệu AB. Trong quan hệ này, những yếu
tố của lực lượng A trong quá trình tương tác với các yếu tố khác trong Vạn tượng
gây nên những hiệu ứng làm cho B không thu được nhiều giá trị mới, được tạo ra
trong quá trình tương tác Âm dương, làm cản trở sự phát triển của B.Ví dụ: Rễ cây
ăn sâu vào lòng đất hút chất dinh dưỡng của đất (mộc khắc thổ); Đất thấm nước,
ngăn chặn dòng nước (thổ khắc thủy); Nước làm tắt lửa (thủy khắc hỏa); Lửa nóng
làm chảy kim loại (hỏa khắc kim); Dụng cụ kim loại cưa, cắt được gỗ (kim khắc
mộc)….(Nguồn: Sách Triết học, phần I, trang 51).
Hình 2.4. Quan hệ tương khắc

Thuỷ  Hoả  Kim  Mộc  Thổ  Thuỷ
Hình 2.5. tổng hợp tương sinh tương khắc của Ngũ hành

17


Học thuyết Âm dương – Ngũ hành

Từ sơ đồ tổng hợp tương sinh tương khắc của Ngũ hành trên, chúng ta có thể
rút ra hai quy luật cơ bản sau:
 Quy luật cơ bản thứ nhất
Nếu: A sinh B, C khắc A thì B khắc C.
Điều này được lý giải như sau: Mọi sự vật phát triển, tương tác với các sự vật

can thuộc dương.
- Ất (Mộc), Đinh (Hoả), Kỷ (Thổ), Tân (Kim), Quí (Thuỷ) là những can Âm.
2.2.3.2. Địa chi
Địa chi là Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Trong đó:
- Tí (Thủy), Dần (Mộc), Thìn (Thổ), Ngọ (Hoả), Thân (Kim), Tuất (Thổ) là
những chi thuộc dương.
- Sửu (Thổ), Mão (Mộc), Tỵ ( Hoả ), Mùi ( Thổ ), Dần (Kim), Hợi (Thuỷ) là
những chi thuộc Âm.
- Can được quan niệm là gốc (có 10 can) còn ''chi '' là ngọn (12 chi). “Can
chi” kết hợp với nhau tạo nên chu kỳ lập lại sau 60 lần kết hợp. Quan hệ của các
địa chi, gồm có:
 Nhị hợp: Nghĩa là hai địa chi hợp với nhau để tạo ra một ý nghĩa mới về
Ngũ hành, cụ thể như:
Tí hợp với Sửu với tạo thành hành Thổ.
Dần hợp với Hợi tạo thành hành Mộc.
Mão hợp với Tuất tạo thành hành Hoả.
Thìn hợp với Dậu tạo thành hành Kim…
 Tam hợp: nghĩalà ba chi hợp với nhau đế tạo ra một ý nghĩa mới về Ngũ
hành là:
Thân - Tí - Thìn hợp với nhau tạo thành hành Thuỷ.
Dần - Ngọ - Tuất hợp với nhau tạo thành hành Hoả.
Tỵ - Ngọ - Tuất hợp với nhau tạo thành hành Mộc.
 Quan hệ xung (khắc) của các địa chi gồm có
Tí xung (khắc) với Ngọ.
Sửu xung (khắc) Mùi.
Dần xung (khắc) Thân.

19


vòng tuần hoàn đó, là nguồn gốc của nhau. Sự phân hóa giữa âm và dương được
xác định và hai trạng thái Âm dương được bộc lộ.
Lưỡng Nghi (Âm dương) được tượng trưng bằng hai vạch Dương và Âm gọi
là Dương Nghi và Âm Nghi. Dương được kí hiệu là một vạch liên tục (─) còn Âm
được kí hiệu bằng một vạch đứt, không liên tục (--). Đặt một vạch Dương lên trên
Dương Nghi thì thành Toàn Dương nên gọi là Thái Dương (Thái có nghĩa là lớn).
Đặt một vạch Âm lên trên Dương Nghi thì ta có một Dương làm chủ ở dưới nên
gọi là Thiếu Dương (Thiếu có nghĩa là còn nhỏ). Đặt một vạch Âm lên trên Âm
Nghi thành Toàn Âm gọi là Thái Âm. Đặt một vạch Dương lên trên Âm Nghi thì
ta có một Âm làm chủ ở bên dưới gọi là Thiếu Âm.
Như vậy ta có Tứ Tượng theo đúng thứ tự là Thiếu Dương, Thái Dương,
Thiếu Âm, Thái Âm. Thiếu Dương đi trước Thái Âm và Thiếu Âm đi trước Thái
Dương thể hiện Âm trung hữu Dương Căn, Dương trung hữu Âm Căn, nghĩa là
trong Âm có mầm Dương, trong Dương có mầm Âm. Dương sinh ở Dưới thành ra
Thiếu Dương có một vạch Dương mới sinh ở Dưới làm chủ. Dương Trưởng ở
Trên thành ra Thái Dương với hai gạch Dương là Dương đả toàn thịnh. Âm sinh ở
Trên cho nên Thiếu Âm có một Âm mới sinh ở Dưới làm chủ. Âm trưởng ở Dưới
cho nên Thái Âm với hai gạch Âm là Âm đã toàn thịnh.
Bát Quái là tám Quẻ, mỗi quẻ gồm có ba vạch (mỗi vạch còn gọi là Hào), còn
được gọi là Quẻ Độn hay Độn Quái, dùng để diễn tả tám hiện tượng chính của
họat động Âm dương trong Vũ Trụ. Việc xếp đặt các vạch để tạo thành Bát Quái
được thực hiện theo một thứ tự hoàn toàn theo tự nhiên: Dương trước, Âm sau, tay
mặt trước, tay trái sau. Thứ tự và tên gọi của Bát Quái như sau:

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status