Luận văn bảo vệ quyền con người trong luật hình sự theo pháp luật nước ngoài và luật quốc tế - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ NAM

B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI
TRONG LUËT H×NH Sù THEO PH¸P LUËT N¦íC NGOµI
Vµ LUËTQUèC TÕ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ NAM

B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI
TRONG LUËT H×NH Sù THEO PH¸P LUËT N¦íC NGOµI
Vµ LUËTQUèC TÕ
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08

HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ LUẬT
HÌNH SỰ QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI........................7
1.1.

Khái niệm quyền con người và bảo vệ quyền con người................ 7 1.2.
Vấn đề quyền con người và quyền công dân ................................. 11

1.3.

Khái niệm luật hình sự quốc tế và luật hình sự quốc gia về bảo
vệ các quyền con người ..................................................................... 15

Chương 2: BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG PHÁP
LUẬT NƯỚC NGOÀI VÀ LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ ............ 23
2.1.

Pháp luật hình sự một số nước về bảo vệ quyền con người ........ 23

2.1.1. Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự Trung Quốc.............. 23
2.1.2. Bảo vệ quyền con người theo pháp luật hình sự Nga........................ 25
2.1.3. Bảo vệ quyền con người theo pháp luật hình sự Nhật Bản .............. 27
2.1.4.

Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự Liên bang Đức ........... 29

2.2.

Luật hình sự quốc tế và quyền con người ..................................... 31

2.3.

Hoàn thiện hệ thống, chính sách pháp luật bảo vệ quyền con người........ 72

3.2.2. Gia nhập Tòa án hình sự quốc tế của Việt Nam ................................ 79
3.2.3. Giáo dục, đào tạo quyền con người ở Việt Nam................................ 80
3.3.

Một số giải pháp khác ...................................................................... 82

KẾT LUẬN .................................................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 88


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN:

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.

BLHS:

Bộ luật hình sự

CAND:

Công an nhân dân

CEDAW:

Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt
đối xử chống lại phụ nữ



Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền

VBPL:

Văn bản pháp luật

VBQPPL:

Văn bản quy phạm pháp luật

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nói đến việc bảo vệ quyền con người, dù dưới bất kỳ góc độ nào đều
có nghĩa cùng đề cập đến việc bảo vệ nhân thân, các quyền và lợi ích hợp pháp
của con người nói chung và công dân nói riêng. Tại Lời nói đầu Tuyên
ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 [14] đã khẳng định rằng:
Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể
tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công
bằng và hòa bình trên thế giới. Điều cốt yếu là quyền con người cần phải được
pháp luật bảo vệ để con người không buộc phải nổi dậy như là một biện pháp cuối
cùng nhằm chống lại sự độc tài và áp bức. Các quốc gia thành viên đã cam kết,
cùng với Liên hợp quốc, phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các
quyền và tự do cơ bản của con người.

CTQG, Hà Nội, 2010; Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng
hình sự Việt Nam, do Trần Quang Tiệp làm chủ biên, NXB CTQG, Hà Nội,
2004; Quyền con người. Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của Ủy
ban Công ước LHQ, sách tham khảo, Khoa Luật, ĐHQGHN, NXB CAND,
2010; Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật quốc tế, Đề tài NCKH của
Nguyễn Bá Diến và Hoàng Ngọc Giao, Khoa Luật, ĐHQGHN, 2006; Bảo vệ
quyền con người bằng các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, đề tài NCKH
cấp ĐHQG Hà Nội, do Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí và Trịnh Quốc Toản đồng
chủ trì, Khoa Luật, ĐHQGHN, 2004; Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp
hình sự: Lý luận, thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật, đề tài NCKH

2


trọng điểm cấp ĐHQG Hà Nội, do Lê Văn Cảm chủ trì, Khoa Luật, ĐHQGHN,
2013; Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người, đề tài
NCKH về nhân quyền do Nguyễn Ngọc Chí chủ trì, Khoa Luật, ĐHQGHN,
2011; Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người, Tưởng Duy Kiên,
NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006.
Ngoài ra, còn có các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên
ngành, như: Công ước quốc tế về bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư
pháp, của Nguyễn Minh Tuấn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về
hội nhập quốc tế, 2012; Tòa án hình sự quốc tế - Một thiết chế quan trọng của
luật hình sự quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người, Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, số 5/2009 và Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện điều 119 Bộ luật
hình sự sửa đổi với tội mua bán người, của Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Kiểm sát, số
5(3)/2011; Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về bảo vệ
quyền phụ nữ trên cơ sở tiếp thu pháp luật quốc tế, của Trần thị Hồng Lê, Tạp
chí Khoa học, chuyên san Luật học, số 2/2014; Vai trò và trách nhiệm của các

Human Rights Machinery. What Future for the UN Treaty Body System and
the Human Rights Council Procedures?/Edited by: M. Cherif Bassiouni,
William A. Schabas - Antwerp: Intersentia Publishers, 2011; Международная и
внутригосударственная защита прав человека.: Учебник. -М.: Статут.
2011.; Quyền con người ở Trung Quốc và Việt Nam (Truyền thống, Lý luận và
Thực tiễn): Tradition on and Theory and implementation of Hunman Right in
China and Vietnam, NXB CTQG, Hà Nội, 2003; Wolfgang Benedek, Tìm hiểu
về quyền con người, NXB Tư pháp Hà Nội, 2008.
Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến những vấn đề khác
nhau về quyền con người: nghiên cứu lý luận về quyền con người; phân biệt
quyền con người và quyền công dân; một số khía cạnh pháp lý, xã hội về
quyền con người; nghiên cứu đa ngành và liên ngành về quyền con người;
4


nghiên cứu về các chế định cụ thể của pháp luật hình sự Việt Nam, luật hình
sự quốc tế về quyền con người; về an ninh con người và bảo vệ các quyền con
người bằng pháp luật hình sự và trong quá trình tố tụng hình sự. Tuy nhiên, xã
hội luôn biến đổi, con người ngày một phát triển cùng với sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, nên nghiên cứu về con người mà đặc biệt là về lĩnh vực
bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự (trên cơ sở
của luật quốc gia và luật quốc tế) luôn có tính mới, cần nghiên cứu. Do đó, việc
học viên chọn đề tài "Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự theo pháp
luật nước ngoài và luật quốc tế" để nghiên cứu và làm luận văn thạc sỹ luật
học là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động về quyền con
người trong pháp luật hình sự quốc tế; phân tích làm rõ một số điều khoản về
luật hình sự quốc tế và quyền con người.
Hệ thống hóa một số quy định về nhân quyền của một số nước, khu vực

nội dung của luận văn được kết cầu gồm ba chương:
Chương 1. Khái quát chung về quyền con người và luật hình sự quốc tế về
bảo vệ quyền con người;
Chương 2. Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật nước ngoài và
luật hình sự quốc tế;
Chương 3. Bảo vệ quyền con người theo pháp luật Việt Nam so với luật
quốc tế: Một số kiến nghị, giải pháp.

6


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

1.1. Khái niệm quyền con người [34] và bảo vệ quyền con người
Theo tài liệu của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa khác nhau
về quyền con người [34, 40, p.4]. Ý thức về tôn trọng quyền con người và
việc bảo vệ quyền con người là một quá trình lịch sử lâu dài, liên tục và luôn gắn
liền với lịch sử phát triển của loài người, quyền con người cũng được khẳng
định thông qua các hình thái kính tế-xã hội khác nhau, qua đó quyền con
người đã trở thành giá trị cao quý chung của nhân loại và được cộng đồng quốc tế
công nhận. Quyền con người được thể hiện thông qua các yếu tố như: bình đẳng,
tự do, bác ái, nhân văn, lòng bao dung, công lý, những khách thể quan trọng
này luôn được luật hình sự nói chung và luật hình sự quốc tế nói riêng bảo vệ
nhằm tránh cho con người khỏi sự xâm hại của những vi phạm pháp luật ở
mức độ cao nhất [34].
Tư tưởng về quyền con người và việc bảo vệ quyền này đã xuất hiện từ
rất sớm trong lịch sử của nhân loại [35]. Từ sau thế chiến thứ hai, các nước xã
hội chủ nghĩa đã nêu các quyền dân tộc cơ bản như một bộ phận thiết yếu của các

cần được bảo vệ bằng luật quốc tế nói chung, luật hình sự và luật hình sự quốc tế
nói riêng [30] đã ghi nhận cụ thể trong ba văn kiện quốc tế quan trọng về quyền
con người của Liên hợp quốc, cụ thể là: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
(UDHR) năm 1948; hai Công ước về: các quyền dân sự, chính trị (ICCPR); và về
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) năm 1966. Tổng thể các quyền con
người đã được ghi nhận và được bảo vệ bằng pháp luật quốc tế, luật hình sự và
luật hình sự quốc tế, cần được các quốc gia, dân

8


tộc và các tổ chức, cũng như mọi người trên toàn thế giới tôn trọng, thực thi
và bảo vệ. Trong số các quyền này, có các quyền được bảo vệ trực tiếp bằng luật
hình sự nói chung và luật hình sự quốc tế nói riêng (trên các bình diện nội dung và
trình tự, cũng như thủ tục xét xử), như: quyền sống; quyền tự do và an ninh cá
nhân; quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ; quyền được bảo vệ để không bị
tra tấn; quyền được bồi thường về mặt pháp lý khi bị vi phạm; quyền được bảo
vệ khỏi bị bắt giữ, giam cầm hoặc lưu đầy một cách tùy tiện; quyền được xét xử
bởi một Tòa án độc lập và không thiên vị; quyền được suy đoán vô tội; quyền
được bảo vệ không bị áp dụng luật hồi tố; quyền về sức khỏe; quyền được đối xử
nhân đạo khi bị tước tự do.
Ở Việt Nam, quyền con người, các quyền và tự do cơ bản của con
người lần đầu tiên đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và
Hiến pháp năm 1946 (Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa). Tuyên ngôn độc lập đã nhấn mạnh rằng tất cả con người và tất cả các
dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Do đó, quyền con người không chỉ là quyền
của cá nhân mà còn là quyền của mỗi dân tộc, của các dân tộc. Hai quyền này
thống nhất và làm tiền đề cho nhau vì bảo vệ quyền con người cũng chính là
bảo vệ quyền của mỗi dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

luật trên thức tế.
Vậy, khái niệm về bảo vệ quyền con người có thể được hiểu như sau:
bảo vệ quyền con người (các cá nhân) là một quá trình, là trách nhiệm của cả xã
hội (quốc gia và cộng đồng quốc tế). Nó phụ thuộc vào tổng thể nhiều điều kiện khác
nhau (kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa…) trong đó pháp luật có vị trí, vai trò và
tầm quan trọng hàng đầu và là tiên quyết nhất trong việc bảo vệ quyền con
người. Về khía cạnh pháp lý, đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con
10


người là hệ thống các quy định trong hệ thống pháp luật nhằm cụ thể hóa, bảo
đảm thực hiện bảo vệ quyền con người và cơ chế bảo đảm thực hiện các quy định
đó trong thực tiễn đời sống.
Như vậy, từ việc nghiên cứu khái quát lý luận về quyền con người và
bảo vệ quyền con người đã nêu cho thấy, dưới góc độ khoa học thì quyền con người
là những đặc quyền vốn có tự nhiên của con người, chỉ có con người mới có và các
quyền này phải được bảo vệ bằng pháp luật quốc gia và quốc tế, trong đó có luật
hình sự và luật hình sự quốc tế. Nội dung của việc bảo vệ quyền con người bằng
luật hình sự và luật hình sự quốc tế, hay vai trò của luật hình sự và luật hình sự
quốc tế với việc bảo vệ quyền con người sẽ được học viên nghiên cứu và thực
hiện trong luận văn này.
1.2. Vấn đề quyền con người và quyền công dân [2]
Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không thể
bị tước bỏ bởi bất cứ ai và với bất cứ chính thể nào. Các quyền không thể bị tước
bỏ bao gồm: quyền được sống; quyền tự do; quyền mưu cầu hạnh phúc; và quyền
được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật.
Trong xã hội quốc tế hiện đại, địa vị pháp lý của con người đã được
luật quốc tế bảo vệ, điều đó đã được ghi nhận trong các văn bản luật quốc tế
quan trọng, như: Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 (điều 6); Công ước về
quyền dân sự và quyền chính trị năm 1966 (điều 2), Việt Nam gia nhập Công ước

nhận tại điều 25 của Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người năm 1950.
Theo đó, bất kỳ cá nhân nào đều có quyền gửi đơn thỉnh cầu đến Hội đồng châu
Âu về quyền con người.
Đơn khiếu kiện cần phải đưa ra những dẫn chứng cụ thể, thuyết phục
về việc vi phạm nhân quyền đối với người làm đơn do Nhà nước đã tham gia
Công ước gây ra. Đơn được lưu trữ tại Ban thư ký của Hội đồng châu Âu và

12


được xem xét chỉ sau khi mọi biện pháp, phương tiện pháp lý đã được áp
dụng trong nước theo khuôn khổ của luật quốc tế nhưng không có kết quả,
trong thời hạn sáu tháng kể từ khi các cơ quan pháp lý trong nước có quyết định
cuối cùng về vụ việc này.
Thể nhân là chủ thể trách nhiệm hình sự quốc tế khi là tội phạm quốc
tế, thực tiễn đã có các vụ việc xét xử quốc tế để minh chứng cho vấn đề này. Ví dụ
theo Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng năm 1948,
những cá nhân gây nên nạn diệt chủng, đồng phạm diệt chủng, âm mưu, kích
động và những ý định thực hiện việc diệt chủng sẽ bị trừng phạt mà không phụ
thuộc vào việc người đó là lãnh đạo một quốc gia hay thường dân. Tội phạm diệt
chủng bị xét xử bởi toà án quốc gia (Ví dụ, Nuon Chea (89 tuổi) và Khieu
Samphan (84 tuổi) là những thủ lĩnh đầu tiên của chế độ Khmer Đỏ lĩnh án tù
trung thân do Tòa án Campuchia ra phán quyết ngày 07/8/2014 vì "phạm tội
ác chống lại loài người, diệt chủng, đàn áp chính trị cùng những hành vi vô
nhân đạo khác khác") [42] nơi xảy ra hành vi diệt chủng hoặc bởi Toà án hình
sự quốc tế. Toà do các quốc gia thành viên tham gia Công ước hoặc LHQ lập
ra.
Như vậy, quyền con người đã được định nghĩa thông qua những đặc
tính cơ bản của nó. Theo Văn phòng Cao ủy LHQ thì quyền con người là
những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm

câu hỏi: tại sao quyền con người và quyền công dân từ lâu đã là một trong
những nội dung cơ bản được ghi nhận trong nhiều Hiến pháp của các quốc gia
trên thế giới [20], tuy nhiên cần tránh việc các quy định của văn bản dưới Hiến
pháp vô tình hay cố ý thu hẹp lại các quyền của con người theo hiến định [16,
tr. 60].

14


Theo John Locke, triết gia người Anh ở thế kỷ XVI, ba quyền cơ bản
không thể bị tước đoạt của con người là quyền được sống, được tự do và quyền
được sở hữu. Trước đó, trong Đại Hiến chương (hay Hiến chương) Magna
Carta năm 1215, một trong những VBPL quan trọng trong lịch sử nước Anh,
một trong những tài liệu pháp lý đầu tiên trên thế giới tiết chế quyền lực của
nhà nước để bảo vệ các quyền của công dân, cũng quy định due process of law
(luật tôn trọng tất cả các quyền hợp pháp của công dân).
1.3. Khái niệm luật hình sự quốc tế và luật hình sự quốc gia về bảo vệ
các quyền con người
T h u ật n g ữ l u ật h ì n h s ự q u ố c t ế x u ấ t h i ện t ừ cu ố i t h ể k ỷ X I X đ ầu t h ế
k ỷ X X . N g u yê n n h â n d ẫ n đ ế n v i ệ c x u ấ t h i ệ n k h á i n i ệ m l u ậ t h ì n h s ự q u ố c t ế l à
d o n h i ề u n g u y ê n n h â n k h á c n h a u . Ví d ụ n h ư , v i ệ c x u ấ t h i ệ n c á c t ộ i p h ạ m mà
hành vi của nó xâm hại đến một số quốc gia (buôn bán nô lệ, buôn bán t h u ố c p
h i ện , t i ền g i ả - b ạc g i ả ); h o ặc s au t h ế ch i ến t h ứ h ai cù n g v ới s ự t ru y t ố v à t r ừn g
p h ạ t c á c t ộ i p h ạ m c h i ế n t r a n h , t ộ i c h ố n g l ạ i h ò a b ì n h v à l o à i n g ườ i , d ẫ n đ
ế n s ự p h ổ b i ế n t ê n g ọ i l u ậ t h ì n h s ự q u ố c t ế t ươ n g ứn g v ớ i c á c quy phạm quy
định về các hành vi vi phạm pháp luật mà luật này điều c h ỉ n h . M ộ t t r o n g c á
c C ô n g ướ c L H Q t h ể h i ệ n n ộ i d u n g n à y l à C ô n g ướ c v ề đấu tranh chống buôn
bán ma túy và các chất hướng thần năm 1988, Công ước này được áp dụng
nhằm đấu tranh chống buôn bán trái phép chất ma túy, vận chuyển trái phép là
hoạt động tội phạm quốc tế, còn có nghĩa là tội p h ạ m c h ố n g l u ật q u ố c t ế .

thứ hai. Tuy nhiên, trong lịch sử thế giới người ta đã từng biết tới khái niệm
luật hình sự quốc tế ở Vương quốc La Mã cổ đại khi những tên cướp biển được
coi là kẻ thù của nhân loại. Các quốc gia cổ đại cũng đã từng ký kết các điều
ước quốc tế về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm chiến tranh.
Luật hình sự quốc tế đương đại đã đưa ra các quy định về

16


cấu thành tội phạm, tổ chức các tòa án hình sự quốc tế, quy định thủ tục về tố
tụng hình sự quốc tế và vấn đề hợp tác giữa các quốc gia trong việc đấu tranh
phòng, chống tội phạm [41].
Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của quốc gia,
bao gồm hệ thống các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành trong đó xác
định rõ những hành vi vi phạm nào là tội phạm, đồng thời, quy định hình phạt
đối với từng tội phạm cụ thể.
Trong khi đó, theo quan điểm hẹp hơn thì cho rằng, luật hình sự quốc tế
là một bộ phận của luật quốc tế được ban hành để trừng phạt một số hành vi
phạm tội. Luật hình sự quốc tế cũng quy định việc xét xử để bài trừ và xét xử
những người bị buộc tội, ngoài ra, đó còn là hệ thống các quy tắc quy định
luật nào sẽ áp dụng đối với tội phạm quốc tế, các yếu tố giả định cần thiết đối
với các đạo luật này được coi như là bị cấm. Luật hình sự quốc tế còn quy
định các thủ tục quốc tế, hoạt động của các cơ quan khởi tố cũng như các giai
đoạn của các phiên tòa quốc tế [39, p.15].
Trong khi luật hình sự thì quy định và mô tả hành vi phạm tội, tính
chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quy định loại và mức hình phạt cụ thể
đối với từng tội phạm để dựa vào đó các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết
vụ án được chính xác, công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của luật hình sự Việt Nam là bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa

bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, sự tồn tại của hòa bình, an
ninh của nhân loại, cũng như quyền con người và các giá trị xã hội cao quý khác
tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm. Ngoài ra, luật hình sự và luật hình sự
quốc tế còn phối hợp hoạt động giữa các quốc gia trong việc đấu tranh phòng,
chống tội phạm nói chung và tội phạm quốc tế nói riêng, cũng như tội phạm có tính
chất quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, để bảo vệ quyền con người, quyền công
dân trong mỗi quốc gia trên phạm vi toàn cầu.
18


Ngoài ra, có sự khác nhau về nguồn luật. Tuy rằng, luật hình sự và luật
hình sự quốc tế đều có mục đích chung là được sử dụng để đấu tranh với các hành
vi trái luật nhằm bảo vệ con người nói chung và quyền con người nói riêng. Nguồn
của luật hình sự quốc tế hiện nay chưa được pháp điển hóa, hiện đang được chứa
đựng trong rất nhiều các văn bản điều ước.
Một là, nhóm nguồn đầu tiên điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự
trong lĩnh vực phân loại, phòng ngừa và trừng phạt các loại tội phạm quốc tế
đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến hòa bình và an ninh nhân loại.
Các văn bản đầu tiên là điều ước quốc tế giữa các chính phủ: Liên Xô,
Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp về xét xử và trừng phạt các tội phạm chiến tranh ở
châu Âu từ tháng 8/1945 - Quy chế tòa án Quân sự quốc tế Nurembe; Quy chế
tòa án Quân sự quốc tế Tokyo cho vùng Cận Đông từ ngày 19/01/1946 (Tòa
án Quân sự quốc tế Nurembe và Tokyo từ 1945-1948).
Vào những năm 90 thế kỷ trước, xuất hiện nhóm các văn bản mới dưới
dạng Nghị quyết 827 của Hội đồng Bảo an LHQ ngày 25/5/1993 và Nghị
quyết 995 của Hội đồng Bảo an LHQ ngày 08/11/1994, các Nghị quyết này đã
thông qua các quy chế: Quy chế tòa án hình sự quốc tế về Nam Tư (vì vi phạm
nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế); Quy chế tòa án hình sự quốc tế về Ruanda
(vì hành vi diệt chủng). Tòa ad hoc Nam Tư và Ruanda (1993,1994) về tội
phạm chiến tranh (Tòa án Hình sự quốc tế) do Hội đồng Bảo an thành lập trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status