Triết Học THUYẾT ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT ĐỐI VỚI NỀN Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG - Pdf 24

Thuyết Âm-dương – Ngũ hành và ảnh hưởng của Học thuyêt đối với nềnY học Phương Đông
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI SỐ 5:
HVTH: NGUYỄN THỊ GIANG
THANH
NHÓM: 6
STT: 97
LỚP: K20 – ĐÊM 1
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
MỤC LỤC
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang PL1
TP.HCM 05/2011
Thuyết Âm-dương – Ngũ hành và ảnh hưởng của Học thuyêt đối với nềnY học Phương Đông
Trang
N 4
PHỤ LỤC 1: CÁCH SỬ DỤNG THUỐC THEO HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG 4
BỆNH VỀ PHẾ 12
PHỤ LỤC 3: TRÍCH DẪN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
PHẦN MỞ ĐẦU 18
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 19
1.1. Thế nào là "Âm dương": 19
1.1. Thế nào là "Âm dương": 19
1.2. Thuyết Âm – Dương: 20
1.2. Thuyết Âm – Dương: 20
1.3. Thế nào là Ngũ hành: 20
1.3. Thế nào là Ngũ hành: 20
1.4. Thuyết Ngũ hành: 21
1.4. Thuyết Ngũ hành: 21

BIỂU ĐỔ TỒNG KẾT NGŨ HÀNH TRONG Y HỌC 40
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang PL3
Thuyết Âm-dương – Ngũ hành và ảnh hưởng của Học thuyêt đối với nềnY học Phương Đông
N.
PHỤ LỤC 1: CÁCH SỬ DỤNG THUỐC THEO HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
− Chứng thực nhiệt
Huyết nhiệt: Mụn nhọt tái phát nhiều lần do huyết nhiệt chỉ cần dùng những
thuốc mát để lương huyết như sinh địa, rễ cỏ tranh, huyền sâm, đan bì, xích thược
dược, thổ phục linh kết hợp thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ công anh,
quán chúng, lá chàm Đây là những thuốc tính hàn nhẹ.
Thấp nhiệt:Viêm gan siêu vi trùng, viêm phần phụ, viêm âm hộ, âm đạo, nội
mạc tử cung, viêm đài thận, bể thận do sỏi, viêm bàng quang, niệu đạo, viêm tinh
hoàn, viêm ruột mạn tính Thuộc hệ tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục. Đây là chứng bệnh
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang PL4
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

họng, không ra mồ hôi, thậm chí sau đó phát sốt nóng nhưng vẫn sợ lạnh thì dùng
thuốc chữa phong hàn, vì loại hàn này là biểu hàn.
Hàn thịnh tự trong cơ thể hoặc phục hàn từ trước là lý hàn, thường gặp nhất ở
trung tiêu như đau dạ dày-tá tràng vào mùa đông, cơn co thắt đại tràng do lạnh, dùng
các thuốc ấm, nóng như phụ tử chế, quế nhục, thảo quả, đại hồi, ngô thù du, càn
khương, cao lương khương
Hàn quyết: Do mất dương khí đột ngột, cảm lạnh đột ngột, tự nhiên người
lạnh toát, mặt trắng bệch, chân tay giá lạnh, có thể vã mồ hôi loãng lạnh đầm
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang PL5
Thuyết Âm-dương – Ngũ hành và ảnh hưởng của Học thuyêt đối với nềnY học Phương Đông
đìa Phải dùng thuốc nhiệt mạnh, tác dụng nhanh để hồi dương cứu thoát: Phụ tử
chế, cồn gừng, cồn quế, ngô thù du, dầu hồi vừa uóng vừa xoa xát mạnh
Hư hàn: do phần dương trong cơ thể suy giảm nên khi chữa chủ yếu bổ
dương. Tùy theo mà có thể gặp các trường hợp sau:
TÂm dương hư sinh tâm hàn trong cơn đau thắt ngực của thiếu máu cơ tim
do lạnh.
Tỳ dương hư sinh chứng ỉa chảy khi lạnh bụng, khi gặp thức ăn sống lạnh,
viêm đại tràng mạn tính thể hàn phân sột sệt như phân vịt.
Thận dương hư: Lạnh thắt lưng, đái đêm nhiều lần, liệt dục, đau mỏi lưng gối, ù
tai
PHỤ LỤC 2.1: ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ SINH LÝ:
1 . Âm dương và sinh lý :
Sự thay đổi của Âm khí và Dương khí trong cơ thể con người phụ thuộc vào
thiên nhiên. Sự biến đổi này sẽ gây ra những chuyển biến về mặt tâm, sinh lý của
con người và tình trạng sức khỏe của con người sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất vào thời
điểm giao mùa, đặc biệt là những người mang sẵn bệnh tật trong cơ thể trở nên yếu
ớt hơn, bệnh dễ phát tán hơn.
− Mùa xuân là mùa dương khí trong trời đất bắt đầu hội tụ và tăng lên.
− Mùa hè là mùa dương khí ở mức cực đại và âm khí yếu.
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang PL6

Thuyết Âm-dương – Ngũ hành và ảnh hưởng của Học thuyêt đối với nềnY học Phương Đông
Hành Thủy và sự tàng trữ: Đó là sự vận động tàng trữ các chất trong cơ thể
để dùng khi cần thiết.
c. Giữa 2 quan niệm cổ điển và hiện đại có một số điều khác biệt:
Nếu đứng về quan niệm cổ điển, mỗi hành chỉ ảnh hưởng đến một ngũ tạng.
Thí dụ: Can Mộc, Tâm Hỏa, Tỳ Thổ, Phế Kim và Thận Thủy.
Theo quan niệm hiện đại, mỗi hành đều ảnh hưởng và chi phối đến ngũ tạng.
Ngoài ra, mỗi hành đều có 2 mặt mâu thuẫn và thống nhất là Âm và Dương,
do đó ta có: Âm Mộc, Dương Mộc, Âm Hỏa, Dương Hỏa, Âm Thổ, Dương Thổ,
Âm Kim, Dương Kim, Âm Thủy, Dương Thủy. Việc phân biệt này sẽ giúp ích rất
nhiều trong việc chọn huyệt để điều trị thích hợp.
PHỤ LỤC 2.2 : ÂM DƯƠNG – NGŨ HÀNH VÀ BỆNH LÝ
1. Âm dương và Bệnh lý:
a. Quá trình phát sinh bệnh:
Mỗi hiện tượng đều có 2 mặt: một Dương (hưng phấn) và một Âm (ức chế).
Nếu một trong hai tác động trên mạnh hoặc suy kém khác thường làm cho mất trạng
thái quân bình, Âm dương sẽ dẫn tới tình trạng bệnh lý gọi là thiên suy hoặc thiên
thắng
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang PL8
Thuyết Âm-dương – Ngũ hành và ảnh hưởng của Học thuyêt đối với nềnY học Phương Đông
Hình 4: Âm Dương Thắng - Suy
− Thiên Thắng: Dương thắng quá, gây chứng nhiệt (sốt, tiểu đỏ ). Âm thắng
gây chứng hàn (lạnh, tiêu chảy ).
− Thiên Suy: Dương hư (lão suy, hưng phấn, thần kinh giảm ). Âm hư (mất
nước, ức chế thần kinh giảm ).
Tuy nhiên, nếu Âm suy quá thì Âm bị bệnh sinh ra chứng nội nhiệt, gọi là
Âm hư sinh nội nhiệt. Nếu Dương suy quá thì Dương bị bệnh và sinh ra chứng hàn ở
ngoài, gọi là Dương hư sinh ngoại hàn.
Khi một mặt Âm hay Dương ngày càng thịnh và không ngừng phát triển về
một phía đối lập, bệnh sẽ diễn biến theo hướng: Nhiệt quá hóa Hàn (nhiệt cực sinh

ngoài gây ra mình nóng, buồn phiền, khát nước, giống như Dương chứng nhưng chỉ
khác ở chỗ mình nóng mà thích đắp chăn ấm, miệng khát mà uống nước lạnh vào lại
mửa ra ngay. Mạch thường Trầm Tế, không lực  Khi trị liệu, phải dùng thuốc
nhiệt (ôn nóng), nếu dùng lầm thuốc hàn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
d. Âm Thăng Dương Giáng:
Huyết thuộc Âm, phải thăng (đi lên), nếu huyết hư không đi lên được phần
trên không được huyết nuôi dưỡng gây chóng mặt, hoa mắt nguyên nhân do âm
hư, cần bổ âm.
Khí thuộc Dương, phải giáng (đi xuống), khí không làm tròn chức năng thay
vì đi xuống lại đi lên gọi là khí nghịch, gây ra chứng hen suyễn, khó thở, nguyên
nhân do khí nghịch, cần điều chỉnh ở khí.
2. Ngũ hành và Bệnh lý:
Ứng dụng Ngũ hành vào bệnh lý, chủ yếu vận dụng quy luật Sinh Khắc,
Tương Thừa, Tương Vũ, Phản sinh khắc để giải thích các quan hệ bệnh lý khi một
cơ quan, tạng phủ nào đó có sự xáo trộn gây ra mất thăng bằng thái quá (hưng phấn)
hoặc bất cập (ức chế). Ngoài ra, có thể dùng các biểu hiện của Ngũ hành để tìm ra sự
xáo trộn ở các Hành, Tạng phủ, cơ quan.
Tuy nhiên, một hành nào đó có sự thay đổi cũng dẫn tới cả năm hành thay đổi
theo, nhất là trong các hội chứng bệnh. Do đó, mối quan hệ giữa các hành là mối
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang PL10
Thuyết Âm-dương – Ngũ hành và ảnh hưởng của Học thuyêt đối với nềnY học Phương Đông
quan hệ giữa năm hành Mỗi hành khi có sự xáo trộn (hưng phấn hoặc ức chế) có
thể do năm nguyên nhân: Chính tà, Hư tà, Thực tà, Vi tà và Tặc tà.
PHỤ LỤC 2.3: ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ CHÂM CỨU
1. Âm dương và Châm Cứu:
a. Âm dương và Kinh Lạc:
− Theo nguyên tắc thăng giáng:
• Các kinh âm ở tay, đi lên, tức đi từ vùng nách, ngực lên ngón tay (theo
chiều ly tâm). Các kinh Dương ở tay, đi xuống, tức từ các ngón tay đi
vào ngực, nách (theo chiều hướng tâm).

của kinh Phế, bên phải thuộc âm).
Cũng bệnh về phế, cũng huyệt Ngư tế mà trường hợp thứ nhất dùng huyệt ở
bên trái, trường hợp 2 lại dùng huyệt bên phải. Nếu không phân biệt được Âm
dương của huyệt sẽ không bao giờ sử dụng huyệt 1 cách chính xác được.
− Các huyệt của kinh âm (mặt trong chân tay) thuộc âm, các huyệt của kinh
dương (mặt ngoài chân tay) thuộc dương.
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang PL12
Thuyết Âm-dương – Ngũ hành và ảnh hưởng của Học thuyêt đối với nềnY học Phương Đông
− Các huyệt thuộc Nhâm mạch (đường giữa bụng) thuộc âm. Các huyệt thuộc
Đốc mạch (đường giữa sống lưng) thuộc dương.
− Những huyệt nào không nằm vào các đường kinh âm hoặc dương có thể dựa
vào vị trí hoặc tác dụng của huyệt để xác định đặc tính Âm dương cho huyệt
đó :
Thí dụ: Huyệt Ấn đường, khi kích thích, tiết ra chất Endorphin, làm giảm đau (có
tác dụng ức chế) do đó, mang đặc tính âm
2. Ngũ hành và Châm cứu:
Các kinh thư cổ đã áp dụng Ngũ hành vào một số huyệt vị nhất định là Tỉnh,
Vinh (Huỳnh), Du, Kinh, Hợp, gọi là Ngũ du huyệt.
Sự sắp xếp thứ tự của Ngũ du không thay đổi nhưng thứ tự của Ngũ hành lại
thay đổi tùy thuộc vào Âm dương của đường kinh. Kinh âm khởi đầu bằng Mộc,
kinh dương bắt đầu bằng Kim, sau đó cứ theo thứ tự tương sinh mà sắp xếp huyệt.
Ngũ Du Tỉnh Vinh (Huỳnh) Du Kinh Hợp
Kinh Âm Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
Kinh Dương Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ
Nhận xét về cách phân chia cổ điển ta thấy:
Nếu chỉ phân chia như trên sẽ không đủ để giải quyết vấn đề mâu thuẫn thống
nhất là Âm dương ngay trong mỗi hành và trong mỗi hành đều có Âm dương, do đó,
mỗi huyệt của Ngũ du cũng đều có Âm dương. Vì vậy, cùng một huyệt, cùng một
tên, một chức năng nhưng lại có 2 công dụng khác nhau là Dương Hỏa (hưng phấn
Hỏa) và Âm hỏa (ức chế Hỏa),

3. Làm thế nào để duy trì điều hòa Âm dương – Ngũ hành:
Âm dương của con người tương thông, tương ứng với sự thay đổi vận động
của Âm dương giới tự nhiên, mối quan hệ khắng khít không thể tách rời. Sự biến đổi
khí hậu (bốn mùa) là quy luật khách quan của tự nhiên, con người cũng thế, chỉ có
thích ứng với quy luật sinh dưỡng bốn mùa thì cơ thể con người mới có thể cân bằng
Âm dương, theo qui luật xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm.
Ngoài ra, chúng ta có thể cân bằng Âm dương thông qua ẩm thực. Người ta
phân loại thức ăn theo Ngũ hành dựa vào màu sắc (ngũ sắc), mùi vị (ngũ vị) mà suy
ra tác dụng của món ăn đối với cơ thể. Sau đó áp dụng nguyên tắc ăn uống theo qui
luật của Ngũ hành như dùng thức ăn phù hợp với tình hình sức khỏe của mình sao
cho duy trì được thế quân bình (đối với người khỏe) hoặc tái lập mối quan hệ quân
bình của Ngũ hành trong cơ thể (đối với người đau ốm). Tránh tình trạng dùng thái
quá một món ăn nào đó thì có thể hại sức khỏe.
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang PL15
Thuyết Âm-dương – Ngũ hành và ảnh hưởng của Học thuyêt đối với nềnY học Phương Đông
PHỤ LỤC 3: TRÍCH DẪN
(1)
(2) http:// suckhoedoisong.vn/20101029101840767p0c19/ly-giai-ve-thuyet-am-
duong.htm
(3)
option=com_content&view=article&id=438:quan-h-gia-am-dng-i-vi-vic-chn-
oan-va-iu-tr&catid=55:y-hc-chuyen-sau&Itemid=413
(4) Quy kinh là gì? Quy kinh là hiện tượng thuốc tác dụng vào cơ quan đích theo
12 đường kinh trong cơ thể.
Một số hiện tượng quy kinh: Bạc hà trắng cay đi vào kinh phế; Huyền sâm,
nhục thung dung, phác tiêu đen mặn vào kinh thận; chu sa, thần sa, sâm đại hành
đắng đỏ và tâm, Táo nhân; Thanh đại, táo mèo chua xanh và kinh can; Hoàng kỳ,
cam thảo vàng ngọt vào tỳ.
Hiện tượng quy kinh phức tạp, đan xen với tứ tính ngũ vị và không cứng nhắc
trong vận dụng.

1. Lý do chọn Đề tài:
Kể từ sau khi xuất hiện tác phẩm “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn” và với ảnh
hưởng mạnh mẽ của tác phẩm này, thuyết Âm dương - Ngũ hành ngày càng được
các nhà tư tưởng phát triển và vận dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có
lĩnh vực Y học ở Trung Quốc và một số nước phương Đông khác. Y học cổ truyền
phương Đông đã dựa trên cơ sở lý luận thuyết Âm dương - Ngũ hành để phòng trị
bệnh và nâng cao sức khỏe cho nhân dân. Chính vì thế, việc tìm hiểu học thuyết Âm
dương - Ngũ hành là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học cũng
như nền Y học Phương Đông.
2. Mục tiêu của Đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: trên cơ sở làm sáng tỏ thuyết Âm dương
Ngũ hành của triết học Phương Đông và ảnh hưởng của nó đối với nền y học, đề tài
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang 18
còn đi sâu nghiên cứu các ứng dụng thực tế của nó trong việc điều trị và chẩn bệnh
hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Thuyết Âm dương – Ngũ hành và sự ảnh hưởng của nó đến nền y học
Phương Đông.
4. Phương Pháp Nghiên Cứu:
4.1. Cơ sở phương pháp luận:
Đề tài được triển khai dựa trên nội dung của thuyết Âm dương - Ngũ hành và
giá trị của nền y học Phương Đông.
4.2. Các phương pháp cụ thể:
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày đề tài, các phương pháp nghiên cứu
đã được sử dụng như: Phương pháp lịch sử, Phương pháp phân tích tổng hợp,…
5. Kết cấu của đề tài: Gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Ảnh hưởng của Âm dương Ngũ hành đối với Y học
Chương 3: Âm dương Ngũ hành và biện chứng trong Y học
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.3. Thế nào là Ngũ hành:
Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế
giới này đều do năm yếu tố ban đầu là “nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại” tức Ngũ
hành “thủy, hỏa, thổ, mộc, kim”.
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang 20
Hình 2: Biều tượng Ngũ hành
Ngũ hành tương sinh: Thuộc lẽ thiên nhiên, nhờ nước cây xanh mọc lớn lên
(thủy sinh mộc), cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (mộc sinh hỏa, tro tàn tích lại đất vàng
thêm (hỏa sinh thổ), lòng đất tạo nên kim loại trắng (thổ sinh kim), kim loại vào lò
chảy nước đen (kim sinh thủy).
Ngũ hành tương khắc: Lẽ xưa nay rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày (mộc khắc
thổ), đất đắp đê cao ngăn nước lũ (thổ khắc thủy), nước dội nhiều nhanh dập lửa
ngay (thủy khắc hỏa), lửa lò nung chảy đồng sắt thép (hỏa khắc kim), thép cứng rèn
dao chặt cỏ cây (kim khắc mộc).
1.4. Thuyết Ngũ hành:
Học thuyết Ngũ hành chủ yếu nói về mối quan hệ phức tạp thể hiện ở quy
luật sinh - khắc - chế - hoá và bổ sung cho thuyết Âm Dương hoàn bị hơn.
Tinh thần cơ bản của thuyết Ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ
nhau gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc. Trên cơ sở sinh và khắc
kết hợp với hiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ nhằm biểu thị mọi sự biến hoá
phức tạp của sự vật.
Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng, đem
Ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa
lẫn nhau.
Mộc sinh Hoả = Can sinh Tâm
Hoả sinh Thổ = Tâm sinh Tỳ
Thổ sinh Kim = Tỳ sinh Phế
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang 21
Kim sinh Thuỷ = Phế sinh Thận
Thuỷ sinh Mộc = Thận sinh Can.

Chiến Quốc, đầu thời Tần Hán có hai xu hướng khác nhau bàn về sự kết hợp giữa
thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành.
− Hướng thứ nhất: Đổng Trọng Thư kết hợp Âm - Dương, Ngũ hành giữa
con người và tự nhiên có một mối quan hệ thần bí.
− Hướng thứ hai: Tác phẩm "Hoàng Đế Nội kinh" đã sử dụng triết học
Âm dương Ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học.
Từ đó, các nhà y học phương Đông đã vận dụng hai học thuyết này như một
lý luận cơ bản cho nền y học phương Đông. Các nhà y học phương Đông cho rằng:
“Cơ thể con người có rất nhiều bộ phận (tạng phủ kinh lạc ), mỗi bộ phận đều có
Dương và Âm được phân loại vào Ngũ hành, cho nên chỉ dùng riêng một học thuyết
để giải thích và phân tích vấn đề của con người có lúc sẽ không được toàn diện. Chỉ
khi nào kết hợp cả hai học thuyết thì mới có thể thu được kết quả đầy đủ. Như Ngũ
tạng, Lục phủ thì tạng là âm, phủ là dương, muốn giải thích sự phát triển của tạng
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang 23
(phủ) thì dùng học thuyết Âm dương để thuyết minh. Nếu nói về quan hệ sinh lý
bệnh lý giữa tạng phủ thì dùng học thuyết Ngũ hành để thuyết minh vì giữa ngũ tạng
có quan hệ tương sinh tương khắc, hợp lại là quy luật chế hoá, tương thừa tương
vũ”.
(1)

Vì thế, Y học phương Đông cũng như các lĩnh vực khác đều phải theo Âm
dương để phân rõ Ngũ hành và theo Ngũ hành để phân biệt Âm dương. Họ đã vận
dụng kết hợp cả Âm dương, Ngũ hành khi bàn đến thực tế lâm sàng mới có thể phân
tích sâu sắc kỹ càng hơn về những vấn đề trong Y học và các lĩnh vực khác. Có thể
thấy trên cơ bản Âm dương hợp với Ngũ hành thành một khâu hoàn chỉnh, giữa Âm
dương với Ngũ hành có mối quan hệ không thể tách rời nhau.
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT ÂM-DƯƠNG – NGŨ HÀNH ĐỐI
VỚI LĨNH VỰC Y HỌC CỦA PHƯƠNG ĐÔNG
2.1. Nguồn gốc Y học Phương Đông:
Đông y bắt nguồn từ lưu vực sông Hoàng Hà Trung Quốc, hình thành hệ

b. Bên trái là Dương, bên phải là Âm:
Một cách tự nhiên, hầu như bao giờ chân trái cũng khởi động trước. Theo các
nhà nghiên cứu, khi chuyển động trái đất tạo nên một dòng điện gọi là địa từ lực lôi
cuốn mọi vật - địa từ lực này mang đặc tính âm. Theo nguyên tắc vật lý, 2 vật cùng
cực đẩy nhau, khác cực hút nhau. Lực của trái đất là Âm, do đó sẽ hút lực Dương, vì
thế có thể coi như chân trái mang đặc tính Dương. Điều này rất có giá trị trong việc
điều trị bằng châm cứu khi phải chọn huyệt để châm.
HV: Nguyễn Thị Giang Thanh - Nhóm 6 Lớp K20 Đêm 1 Trang 25

Trích đoạn Âm dương Ngũ hành và Điều trị: Điều hòa Âm dương Ngũ hành: (Xem Phụ lục 2.4 Trang PL11
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status