ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ BÍCH THỦY
¸P DôNG PH¸P LUËTTRONG
HO¹T §éNG KIÓM S¸T §IÒU TRAC¸C Vô ¸N H×NH Sù,
QUATHùC TIÔN VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N THµNH PHè H¶I
PHßNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ TH BCH THY
áP DụNG PHáP LUậTTRONG
HOạT ĐộNG KIểM SáT ĐIềU TRACáC Vụ áN HìNH Sự,
QUATHựC TIễN VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN THàNH PHố HảI
PHòNG
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s Nh nc v Phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: GS. TS. HONG TH KIM QU
1.1.
Áp dụng pháp luật - khái niệm, đặc điểm cơ bản ....................................7 Áp
1.1.1.
dụng pháp luật - một trong những hình thức thực hiện pháp luật ..........7 Đặc
1.1.2.
điểm cơ bản của áp dụng pháp luật......................................................13
1.2.
Nhận thức chung về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân ................................................................17
1.2.1.
Khái niệm, bản chất pháp lý của điều tra vụ án hình sự .............................17 Khái
1.2.2.
niệm, bản chất pháp lý của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự.........20
1.3.
Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân........................................................26
1.5.1.
Khái quát chung về các yếu tố tác động đến và đảm bảo áp dụng
pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân ...............................................................................42
1.5.2.
Một số yếu tố tác động, đảm bảo áp dụng pháp luật trong hoạt động
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự .............................................................43
KẾT LUẬN CHƢƠNG
1..........................................................................................48
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
HOẠT
ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG..............49
2.1.
Đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội và công tác xây dựng
đội
ngũ cán bộ, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành
2.2.
phố
2.3.
giác, tin báo tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải
phòng ........67
Kết quả áp dụng pháp luật đối với các biện pháp ngăn chặn của
Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hải
phòng .....................................................69
Đánh giá những ƣu điểm và hạn chế chủ yếu và nguyên
n
c
vg
Đi
ủ
a ƣu điểm về áp
y
sự ..........71
á
ế
Đánh giá hạn chế và nguyên nhân của hạn chế về về áp dụng
u
ƣ
u
LƢỢNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM
SÁT
đ
ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH
i
SỰ ........................................................77
ể
m
v
à
n
g
u
y
ê
n
n
h
â
n
c
Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự phải đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng ..................79
3.2.
Giải pháp đảm bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật trong hoạt động
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ............80
3.2.1.
Nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luật hình sự........................................81
3.2.2.
Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức chuyên môn, kỹ
năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ ngành kiểm sát................................94
3.2.3.
Nhóm giải pháp về giáo dục đạo đức, giáo dục quyền con ngƣời cho
đội ngũ kiểm sát viên, xây dựng văn hóa pháp luật kiểm sát viên..............97
3.2.4.
Nhóm giải pháp về tăng cƣờng trách nhiệm lãnh đạo của các tổ chức đảng,
giám sát nhà nƣớc và xã hội đối với hoạt động áp dụng pháp
luật của viện kiểm sát về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự...................100
3.2.5.
trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nƣớc cũng nhƣ trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình
sự nói riêng. Điều 107 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp". Kiểm sát điều tra là hoạt động thuộc
chức năng hiến định của VKSND, vừa có đặc điểm chung nhƣ các hình thức giám sát
khác của nhà nƣớc, vừa lại có những đặc thù riêng.
Áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án hình sự là một trong những
hình thức thực hiện pháp luật nói chung và trong lĩnh vực tƣ pháp hình sự nói riêng.
ADPL trong hoạt động kiểm sát điều tra là một trong những phƣơng thức giám sát
quyền lực nhà nƣớc để đảm bảo sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật, bảo vệ quyền
con ngƣời, quyền công dân, trật tự, an toàn xã hội.
ADPL trong hoạt động kiểm sát điều tra không chỉ có mục đích phát hiện vi phạm
pháp luật, mà còn có mục đích quan trọng hơn là qua đó xác định những nguyên
nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự.
Năm 2014 là năm đầu tiên thi hành Hiến pháp năm 2013 đã đƣợc Quốc hội thông
qua và có hiệu lực. Trong Hiến pháp có nhiều nội dung mới và có những nguyên tắc về tƣ
pháp rất tiến bộ, rất mới. Hiến pháp cũng quy định phải kiểm sát chặt chẽ hơn những biện
pháp cƣỡng chế tố tụng liên quan đến việc hạn chế quyền con ngƣời theo tinh thần đảm
bảo tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân.
VKSND bằng hoạt động kiểm sát các hoạt động tƣ pháp nhằm bảo đảm mọi hành
vi tội phạm đều phải đƣợc xử lý kịp thời, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình
sự đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và ngƣời phạm tội,
không làm oan ngƣời vô tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói
chung và của bị can, bị cáo nói riêng đƣợc tôn trọng ở tất cả các giai đoạn tố tụng hình
sự.
1
Trong thời gian, hoạt động áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự của ngành kiểm sát ở cả nƣớc nói chung và ở thành phố Hải phòng nói riêng
trình khoa học của các tác giả sau đây:
GS. TSKH. Đào Trí Úc, Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở
Việt Nam, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, 7, 2011
GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên), Giáo trình Lý luận chung về nhà
nước và pháp luật, Nxb. Đại học quốc gia Hà nội, 2005
GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế, Thực hiện pháp luật của cá nhân, công dân trong
bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, Tạp chí Luật
học, số /2015;
PGS. TS. Nguyễn Minh Đoan, Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật ở
Việt nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2009
+ Các công trình khoa học về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát
điều tra các vụ án hình sự
- Đề tài cấp Bộ: Cơ sở lý luận và thực tiễn của thu thập, đánh giá chứng cứ
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Phó viện trƣởng Viện Khoa học kiểm sát làm
chủ biên, 2005.
- Bùi Mạnh Cƣờng: Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án ma túy
ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, 2006.
- Vũ Viết Tuấn: Nâng cao Chất lượng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra
các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006.
- Lê Minh Tuấn: Quyền và trách nhiệm của kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát
việc khám nghiệm hiện trường, Tạp chí Kiểm sát, tháng 10/2007.
- Nguyễn Văn Chiến: Áp dụng căn cứ không khởi tố vụ án hình sự và phạm vi
áp dụng quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Tạp chí Kiểm sát, tháng 12/2002.
- Nguyễn Duy Giảng: Thủ tục rút gọn trong các giai đoạn tố tụng, Tạp chí Kiểm
sát, tháng 9/2003.
- Nguyễn Văn Nhật: Khám nghiệm hiện trường trong hoạt động điều tra hình
sự, Tạp chí Kiểm sát, tháng 4/2005.
3
- Phân tích cơ sở lý luận của áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp
luật trong hoạt động KSĐT các vụ án hình sự nói riêng.
4
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các
vụ án hình sự của VKSND trên địa bàn thành phố Hải phòng những năm gần đây.
- Đề xuất các giải pháp đảm bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật trong hoạt
động KSĐT các vụ án hình sự
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong hoạt động
KSĐT các vụ án hình sự.
- Các quan điểm, giải pháp đảm bảo chất lƣợng áp dụng pháp luật trong hoạt
động KSĐT các vụ án hình sự.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đề tài trên từ góc độ của chuyên ngành Lý luận và lịch
sử nhà nƣớc và pháp luật, chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản của
áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án hình sự trên cơ sở lý luận chung về
áp dụng pháp luật và chức năng hiến định của VKSND. Về thực tiễn, luận văn nghiên
cứu thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ở
VKSND thành phố Hải phòng.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn tiếp cận trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh về nhà nƣớc và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về bộ máy nhà nƣớc, về vai trò của VKSND bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân.
Tác giả sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản nhƣ: phân tích, tổng hợp,
điều tra xã hội học, so sánh vv….
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự cũng có những đặc điểm chung nhƣ ở các
loại hình áp dụng pháp luật khác. Đồng thời, tất cả các loại hình áp dụng pháp luật do
các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thực hiện luôn có mỗi quan hệ mật
thiết, tác động lẫn nhau vì đều có chung mục đích, nhiệm vụ là thi hành pháp luật.
Xét trong phạm trù rộng lớn về thực hiện pháp luật thì áp dụng pháp luật là một
trong những hình thức thực hiện pháp luật và có nhiều đặc trƣng riêng.
Xây dựng pháp luật là hoạt động rất khó khăn phức tạp để phù hợp cuộc sống.
Song có thể nói, thực hiện các quy định pháp luật còn phức tạp hơn bởi chịu nhiều yếu
tố tác động đến cả về khách quan và chủ quan. Ví dụ, đôi khi, việc áp dụng pháp luật có
sai sót có thể bắt nguồn từ sự sai sót trong chính bản thân các quy định pháp luật.
Trong Lý luận chung về nhà nƣớc và pháp luật, thực hiện pháp luật đƣợc nhận
thức là: "Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm
cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi
thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật [21].
Thực hiện pháp luật là những hành vi hợp pháp của cá nhân, tổ chức, phù hợp
lợi ích xã hội và của con ngƣời, phù hợp đạo đức xã hội. Cơ sở của những hành vi hợp
pháp là sự tự giác của con ngƣời, cũng có khi là dƣới áp lực của các chế tài pháp luật,
của dƣ luận xã hội, ảnh hƣởng của những ngƣời xung quanh.
Thực hiện pháp luật có vai trò to lớn, bởi đây chính là tính hiện thực của
7
pháp luật trong đời sống xã hội, trong hoạt động thực thi công vụ của các cơ quan
nhà nƣớc. Pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội,
đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc, phát huy đƣợc vai trò của Nhà
nƣớc trong việc thực hiện chức năng, quản lý, đƣa xã hội phát triển. Hiến pháp năm
2013 đƣợc Quốc hội nƣớc ta thông qua, đặc biệt thu hút sự quan tâm của toàn xã hội về
việc tổ chức thực hiện Hiến pháp năm 2013, để các quy định của Hiến pháp nhất là các
quy định ở chƣơng 2 "Quyền con ngƣời và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân" trở
Quy phạm đạo đức có vai trò làm định hƣớng cho nhà làm luật trong việc xác định tội
phạm hoá hay phi tội phạm hoá các hành vi [46]. Pháp luật của nhà nƣớc ta là một trong
những hình thức bảo vệ, phát huy đạo đức, tạo điều kiện cho sự hình thành những quan
niệm mới những chuẩn mực đạo đức mới, tiến bộ loại bỏ dần những quan niệm đạo đức
cũ tiêu cực.
Cá nhân, cơ quan công quyền hay tất cả các chủ thể pháp luật khác đều có thể
thực hiện pháp luật bằng nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào từng loại công việc, quan
hệ xã hộ mà họ có liên quan. Pháp đƣợc thực hiện đầy đủ, đúng đắn thì các quyền con
ngƣời, quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định mới đi vào cuộc sống, đảm bảo trật tự,
an toàn cho mọi hoạt động xã hội.
Trong nhà nƣớc pháp quyền, thực hiện pháp luật không chỉ nhằm bảo vệ pháp
luật mà điều đặc biệt quan trọng là bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân, nhất là đối
với những lĩnh vực dễ có khả năng vi phạm, chẳng hạn trong giai đoạn điều tra các vụ
án hình sự. GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế đã nhấn mạnh vai trò của
thực hiện pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền:
Nhà nƣớc pháp quyền không chỉ cần một hệ thống pháp luật tốt mà
điều quan trọng hơn nữa là pháp luật phải đƣợc thực hiện trong đời sống xã
hội... Nhiều quy định pháp luật vì những lý do khác nhau không đƣợc thực
hiện trong thực tế. Có thể nhận thấy rằng, tình trạng không bị xử lý hay xử lý
không đúng, không công bằng đối với các hành vi vi phạm pháp luật là một
trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng vi phạm pháp luật [20].
Nhiệm vụ của nhà nƣớc không chỉ là phải xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện
mà điều vô cùng quan trọng nhƣng lại rất phức tạp, khó khăn đó là đảm bảo
9
cho quy định pháp luật đƣợc thực hiện. Muốn vậy, các quy định pháp luật phải rõ
ràng, minh bạch, thể hiện đƣợc quyền, lợi ích và nghĩa vụ, trách nhiệm của các cá nhân,
tổ chức, thẩm quyền cụ thể của các cơ quan nhà nƣớc.trong dân chủ hoá các lĩnh vực hoạt
Đây là trƣờng hợp thực hiện các quy phạm pháp luật bắt buộc, những quy
phạm quy định nghĩa vụ phải thực hiện, thực hiện các hành vi tích cực nhất định để đảm
bảo trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích của con ngƣời.
So với tuân thủ pháp luật nêu trên thì ở hình thức chấp hành pháp luật, các chủ
thể bằng hành vi tích cực thực hiện quy định bắt buộc của pháp luật. Chủ thể thực hiện
pháp luật này là tất cả các cơ quan Nhà nƣớc, nhân viên Nhà nƣớc, các cá nhân, tổ chức
và mọi công dân trong xã hội.
- Sử dụng pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
pháp luật thực hiện quyền chủ thể đối với những hành vi mà pháp luật cho phép.
So với hai hình thức thực hiện pháp luật trên thì hình thức sử dụng pháp luật có
sự khác biệt, bởi vì ở đây, các chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện
những quy định pháp luật, sử dụng hay không sử dụng quyền mà pháp luật quy định. Ví
dụ nhƣ quyền khiếu nại, quyền kết hôn vv... Chủ thể pháp luật sẽ cân nhắc để lựa chọn
theo ý chí của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện.
Đ â y l à h ì n h t h ứ c t h ự c h i ệ n p h á p l u ậ t c h ủ độ n g v à t í c h c ự c b ằ ng c á c h à n h vi cụ
thể của các chủ thể pháp luật. Trong hình thức thực hiện pháp luật này, chủ thể pháp
luật còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, là việc sử dụng các
quyền năng pháp lý đƣợc pháp luật trao quyền. Nên về nguyên tắc họ có quyền thực
hiện hoặc không thực hiện các quyền của mình, pháp luật k h ô n g b ắ t b u ộ c c ác ch ủ t h ể p
h ả i t hự c h i ệ n n h ƣ h a i h ì n h t hứ c t uân t h ủ p h á p l u ậ t v à c h ấ p h à n h p h á p l u ật .
Tuy vậy, xét theo yêu cầu nhà nƣớc pháp quyền,bảo vệ quyền con ngƣời thì
chúng ta cần đảm bảo điều kiện cần thiết để cho các cá nhân sử dụng quyền một cách
đúng pháp luật. Trong tâm lý ngƣời dân, về mặt truyền thống thì có sự e ngại, thậm chí
còn có quan niệm trong dân gian" vô phúc đáo tụng đình". Ngày nay, trong xã hội dân
chủ, việc sử dụng quyền để bảo vệ lợi ích chính đáng hay để kiến nghị nhà nƣớc sửa đổi
pháp luật, phòng chống tham nhũng là điều cần thiết. Chủ thể thực hiện hình thức sử
dụng pháp luật là tất cả các cơ quan Nhà nƣớc, nhân viên Nhà nƣớc, các cá nhân, tổ
chức và mọi công dân trong xã hội.
11
12
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật
Là một trong nhƣng hình thức thực hiện pháp luật, cho nên áp dụng pháp luật
cũng có chung những đặc điểm của tất cả các hình thức thực hiện pháp luật. Đồng thời
ADPL lại có nhiều đặc điểm riêng. ADPL vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa
là cách thức Nhà nƣớc tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật, bảo đảm hiện thực
hóa các quy định pháp luật, các quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong cuộc sống.
- ADPL thể hiện tính quyền lực Nhà nước, tính tổ chức và sự tuân thủ
những thủ tục pháp luật nhất định
Tính chất quyền lực nhà nƣớc của áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ, chủ thể
của áp dụng pháp luật chỉ có thể là các cơ quan nhà nƣớc, các cá nhân, tổ chức đƣợc nhà
nƣớc trao quyền nhằm thực thi quyền lực nhà nƣớc. Từng cơ quan Nhà nƣớc hay nhà
chức trách trong phạm vi thẩm quyền đƣợc tiến hành những hoạt động áp dụng pháp
luật nhất định. Ví dụ: Viện kiểm sát nhân dân có các quyền năng pháp lý theo quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự: quyết định khởi tố vụ án hình sự (Điều 104); thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố vụ án hình sự (Điều 106); quyết định không khởi tố vụ án hình
sự (Điều 108); quyền hạn truy tố bị can vv…. Còn thẩm quyền xét xử thì duy nhất là thuộc
về Tòa án nhân dân theo quy định của Hiến pháp. Với tính chất này, ADPL khác so với các
hình thức thực hiện pháp luật ở trên.
A D P L l à mộ t h ì n h t hứ c t hự c hi ệ n p há p l uật t h ể h iệ n v ai t r ò, t r ách n h i ệ m c ủ a n
h à n ƣ ớ c, t h ô n g q u a đ ó p h á p l u ậ t đƣ ợc t r ở t h à n h h i ệ n t hự c , N h à n ƣ ớ c t h ự c h i ệ n đ ƣ ợ c
ch ứ c n ăn g tổ c h ứ c , q u ản l ý c á c l ĩn h v ự c c ủ a đ ờ i s ố ng x ã h ộ i , k ế t h ợ p v ớ i t rậ t tự xã h ội ,
bả o đ ả m c h o v i ệc t ổ c hứ c v à h o ạt đ ộ ng c ủa b ộ má y N h à n ƣ ớ c , c á c c ô n g c hứ c N h à n ƣ
ớ c t r o n g k h u ô n k h ổ ph á p l u ậ t . Đ i ều n à y c ó l ý d o b ở i t r o n g n h i ề u t rƣ ờ n g h ợ p , c á c q u y
đ ị n h c ủ a p h á p l u ậ t k h ô n g t h ể t hự c h i ện n ế u c h ỉ b ằ n g c á c h ìn h t hứ c t u â n t h eo p h á p l u ậ t,
t h i h à n h ph á p l u ật h oặ c sử d ụn g p h á p l uậ t .
- ADPL là hoạt động có tính sáng tạo
thi hành pháp luật của các cơ quan ngƣời có thẩm quyền trong thực hiện quyền lực
Nhà nƣớc nói chung. Bản thân ADPL cũng chứa đựng dấu hiệu, đặc đ i ể m c ủ a c á c h ì n
h th ứ c t h ự c hi ệ n p h áp l u ậ t k h á c l à t uâ n t h ủ p há p l u ậ t , t h i hà n h p h á p l uậ t và sử d ụ n g ph
á p l u ật .
14
- ADPL phải tuân theo thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định
Tuân thủ quy trình thủ tục pháp lý đó là yêu cầu, là đặc điểm quan trọng của
áp dụng pháp luật. Không chỉ trong xét xử, điều tra, hay xử phạt hành chính, mà cả
trong việc giải quyết công việc, áp dụng pháp luật đối với cá nhân, tổ chức nói chung.
Bởi có nhƣ vậy thì mới hạn chế dƣợc sai sót, và mới đảm bảo đƣợc sự công bằng,
khách quan trong hoạt động áp dụng pháp luật. Do tính chất quan trọng và phức tạp của
hoạt động áp dụng pháp luật, nên các văn bản pháp luật phải quy định đầy đủ, rõ ràng
quy trình, thủ tục thực hiện quy định pháp luật về nội dung, về quyền, nghĩa vụ của các
chủ thể quan hệ pháp luật.
GS. TSKH. Đào Trí Úc đã khẳng định yêu cầu tuân thủ quy trình, thủ tục
trong áp dụng pháp luật nhƣ sau:
Áp dụng pháp luật trong Nhà nƣớc pháp quyền đòi hỏi bảo đảm tính
công khai, minh bạch. Do vậy, thủ tục chặt chẽ, trình tự nghiêm ngặt (thủ tục
tố tụng, thủ tục hành chính v.v…) là đặc trƣng quan trọng của hình thức thực
hiện pháp luật này so với các hình thức đã nêu trên, trong số đó, tính chặt
chẽ cao nhất thuốc về quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt động tƣ pháp
[29].
Thủ tục đơn giản hay phức tạp phụ thuộc vào tính chất, mức độ quan trọng của
việc áp dụng pháp luật. Trong lĩnh vực hành chính, thủ tục pháp lý đơn giản hơn so với
trong lĩnh vực hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đơn cử, cảnh sát giao thông xử phạt
ngƣời điều khiển xe máy vƣợt đèn đỏ, thì thủ tục xử phạt hành chính rất đơn giản, trong
khi đó, xử phạt đối ngƣời phạm tội thì trình tự thủ tục tố tụng rất chặt chẽ, phải qua các
của BLHS. Cơ quan công an có thẩm quyền xử phạt ngƣời không đăng ký tạm trú, tạm
vắng theo quy định vv....
Trƣờng hợp thứ hai, áp dụng pháp luật cần thiết khi các những quyền và nghĩa
vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi, chấm dứt nếu thiếu sự can
thiệp của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Chẳng hạn, cơ quan hành chính áp
dụng các quy định pháp luật về cấp giấy phép kinh doanh theo quy định, cơ quan lao
động, thƣơng binh và xã hội áp dụng pháp luật về chính sách đối với ngƣời có công vv...
Kết quả áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nƣớc đƣợc thể hiện ở văn bản
16
pháp luật cá biệt, xác định cụ thể quyền, nghĩa vụ đối với các chủ thể. Trong lĩnh
vực hôn nhân và gia đình, bằng quyết định đăng ký kết hơn của các cơ quan hộ tịch trên
cơ sở áp dụng pháp luật sẽ dẫn đến phát sinh quan hệ pháp luật giữa các chủ thể liên
quan. Thiếu hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan hộ tịch, rõ ràng là không làm
phát sinh quan hệ pháp lý vợ chồng đối với các chủ thể cụ thể mặc dù đã có pháp luật quy
định về quyền kết hôn.
Trong trƣờng hợp thứ ba, khi xẩy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa
các chủ thể quan hệ pháp luật nhất định mà các bên đó không tự giải quyết đƣợc. Cơ
quan nhà nƣớc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về các quyền và nghĩa vụ pháp
lý của các chủ thể.
Trƣờng hợp thứ tƣ, áp dụng pháp luật cần thiết để các cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện pháp luật của
các chủ thể trong xã hội, hoặc xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc,
sự kiện thực tế nào đó [15]. Ví dụ, các công chứng viên của phòng công chứng nhà
nƣớc chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các hợp đồng giao dịch.
1.2. Nhận thức chung về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1. Khái niệm, bản chất pháp lý của điều tra vụ án hình sự