Giáo dục Môi trường ở Tiểu học Giáo trình dành cho sinh viên ngành Tiểu học - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA SƯ PHẠM TỰ NHIÊN

ĐỒ NG MUÔN

BÀI GIẢNG

GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG Ở TIỂU HỌC
(Dùng cho bậc Cao đẳng, ngành Giáo dục Tiểu học)

Quả ng Ngãi, 2016

0


MỤC LỤC
BÀI MỞ ĐẦU. GIỚI THIỆU VỀ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Chương 1. CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MÔI TRƯỜNG
1.1. Tìm hiểu sự xuất hiện của sinh thái quyển và nhân tố sinh thái
của môi trường (2 tiết)..............................................................................................7
1.2. Tìm hiểu môi trường đất và các môi trường sinh thái trên cạn (2 tiết)............10
1.3. Tìm hiểu môi trường đất và môi trường không khí (2 tiết)..............................15
Chương 2. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
2.1. Tìm hiểu khái niệm phân loại tài nguyên và đánh giá
tài nguyên thiên nhiên (1 tiết)..................................................................................20
2.2. Tìm hiểu tài nguyên khoáng sản và phân loại (1 tiết)......................................23
2.3. Tìm hiểu tài nguyên đất, rừng và khí hậu (2 tiết).............................................28
2.4. Tìm hiểu tài nguyên nước, tài nguyên biển và đại dương (2 tiết)....................36
Chương 3. CÁC NGUYÊN LÍ SINH THÁI HỌC ỨNG DỤNG TRONG
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
3.1.Tìm hiểu cấu trúc của sự sống và cơ chế hoạt động cuả hệ sinh thái (1


GIỚI THIỆU VỀ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Mục tiêu
Sinh viên phân tích được khái niệm môi trường, mô tả được đối tượng và nhiệm vụ
của khoa học môi trường.

1. Định nghĩa về môi trường
Theo nghĩa rộng , môi trường là tập hợp tất cả các điều kiện bên ngoài có ảnh
hưởng tới mọi vật thể, một sự kiện hay một cơ thể sống. Bất cứ một vật thể, một sự
kiện hay một cơ thể sống nào cũng tồn tại và biến đổi trong một môi trường nhất
định.
Đối với cơ thể sống, môi trường sống là tập hợp tất cả các điều kiện bên ngoài
có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể. Đó là môi trường sống (living
environment) của cơ thể sinh vật. Sinh vật có bốn môi trường sống chính: môi
trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và môi trường sinh vật.
Môi trường sống của con người là cả vũ trụ, trong đó hệ Mặt Trời và Trái Đất
có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và sự phát triển của con người. Mặt Trời
cung cấp năng lượng cho sự sống. Về mặt vật lí, Trái Đất có thạch quyển
(lithosphere) chỉ phần vỏ Trái Đất có bề dày từ mặt đất đến độ sâu khoảng 60 km;
thủy quyển (hydrosphere) tạo nên bởi các đại dương, biển, ao hồ, sông suối, băng
tuyết; khí quyển (asmosphere) với không khí bao quanh Trái Đất. Về mặt sinh học,
Trái Đất có sinh quyển (biophere) bao gồm các cơ thể sống cùng với các bộ phận
của thạch quyển, thủy quyển và khí quyển tạo thành môi trường sống của của các cơ
thể sinh vật. Sinh quyển gồm có các thành phần hữu sinh và vô sinh, sinh quyển
ngoài vật chất và năng lượng còn chứa các thông tin sinh học có tác dụng duy trì
cấu trúc, cơ chế tồn tại và phát triển của các cơ thể sống. Dạng thông tin phát triển
cao nhất là trí tuệ con người, nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển
của Trái Đất.

3

tiếp, gián tiếp hoặc tác động qua lại với sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển và những
hoạt động của sinh vật (Trần Kiên, Hoàng Đức Nhuận, Mai Sỹ Tuấn, 1999)

4


5. Môi trường là tập hợp các điều kiện bên ngoài mà sinh vật tồn tại trong đó. Môi
trường của con người bao gồm tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, công nghệ, kinh
tế chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử và mĩ học... (Allaby 1994).
6. Môi trường là tổng hợp tất cả các nhân tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế và xã
hội có tác động tới một cá thể một quần thể, hoặc một cộng đồng. Những nhân tố
này bao gồm cả biện pháp quản lí hợp lí việc sử dụng và duy trì các nguồn tài
nguyên thiên nhiên đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài người hiện nay và
trong tương lai (Ngân hàng thế giới, 1980)
2. Giới thiệu về khoa học môi trường
2.1. Tính liên ngành của khoa học môi trường
Khoa học môi trường là khoa học tổng hợp của nhiều ngành khoa học tự
nhiên: Sinh học, Toán học, Vật lí, Hóa học, Địa lí tự nhiên, Thổ nhưỡng, Khí
tượng thủy văn, Địa chất và khoa học nhân văn: Lịch sử, Xã hội học, Dân tộc học,
Dân số học. Khoa học môi trường sử dụng tất cả các phương pháp nghiên
cứu các của các ngành khoa học trên. Tuy nhiên, khoa học môi trường sử dụng
những phương pháp ngiên cứu đặc trưng liên quan đến nội dung và mục đích
nghiên cứu riêng ở các môi trường khác nhau. Việc sử dụng phương pháp thống kê,
xác suất và các mô hình toán học giúp ích rất nhiều cho khoa học môi trường. Sự
phát triển nhanh của các khoa học liên quan đến khoa học môi trường đã đẩy nhanh
tốc độ phát triển và chất lượng của khoa học môi trường, giúp loài người bảo vệ
được “Trái Đất – ngôi nhà chung của chúng ta”.
2.2. Đối tượng của khoa học môi trường
Đối tượng nghiên cứu của khoa học môi trường là môi trường sống của con
người. Môi trường được chia thành môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi



Chương 1 (6 tiết)

CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MÔI TRƯỜNG
Mục tiêu
Sinh viên phân tích được khái niệm môi trường, mô tả được đối tượng và nhiệm vụ
của khoa học môi trường.

1.1. Tìm hiểu sự xuất hiện của sinh thái quyển và các nhân tố sinh thái của môi
trường
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của sinh thái quyển
1.1.1.1. Lịch sử hình thành sinh thái quyển
Sinh thái quyển (ecosphere) là tổng thể các thành phần vô cơ và sinh vật cấu
thành sinh quyển bao gồm lớp vỏ Trái Đất có sự sống và tổng thể các loài sinh vật
sống ở đó.
Cách đây 4.400 triệu năm, Trái Đất đã có khí quyển và đại dương. Trong khí
quyển có các chất vô cơ đơn giản như CO2, H2O, NH3, N2. Dưới tác dụng Mặt Trời,
năng lượng sấm chớp, một số phân tử vô cơ đã kết hợp với nhau tạo thành các phân
tử hữu cơ đơn giản. Một số phân tử chất hữu cơ này có khả năng đặc biệt là trao đổi
chất với môi trường bên ngoài, lớn lên và phân chia. Chúng là mầm mống đầu tiên
của sự sống.
Kết quả của quá trình tiến hóa của vật chất là tạo ra sự sống và sự sống đã
tham gia vào các quá trình biến đổi của Trái Đất từ khoảng 1 tỉ năm trước đây. Giai
đoạn đầu của tiến hóa vật chất là sự tiến hóa của vật lí và hóa học (từ 1,5 đến 4,1 tỉ
năm về trước).
Tiếp theo là giai đoạn tiến hóa sinh học, giai đoạn này bắt đầu từ mầm mống
đầu tiên của sự sống, xuất hiện khoảng 4,1 tỉ năm trước đây. Kết quả của các công
trình nghiên cứu cổ sinh cho thấy: các cơ thể đơn bào dạng bọt biển (Spongia) làm
bá chủ Trái Đất khoảng 600 triệu năm, rồi đến nhuyễn thể và các loài sâu bọ. Đến kỉ

- Vật chất được hình thành do tác động của các cơ thể sinh vật: lớp vỏ phong
hóa, lớp phủ thổ nhưỡng, không khí trong tầng đối lưu...
1.1.1.4. Phạm vi của sinh quyển
Phạm vi của sinh quyển tùy thuộc vào giới hạn phân bố của sinh vật:
- Giới hạn trên là nơi tiếp giáp với tầng ôzôn của khí quyển (cách mặt đất từ
25-30 km) trong tầng bình lưu, các bào tử có thể tồn tại trong độ cao này.

8


- Giới hạn dưới xuống tới đáy đại dương và trong lớp vỏ phong hóa ở các lục
địa.
Sinh vật phân bố không đều trong toàn bộ bề dày của sinh quyển, chúng chỉ
tập trung nhiều ở những nơi có thực vật phân bố. Như vậy, giới hạn của sinh quyển
bao gồm toàn bộ môi trường không khí tầng đối lưu, môi trường nước, môi trường
đất và lớp vỏ phong hóa của thạch quyển (có độ cao trung bình 60m).
Sự tương tác qua lại giữa các cơ thể sống với môi trường sống của chúng có
ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các môi trường sống: môi trường
nước, môi trường đất và môi trường không khí. Vì vậy, bảo vệ đa dạng sinh học
không chỉ bảo vệ vốn gen, mà còn bảo vệ sự cân bằng sinh thái và bảo vệ môi
trường sống của chúng.
1.1.2. Các nhân tố sinh thái
Các nhân tố sinh thái bao gồm: nhân tố vô sinh, nhân tố hữu sinh và nhân tố
con người. Các nhân tố sinh thái (NTST) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự thay
đổi của NTST kia và ngược lại, chẳng hạn ánh sáng sẽ làm thay đổi nhiệt độ, độ ẩm
của không khí...
Mỗi NTST của môi trường có ảnh hưởng khác nhau tới các loài sinh vật. Phần
lớn các nhân tố khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, gió và các nhân tố khác như
thức ăn luôn thay đổi theo thời gian và không gian. Những thay đổi của các NTST
có thể theo chu kì hoặc không có tính chu kì rõ ràng. Chúng tác động đến cơ thể

9


Nhân tố con người được tách khỏi nhân tố hữu sinh thành một nhân tố độc lập.
Do có sự phát triển cao về trí tuệ, nên con người đã tác động vào thiên nhiên bằng
các hoạt động của mình, thông qua chế độ xã hội. Trong quá trình tồn tại của mình,
con người không chỉ khai thác thiên nhiên mà còn cải tạo thiên nhiên, biến các cảnh
quan hoang sơ thành các cảnh quang có văn hóa, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất
và văn hóa ngày càng cao của mình. Vì vậy, hoạt động của con người đã làm thay
đổi mạnh mẽ môi trường, thậm chí có thể làm thay đổi hẳn môi trường và sinh giới
ở nhiều nơi.
Đánh giá
1. Trình bày khái quát về sự hình thành sinh thái quyền. Theo anh (chị), nhân tố nào
đã rút ngắn quá trình tiến hóa của vật chất?
2. Nêu phạm vi của sinh quyển. Các cơ sở sinh vật có ảnh hưởng như thế nào đến
các môi trường trong sinh quyển?
3. Cơ thể sinh vật chịu tác động của các nhân tố sinh thái nào? Cho ví dụ minh họa.
1.2. Tìm hiểu môi trường đất và các môi trường sinh thái trên cạn
1.2.1. Nguồn gốc, thành phần, cấu trúc của lớp đất bề mặt
1.2.1.1. Nguồn gốc
Đất là vật thể thiên nhiên được hình thành do quá trình phong hóa lớp đất đá
gốc dưới tác động của quá trình biến đổi địa chất và khí hậu lâu dài của Trái Đất.
Hoạt động của các sinh vật như thực vật, động vật và nhất là các vi sinh vật có vai
trò quan trọng trong quá trình hình thành đất.
Con người là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến những biến đổi của Trái Đất và sự
hình thành lớp đất mặt. Đất đã được hình thành trước khi con người xuất hiện, nên
con người không phải là nhân tố hình thành nên các loại đất trên Trái Đất. Song
bằng các hoạt động sản xuất của mình con người đã có vai trò quan trọng đến sự
hình thành một số loại đất: đất trồng lúa nước, đất bạc màu, đất xói mòn trơ sỏi đá...
Thực chất, đó là quá trình làm thay đổi quá trình hình thành đất, biến đổi nó từ loại

Nước trong đất không tồn tại riêng rẽ mà liên kết với các phân tử rắn trong
đất, với không khí và các khe hở trong đất. Nước tồn tại ở 4 dạng cơ bản: nước ở
thể rắn, thể hơi, nước liên kết và nước tự do. Nước tự do có vai trò quan trọng đối
với thực vật và tạo nên nguồn nước ngầm cung cấp cho hoạt động của con người.

11


Không khí trong đất là do không khí trong khí quyển thâm nhập vào và do
hoạt động sống của các sinh vật trong đất tạo nên. Chúng nằm trong các khe hở của
đất.
Nước và không khí trong đất có vai trò quan trọng trong quá trình phong phú,
là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của sinh vật trong đất và thực vật.
1.2.1.3. Cấu trúc
Một phẫu diện đất điển hình thường có các tầng (từ trên xuống dưới):
- Tầng thảm mục, gồm xác hữu cơ: cành, lá... đang phân hủy.
- Tầng tích lũy mùn, bề mặt chứa nhiều chất hữu cơ phân hủy từ xác sinh vật.
- Tầng rửa trôi là tầng chỉ có khi có sự rửa trôi mãnh liệt, cuốn trôi các vật chất
từ trên xuống.
- Tầng tích tụ, là tầng tập trung vật chất rửa trôi từ trên xuống, bao gồm sét và
các chất hòa tan.
- Tầng mẫu chất, bao gồm các sản phẩm phong hóa đang trong quá trình biến
đổi để trở thành đất.
- Dưới cùng là tầng đá mẹ, chứa các vật liệu của vỏ Trái Đất chưa bị phân hóa.
Cấu trúc của đất phụ thuộc vào thành phần cấp hạt và cấu tượng của đất, qua
đó ảnh hưởng đến đặc điểm sinh thái của đất: khả năng giữ nước, độ tơi xốp và
thoáng khí. Đặc điểm của đất còn phụ thuộc vào khí hậu ở các đới khác nhau. Vì
vậy, đất luôn mang trên mình nó các hệ sinh thái có các cơ thể sinh vật thích nghi
với môi trường sống của chúng. Đất vừa là môi trường sống, vừa trực tiếp hoặc gián
tiếp cung cấp chất dinh dưỡng cho sinh vật và con người.

Rừng lá nhọn phương Bắc (rừng Taiga)
Tiếp theo về phía Nam là rừng Taiga gồm chủ yếu những cây lá nhọn: thông
(Pinus), linh sam (Abres), vân sam (Epicea), thông rụng lá (Larix). Mùa đông dài,
khí hậu lạnh, nhiệt độ trung bình vào tháng 7 trên 10 C, mưa 300 – 500 mm. Hệ
động vật nghèo về số lượng loài, những loài thú lớn như hươu Canada (Cervus
canadensis), chúng ăn mầm cây, vỏ cây và địa y; thú ăn thịt có gấu, chó sói và cáo.
Chim định cư không nhiều, hầu hết ăn hạt cây, nhiều loài về mùa đông di cư xuống
phía nam.
Rừng lá rộng ôn đới
Rừng lá rộng ôn đới phát triển mạnh ở phía đông Bắc Mĩ, Tây Âu và Đông Á.
Ở đó thời tiết mùa hè ấm, lượng mưa vừa phải song mùa đông khí hậu trở nên khắc

13


nghiệt làm cho lá cây rụng. Giống như rừng nhiệt đới, rừng ôn đới cũng có nhiều
tầng tạo nên nhiều ổ sinh thái nên giới động vật phong phú: trên cây có sóc, chim ...,
trên mặt đất có hươu, lợn lòi, chó sói, chuột ...
Rừng Địa Trung Hải
Rừng Địa Trung Hải có nhiều ở Châu Âu, hiện nay đã bị suy thoái, trừ một số
nơi được ưu tiên bảo vệ thì rừng gồm những cây lá xanh tốt như: sồi xanh
(Quercusilex), sồi bẩn (Q. suber).
Thảo nguyên (đồng cỏ ôn đới)
Thảo nguyên vùng ôn đới có mùa hạ dài và nóng, sang mùa đông thì đỡ lạnh
và có ít tuyết. Thảm thực vật chủ yếu là cỏ thấp, úa khô chiếm ưu thế. Bao gồm
những động vật ăn thực vật chạy nhanh: bò bisông, ngựa hoang (Eqnus caballus),
lừa, sóc, chó sói đồng cỏ
Hoang mạc
Hoang mạc có ở miền nhiệt đới và ôn đới. Về mùa hè, nhiệt độ ở hoang mạc
ôn đới và nhiệt đới gần như nhau, nhưng về mùa đông hoang mạc ở ôn đới rất lạnh.

1. Tính chất của đất có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống sinh vật và con người?
2. Trình bày đặc điểm của hệ sinh thái trên cạn.
1.3. Tìm hiểu môi trường nước và môi trường không khí
1.3.1. Vai trò của nước đối với cơ thể sinh vật
Nước có vai trò quan trọng đối với đời sống của sinh vật. Nước là thành phần
không thể thiếu của tất cả các tế bào sống và chiếm tới 80 - 95 % khối lượng của
các mô sinh trưởng. Nước tham gia vào hầu hết các hoạt động sống của cơ thể sinh
vật: là nguyên liệu cho quá trình quang hợp, là phương tiện để vận chuyển và trao
đổi khoáng trong cây, là phương tiện để vận chuyển máu và chất dinh dưỡng ở động
vật. Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng, điều hòa nhiệt độ cơ thể và là
môi trường sống của nhiều loài sinh vật.
1.3.2. Những đặc điểm cơ bản của môi trường nước và sự thích nghi của sinh
vật
Môi trường nước có nhiều đặc điểm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
các cơ thể sinh vật.
Môi trường nước có độ đậm đặc lớn hơn môi trường không khí, có tác dụng
nâng đỡ cho các cơ thể sống trong nước, nên thực vật có mô cơ kém phát triển.
Nhiều loài cá thích nghi cơ thể sống trong nước, cơ thể thường có hình thuôn nhọn

15


để hạn chế sức cản của nước và có hệ cơ phát triển: cá trích, cá thu, cá mập, cá đen
phin, ...
Trong quá trình phát triển cá thể: ấu trùng của ếch, nhái, muỗi không thể tách
khỏi môi trường nước, hoặc một số động vật chỉ có thể sống được trong môi trường
ẩm ướt như ốc sên, giun đất, ếch nhái ...
Nhiệt độ trong nước có biên độ giao động hẹp. Ở dưới nước trên của đại
dương, dao động không quá 10 – 15 C và ở các vực nội địa dưới 30 C; càng xuống
sâu, nhiệt độ nước càng ổn định. Vì vậy, sinh vật sống trong nước có giới hạn hẹp

nhau. Để thích ứng với các tốc độ nước khác nhau này, một số loài cá có cấu tạo
thay đổi: nơi nước chảy, cá có đầu thường dẹp theo hướng lưng bụng (cá leo...); nơi
nước đứng, đầu ít dẹp hơn (cá mè...).
Các chất lơ lửng trong môi trường nước
Trong môi trường nước, các chát lơ lửng là các hạt đất, mảnh vụn có nguồn
gốc từ sinh vật. Các chất lơ lửng có ảnh hưởng đến độ trong và thành phần ánh sáng
trong môi trường nước; ảnh hưởng tới sự sống của các thực vật sống trong nước. Ở
dưới đáy sâu các vực nước, do thiếu ánh sáng nên hầu như không có các loài thực
vật quang hợp. Ở nơi nước đục, do quang hợp của các loài rong, tảo bị giảm nên
năng suất vực nước cũng giảm theo.
Dựa vào thành phần các loại muối trong nước và độ mặn, người ta chia thành:
nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Nước ngọt có hàm lượng Cl < 0,5 g/l, độ mặn gần
35‰, chủ yếu là mặn của muối NaCl; nước lợ là vùng giao tiếp giữa nước mặn của
biển và nước ngọt của sông ngòi nên có độ mặn thay đổi theo mùa từ 5 – 10‰, Cl =
8 – 16 g/l. Các loại muối: phốt phát, natri, độ mặn và độ pH trong nước có ảnh
hưởng đến cấu tạo, sinh lí, tập tính hoạt động và sự phân bố của thành phần sinh vật
thủy sinh.
Môi trường nước mặn là biển và đại dương, chúng chiếm 71% bề mặt Trái Đất
và có độ sâu trung bình hơn 4.000m, độ mặn 30 – 38 ‰. Thành phần thực vật
nghèo, nhiều tảo, vi khuẩn; trái lại, động vật lại rất phong phú với hầu hết các nhóm
động vật có các đặc điểm hình thái cấu tạo khác nhau ở các hệ sinh thái ứng với các
độ sâu của đại dương; tầng mặt, tấng giữa và tầng đáy hoặc vùng ven bờ, vùng khơi.
Môi trường nước ngọt chiếm khoảng 4 – 5% diện tích các lục địa, đặc trưng
bởi các hệ sinh thái nước đứng (ao, hồ, đầm, phá), nước chảy (sông, suối) có thành

17


phần sinh vật thủy sinh khác nhau. Dựa vào hàm lượng canxi trong nước, người ta
chia nước ngọt làm 2 dạng; nước cứng có [ Ca2+] > 25 mg/l; nước mềm có [ Ca2+]



mất nhiều nước. Vì vậy, vào thế kỉ XVI thủ đô Pêru đã chuyển từ độ cao 3500 m
xuống vùng bờ biển vì ở trên núi, ngựa, lợn, gà không sinh sản được.
Càng lên cao, số lượng loài và chất lượng các loài thực vật càng giảm. Ví dụ,
ở chân dãy núi Hoàng Liên Sơn có nhiều cây xanh thường ưa ẩm; ở lưng chừng núi
(1000-1500), nhiệt độ trung bình năm dưới 20 C, nhiều loài cây nhiệt đới không
sống được, thường gặp chủ yếu là những loài động vật á nhiệt đới thuộc họ Dẻ
(Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Hồ đào (Juglandaceae) và một số ít loài
Hạt trần. Lên độ cao trên 1500 m xuất hiện những cây lá kim ôn đới như Ainus,
Acer, Carpinus và nhiều loài cây Hạt trần.
Thành phần không khí ở tầng đối lưu tương đối đồng đều. Tính theo thể tích
các chất khí chủ yếu là nitơ (78,19%), ôxy (21,45%), CO2 (0,03%), agon (0,9%) và
các chất khí khác: hiđrô ( H2), ôxitcacbonat ( CO), ...
Trong không khí, hơi nước tuy chiếm tỉ trọng rất nhỏ, nhưng tạo ra độ ẩm
không khí. Các quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể sinh vật đều chịu ảnh
hưởng nhiều của độ ẩm không khí. Cơ thể sống trên cạn luôn có phản ứng chống sự
mất nước, nhưng nhu cầu về độ ẩm không khí của các loài không giống nhau: cây
samu, cao su sinh trưởng tốt ở nơi có độ ẩm cao, cây phi lao không chịu được độ ẩm
thấp.
Hoạt động sinh lí của cơ thể sinh vật bị ảnh hưởng khi môi trường không khí
bị ô nhiễm. Thành phần của không khí bị thay đổi, đặc biệt là nồng độ các chất:
CH4, SO2, CO, NO các hợp chất của Clo có nguồn gốc từ các hoạt động công
nghiệp và giao thông vận tải do con người gây ra. Hoạt động của con người thải ra
các chất khí: CO2, CO, CFC ..., gây hiệu ứng nhà kính làm biến đổi khí hậu Trái
Đất.
Đánh giá
1. Nước có vai trò như thế nào đối với sing vật và đời sống con người?
2. Mô tả đặc điểm của hệ sinh thái dưới nước.
3. Trình bày vai trò của không khí đối với đời sống của sinh vật và cho ví dụ.

vậy, khối lượng, số lượng và khả năng sử dụng tài nguyên không ngừng biến đổi.
2.1.2. Phân loại tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng và được phân loại theo nhiều tiêu chí khác
nhau:
2.1.2.1. Phân loại tài nguyên thiên nhiên theo các thuộc tính tự nhiên của chúng
- Tài nguyên đất đai

20


- Tài nguyên khí hậu
- Tài nguyên khoáng sản
- Tài nguyên biển và đại dương
- Tài nguyên nước
- Tài nguyên sinh vật
- Tài nguyên năng lượng
2.1.2.2. Theo khả năng bảo tồn, tái tạo và tính chất hao kiệt
Tài nguyên thiên nhiên được chia thành tài nguyên không bị hao kiệt và tài
nguyên có thể hao kiệt.
- Tài nguyên không bị hao kiệt là những loại tài nguyên có trữ lượng lớn và
khối lượng của chúng không thay đổi, hoặc thay đổi không đáng kể trong quá trình
sử dụng lâu dài. Đó là năng lượng Mặt Trời, năng lượng gió, không khí, tổng trữ
lượng nước của thế giới, năng lượng địa nhiệt,... Tuy nhiên, nếu sử dụng chúng
không hợp lí sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường.
- Tài nguyên có thể bị hao kiệt là những vật thể và hiện tượng tự nhiên mà số
lượng và chất lượng của chúng thay đổi một cách căn bản trong quá trình sử dụng.
Tài nguyên có thể bị hao kiệt được phân thành tài nguyên có thể phục hồi và tài
nguyên không phục hồi lại được.
+ Tài nguyên phục hồi là các tài nguyên mà thiên nhiên có thể tạo ra liên tục
và được con người sử dụng lâu dài. Hoặc có thể được định nghĩa một cách đơn giản

học – công nghệ và nhận thức của từng đối tượng khác nhau. Cùng một loại tài
nguyên, ở thời đại nguyên thủy là không cần, không có giá trị, thậm chí có hại (như
quặng, phóng xạ, dầu mỏ, khí thiên nhiên); nhưng hiện nay, chúng lại là những tài
nguyên rất quý giá.
Mục đích của việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên là nhằm:
- Sử dụng hợp lí, tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường để
thỏa mãn nhu cầu của con người và phát triển nền kinh tế quốc dân.
- Đảm bảo hiệu quả sử dụng tài nguyên cao nhất.
- Kết hợp những lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài về sử dụng tài nguyên.
Nội dung của đánh giá tài nguyên thiên nhiên là xác định: chủng loại và trữ
lượng tài nguyên; chất lượng, thành phần và tỉ lệ các thành phần có ích; các điều
kiện khai thác tài nguyên; chi phí tài nguyên cho một đơn vị sản xuất ra; cự li khai
thác và định cư của lãnh thổ; điều kiện giao thông và chi phí chuyên chở tài nguyên

22


tới nơi tiêu thụ; các giải pháp môi trường trong quá trình khai thác, vận chuyển, chế
biến và sử dụng tài nguyên...
Người ta còn đánh giá tài nguyên theo giá trị kinh tế (cao, trung bình, thấp);
theo mức độ quý hiếm (rất quý hiếm, quý hiếm, không quý hiếm); cho các mục đích
khác nhau: phục vụ nông nghiệp, phục vụ công nghiệp, phục vụ du lịch...
Khi đánh giá tài nguyên, cần chú ý kết hợp sử dụng các loại tài nguyên khác
nhau trên một diện tích lãnh thổ nhất định, khả năng sử dụng tổng hợp tài nguyên
thiên nhiên cùng ảnh hưởng của việc khai thác, sử dụng tài nguyên này đối với môi
trường.
Đánh giá
1. Phân biệt tài nguyên phục hồi và tài nguyên không phục hồi.
2. Điền những từ thích hợp vào đoạn viết sau đây: Nội dung của đánh giá tài nguyên
thiên nhiên là xác định: (a)..................... và trữ lượng tài nguyên (b).....................

chế biến khoáng sản. Những nước có công nghiệp khai khoáng và chế biến khoáng
sản phát triển mạnh, thường là những nước giàu có. Các nước đang phát triển tuy
khoáng sản nhiều, nhưng lại thiếu vốn và công nghệ hiện đại, nên phần lớn khoáng
sản của họ lại do những công ty của các nước giàu khai thác và chế luyện.
Thống kê của Viện Tài nguyên thế giới (tháng 8 – 1998) cho biết việc khai
thác khoáng sản của con người diễn ra mạnh làm suy giảm nguồn tài nguyên này.
Bảng 2.1. Số năm còn khai thác được của một số loại khoáng sản trên thế giới
Loại khoáng sản

Số năm còn khai Loại khoáng sản

Số năm còn khai

thác được

thác được

Vàng

30

Đồng

64

Vonfram

34

Thủy ngân

chứa và gây nhiều tác động tới môi trường. Khai thác khoáng sản tạo ra các moong
sâu, thay đổi địa hình, đảo lộn cân bằng nước ngầm, mất rừng và đất canh tác, bụi
bặm, gây ra tiếng ồn v.v... Việc chế luyện thải ra một khối lượng lớn khí độc hại...

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status