Bảo vệ quyền con người trong bốn công ước geneva về việc bảo hộ nạn nhân chiến tranh - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN PHƯƠNG NHUNG

B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI TRONG BèN C¤NG ¦íC GENEVA
VÒ VIÖC B¶O Hé N¹N NH¢N CHIÕN TRANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN PHƯƠNG NHUNG

B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI TRONG BèN C¤NG ¦íC GENEVA
VÒ VIÖC B¶O Hé N¹N NH¢N CHIÕN TRANH
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYẾN BÁ DIẾN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

1.2.

Khái quát chung về bốn Công ước Geneva ................................... 15

1.2.1. Khái niệm về bốn Công ước Geneva ................................................ 15
1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của bốn Công ước Geneva ............. 18
1.2.3. Đặc điểm, vai trò, của bốn Công ước Geneva ................................... 25
1.2.4. Phạm vi áp dụng của bốn Công ước Geneva ..................................... 32
Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BỐN CÔNG ƯỚC
GENEVA VỀ VIỆC BẢO HỘ NẠN NHÂN CHIẾN TRANH..... 36
2.1.

Các nguyên tắc chung..................................................................... 36

2.2.

Bảo hộ đối với những người tham chiến........................................ 38

2.2.1. Bảo vệ những người bị thương, bị ốm, bị đắm tàu ............................ 38
2.2.2. Bảo vệ tù binh .................................................................................. 43
2.2.3. Lính đánh thuê .................................................................................. 52
2.3.

Bảo hộ đối với những đối tượng dân sự......................................... 55

2.3.1. Bảo vệ các nhân viên y tế, đơn vị y tế và phương tiện vận chuyển
y tế.................................................................................................... 55
2.3.2. Bảo vệ các nhân viên tôn giáo .......................................................... 60



Công ước Geneva và hai Nghị định thư bổ sung........................... 80

3.2.1. Việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục nội dung bốn Công ước
Geneva và hai Nghị định thư bổ sung ............................................... 80
3.2.2. Thực tiễn bảo vệ quyền con người trong xung đột vũ trang .............. 82
3.2.3. Nguyên nhân của tồn tại phổ biến vi phạm nhân quyền trong
chiến tranh ........................................................................................ 96
3.3.

Giải pháp để nâng cao tính hiệu quả trong việc thực thi bảo vệ
quyền con người trong bốn Công ước Geneva và hai Nghị định
thư bổ sung .................................................................................... 101

KẾT LUẬN ............................................................................................... 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 109


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HRW

Human rights watch

ICC

International criminal court

ICRC

International committee of the Red Cross


chứng kiến thảm cảnh vào cuối tháng 05/1968:
Hình ảnh hàng chục thi thể trẻ em chết thảm thương ghi sâu
vào tâm não tôi. Khi những đứa trẻ này chết một cách lặng lẽ, há
hốc miệng ra thở rồi yếu ớt giãy giụa giã từ cuộc đời, hết bé này
đến bé khác, tôi đã tự hỏi có thể nào chuộc được lỗi lầm cho một
cuộc thảm sát ghê rợn như thế [2].

1


Có thể nói, chiến tranh mang lại nỗi đau tuyệt vọng cho con người và
cả nỗi ám ảnh trong tâm thức của những người chứng kiến nó. Xét theo cái
nhìn nhân quyền, chiến tranh tước bỏ quyền làm người tự nhiên, và rất rất
nhiều quyền cơ bản lẽ ra trong thời bình con người được hưởng. Như một
thực tế, chiến tranh khiến cho bản chất con người bị biến dạng, mà trong rất
nhiều trường hợp, họ không được coi là một con người. Khi không được tôn
trọng giống như một con người, thì đương nhiên con người nói chung sẽ bị
giết, bị tra tấn một cách vô nhân đạo và phi nhân tính.
Chúng ta không thể không nhắc tới tội ác của Mỹ trong chiến tranh
Việt Nam với những vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền như tra tấn dã
man, hạ độc tù binh, tấn công không có sự phân biệt giữa binh lính và thường
dân, thả chất độc dioxin gây ra sự dị dạng cho thế hệ thứ hai, thứ ba… Tội ác
của chúng để lại hậu quả nặng nề sau khi chiến tranh kết thúc: con mất cha,
vợ mất chồng, mẹ mất con, một số trở về mang thương tật và nỗi đau thể xác
tinh thần suốt đời, đặc biệt thế hệ thứ hai, thứ ba bị dị dạng mất đi những
quyền con người cơ bản mà vốn dĩ tạo hóa đã ban tặng cho họ.
Ngày nay, mặc dù Liên Hợp Quốc đã ra đời nhằm ngăn chặn nguy cơ
của cuộc chiến tranh giữa các nước, nhưng chiến tranh vẫn diễn ra như một
quy luật khách quan với những vũ khí sát thương ngày càng hiện đại như
chiến tranh Iraq với Mỹ, các hành vi giết người vô nhân đạo của nhà nước

thể kể đến các công trình tiêu biểu sau:
- Cuốn: The relationship between international humanitarian law and
human rights law in armed conflict của tập thể tác giả Oona A. Hathaway,
Rebecca Crootof, Philip Levitz, Haley Nix, William Perdue, Chelsea Purvis,
Julia Spiege.Tài liệu này nói về mối quan hệ giữa Luật Nhân quyền quốc tế
và Luật Nhân đạo quốc tế trong đó một số quyền như quyền được sống,
quyền tự do biểu đạt, lập hội, di chuyển… có mâu thuẫn nhau khi chiến
tranh xảy ra.

3


- Cuốn: Nghiên cứu về pháp luật tập quán Luật Nhân đạo quốc tế: Góp
phần vào việc hiểu biết và tôn trọng quy tắc luật trong xung đột vũ trang của
tác giả Jean – Marie Henckaerts, NXB Cambridge University Press. Tài liệu
này giải thích nguyên nhân dẫn đến việc nghiên cứu về pháp luật tập quán
Nhân đạo quốc tế mà ICRC tiến hành vừa qua theo yêu cầu của Hội nghị quốc
tế Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ, vai trò của luật tập quán Nhân đạo quốc
tế trong trường hợp xung đột vũ trang xảy ra.
- Cuốn: Không thể chuộc lỗi của tác giả Allen Hassan - một bác sĩ, cựu
chiến binh người Mỹ, NXB Tuổi Trẻ. Tài liệu này ghi chép một cách chi tiết
tội ác của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam như giết dân thường mà
không có sự phân biệt giữa binh lính và thường dân, trẻ em bị giết một cách
thương tâm và sự nỗ lực của một bác sỹ lương y đối với nạn nhân chiến tranh
đồng thời thể hiện nỗi bất lực trước những xác chết không đếm nổi do tội ác
của binh lính Mỹ gây ra.
- Cuốn: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của các tác
giả Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội (2011). Tài liệu này cung cấp một khối lượng kiến
thức trọng tâm về pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền con

trong chiến tranh, tại sao việc bảo vệ nhân quyền trong chiến tranh là vấn đề
cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Hiện tại, Luật Geneva đã có những nguyên
tắc, quy định bảo vệ nhóm người nhất định trong chiến tranh như thế nào.
Qua đó, tác giả hiểu được sâu sắc các quy định của pháp luật, đồng thời đánh
giá được các quy định của Luật Geneva đã thực sự trở thành một khung pháp
lý bảo vệ có hiệu quả nhân quyền trong chiến tranh hay chưa hay chỉ dừng lại
ở trên lí thuyết. Mặt khác, tác giả muốn tìm tòi để có những nhận thức sâu sắc
về thực trạng về thực hiện quyền con người trong chiến tranh ở mức độ như
thế nào, và lí do tại sao lại còn nhiều tình trạng vi phạm nhân quyền trong
chiến tranh đến như vậy. Cuối cùng, tác giả trình bày một số kiến nghị, giải
pháp nhằm giảm thiểu tối đa các thiệt hại về người và của trong chiến tranh.

5


3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nói trên, luận văn sẽ giải quyết những
nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề cơ bản nhất về Luật Geneva và quyền con
người, quy chiếu những quy định trong Luật Geneva dưới lăng kính nhân
quyền, trình bày tính cấp thiết phải bảo vệ nhân quyền trong chiến tranh, đồng
thời, nêu ra việc quyền con người bị thu hẹp trong chiến tranh so với thời bình
để làm rõ thêm tính cấp thiết phải bảo vệ nhân quyền trong chiến tranh.
- Làm rõ cơ chế bảo vệ quyền con người trong Luật Geneva với những
nội dung lớn bao gồm: các nguyên tắc chung về bảo vệ quyền con người
trong Luật Geneva, bảo hộ với những người tham chiến, bảo hộ đối với những
đối tượng dân sự, các biện pháp nhằm hỗ trợ thúc đẩy hoạt động bảo vệ nhân
quyền trong chiến tranh, đồng thời, tác giả đưa ra những đánh giá và xem xét
các quy định của luật về bảo vệ quyền lợi của họ.
- Làm rõ thực trạng thực thi việc bảo vệ quyền con người khi xảy ra

7. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Luận văn cung cấp một cái nhìn tổng quan về Luật Geneva dưới lăng
kính nhân quyền, phân tích, làm rõ tính hiệu quả của Luật Geneva trong việc
bảo vệ các quyền cơ bản nhất của con người khi chiến tranh mang tính quốc
tế hoặc không mang tính chất quốc tế xảy ra. Đồng thời tác giả cũng đánh giá
được thực tiễn thực thi Luật Geneva trong việc bảo vệ nhóm người cụ thể trên
thực tế như thế nào.
Bên cạnh đó, tìm ra nguyên nhân tại sao còn tồn tại tình trạng vi phạm
phổ biến nhân quyền trong chiến tranh, để từ đó đưa ra các giải pháp kiến
nghị nhằm thúc đẩy việc bảo vệ quyền con người trong chiến tranh. Đó chính
là tính mới của luận văn mà các công trình nghiên cứu hiện có ở Việt Nam
chưa đề cập một cách rõ ràng.

7


8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
kết cấu làm 3 chương như sau:
Chương 1. Tổng quan về bốn Công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân
chiến tranh và quyền con người. Chương này cung cấp nhận thức chung về
quyền con người thông qua việc phân tích các khái niệm về quyền con người,
nêu ra tính cấp thiết phải bảo vệ quyền con người trong chiến tranh. Đồng
thời, tác giả đưa ra khái quát chung, khái niệm, lịch sử hình thành cũng như
đặc điểm, vai trò, phạm vi áp dụng của bốn Công ước Geneva và hai Nghị
định thư bổ sung.
Chương 2. Những nội dung cơ bản của bốn Công ước Geneva về việc
bảo hộ nạn nhân chiến tranh. Chương này làm rõ những nguyên tắc chung,
phân tích một cách cụ thể và chi tiết các quy định của pháp luật về bảo vệ
quyền con người trong xung đột vũ trang theo hai nhóm lớn bao gồm: bảo hộ

xã hội hay bạn là công dân bình thường, thậm chí bạn thuộc nhóm người dễ bị
tổn thương thì không một chủ thể nào, kể cả nhà nước có quyền tước bỏ
quyền con người bẩm sinh, vốn có của con người như quyền sống, quyền
được mưu cầu hạnh phúc, quyền không bị phân biệt đối xử… Một định nghĩa
khác của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc:
Quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát
(universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và
nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc
(omissions) làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép
(entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con
người [23, tr.21].
Điều này có nghĩa là mặc dù quyền con người là bẩm sinh vốn có
nhưng chắc chắn sẽ có sự vi phạm nếu không có những quy định của pháp

9


luật để phân định rạch ròi việc được làm gì và không được làm gì, đâu là hợp
pháp hay bất hợp pháp. Bởi vì mỗi con người khi sinh ra đều có những số
phận khác nhau, cuộc sống vốn dĩ đã không công bằng, có những người mới
sinh ra được học hành tử tế, thành đạt, có danh vọng nhưng có những người bị
mất cha mẹ, sống côi cút một mình, tương lai tăm tối, có những người bị tật
nguyền mãi mãi phải chịu số phận đáng thương, có những người nắm sức
mạnh quyền lực nhà nước trong tay, trong khi có những người chỉ là những
người dân bình thường. Điều này dẫn tới một tất yếu là xã hội lúc nào cũng
phân chia giai cấp: giai cấp nào nắm quyền lực về kinh tế thì nắm những
quyền lực khác như: xâm phạm quyền lợi của những giai cấp khác, nên nếu
không có pháp luật thì quyền con người nói chung và của nhóm yếu thế nói
riêng trong xã hội rất dễ bị xâm phạm.Vì thế quyền con người phải là những
bảo đảm pháp lý phổ quát thì mới bảo vệ nhân phẩm, thể chất, tinh thần cho

Theo số liệu của Bộ quốc phòng và một số tài liệu khác, trong chiến
tranh thế giới thứ nhất: 8 triệu binh sĩ bị chết, 15 triệu người bị thương nặng,
trong đó 7 triệu người bị tàn phế suốt đời, đa số những người này lại đang ở
độ tuổi thanh xuân, lực lượng lao động chính. Chiến tranh còn gây ra nạn đói,
bệnh tật và dân thường cũng phải chịu thảm hoạ. Nếu kể cả dân thường thì
chiến tranh thế giới nhất đã gây thương vong cho khoảng 33 triệu người kể cả
binh lính và dân thường. Tác hại của chiến tranh thế giới hai còn lớn hơn
nhiều với số lượng hơn 60 triệu người chết trong đó: Liên Xô 27 triệu, Trung
Quốc 13,5 triệu, Ba Lan 6 triệu, Đức 7,3 triệu, Nhật 2,1 triệu, Nam Tư 1,6
triệu, hơn 70 quốc gia với 1700 triệu người đã bị lôi cuốn vào vòng chiến,
khoảng 60 triệu người chết, 90 triệu người tàn phế và nhiều làng mạc, thành
phố bị phá hủy. Qua số liệu chúng ta thấy rằng chiến tranh đã gây ra một hậu
quả vô cùng nặng nề đối với nhân loại [36].
Trong chiến tranh Việt Nam,“quân Mỹ đã rải xuống Việt Nam một số

11


lượng lớn chất đi-ô-xin và vũ khí hủy diệt. Hậu quả làm hàng triệu người bị
chết, mang thương tật, đặc biệt 150.000 trẻ em thế hệ thứ hai, thứ ba bị di
chứng chất độc đang từng ngày đau đớn...” [46].
Sau khi chiến tranh kết thúc, các nạn nhân đã và đang chết dần chết
mòn, đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần. Trong số họ, có rất nhiều cảnh ngộ
bi đát, tuyệt vọng vì bệnh tật giày vò, cô đơn. Hàng trăm nghìn nạn nhân đã
chết, hàng trăm nghìn người đang vật lộn với bệnh tật hiểm nghèo, hàng trăm
nghìn trẻ em bị dị dạng, dị tật bẩm sinh, sống đời sống thực vật...
Thứ hai, kinh tế kiệt quệ, thiệt hại lớn về tài sản
Cũng theo ghi chép từ nguồn tài liệu trên, chiến tranh thế giới thứ nhất
kết thúc, thiệt hại về vật chất khoảng 260 tỉ USD. Chi phí quân sự trực tiếp
của các nước tham chiến khoảng 208 tỉ USD. Mức tăng trưởng của Châu Âu

đơn giản họ là con người. Sinh ra họ có quyền được sống, được quyền mưu
cầu hạnh phúc, được xét xử công bằng, được bảo vệ quyền sức khỏe. Quyền
sống với tư cách là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được
quy định trong Luật Nhân quyền quốc tế thì trong Luật Geneva, đối phương
cầm súng tước đoạt mạng sống của nhau là hợp pháp, bên cạnh đó, còn tồn tại
tình trạng thường dân bị giết, tù binh, hàng binh bị tra tấn, bị đối xử phi nhân
đạo, rơi vào lỗ đen của pháp luật mà không được xét xử thông qua một tòa án
xảy ra phổ biến trong các cuộc chiến.
Bên cạnh đó, theo Luật Nhân quyền quốc tế, mọi cá nhân mà tước đoạt
tự do của người khác thì phải chịu tố tụng (ngoại trừ một số ngoại lệ) còn
trong Luật Geneva, luật vẫn cho phép các nhà nước giam giữ tù binh chiến
tranh, có thể giam giữ một số dân thường vì lí do an ninh. Đặc biệt, trong quá
trình tố tụng có một số điểm khác biệt, về mặt lí luận, cả hai luật đều quy định
bị cáo đều có quyền bào chữa. Quyền bào chữa của bị cáo vi phạm pháp luật
trong xung đột vũ trang thông thường bị xử tại tòa án đối phương tức là kẻ thù
trước đó của mình, bất đồng ngôn ngữ thì quyền lợi của các bị cáo sẽ gặp
13


nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Trái lại, bị cáo trong
thời bình có thể liên lạc với người thân, tìm luật sư, đa phần là không bất
đồng ngôn ngữ nên việc bảo vệ quyền lợi của họ thuận lợi hơn.
Thứ năm, các quyền cơ bản của con người bị xâm phạm nghiêm trọng.
Như đã trình bày các thông tin trên, ta thấy rõ được tác hại của chiến
tranh gây ra vô cùng lớn về người, của cải, môi trường từ đó ảnh hưởng vô
cùng to lớn đến vấn đề bảo vệ quyền con người. Cụ thể, quyền sống bị vi
phạm nghiêm trọng, đặc biệt là nhóm người thuộc đối tượng bảo vệ vô can
không liên quan đến cuộc chiến như những người dân vô tội, phụ nữ, trẻ em,
người khuyết tật, nhân viên y tế. Trong hoàn cảnh chiến tranh, dường như một
thực tế là quyền bẩm sinh vốn có của con người như quyền sống, quyền được

cho rừng không thể lớn lên, đất bị nhiễm hóa chất không trồng trọt, chăn nuôi
được. Từ đó, kéo theo quyền về sức khỏe của con người không được đảm bảo
vì do sống trong môi trường có hóa chất độc, gây ra nhiều hiện tượng như vô
sinh, sinh dị dạng, ung thư xương, ung thư da...
Đặc biệt, một số quyền như quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử
hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo cũng bị vi phạm khá phổ biến, điển hình
là, thí nghiệm kinh hoàng trên cơ thể con người của Đức quốc xã, “các tù
nhân trong trại tập trung bị ép buộc phải tham gia vào những thí nghiệm ghê
rợn thường gây ra cái chết, biến dạng cơ thể hoặc tàn tật suốt đời” [27] như
thí nghiệm trên các cặp song sinh, thí nghiệm cơ – xương – hệ thần kinh trên
cơ thể của tù binh… Bên cạnh đó, một số quyền khác của con người bị ảnh
hưởng như: quyền tự do đi lại, tự do cư trú, quyền được bảo vệ khỏi bị bắt
giam tùy tiện, nạn đói, cưỡng bức tham gia vào lực lượng vũ trang.
1.2. Khái quát chung về bốn Công ước Geneva
1.2.1. Khái niệm về bốn Công ước Geneva
Nguồn của Luật Nhân đạo quốc tế bao gồm hai dạng: các điều ước và
các tập quán, điều này có nghĩa là bên cạnh các điều ước mà chỉ có hiệu lực

15


ràng buộc các quốc gia thành viên, tất cả các bên tham chiến trong một cuộc
xung đột vũ trang trên thế giới còn phải chịu sự ràng buộc bởi các tập quán.
Các tập quán Nhân đạo quốc tế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các
cuộc xung đột vũ trang hiện nay vì nó có tác dụng lấp khoảng trống còn lại
của điều ước do Nhân đạo quốc tế điều chỉnh. Cả hai dạng trên đều được áp
dụng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, các tập quán với tư cách là những
quy tắc xử sự được lặp đi lặp lại nhiều lần tạo thành thói quen trong ứng xử
khi xung đột vũ trang xảy ra nên không cần phải cưỡng chế mà các bên tự làm
giống như một quy tắc giao ước, nhưng nhược điểm là do đề cao sự tự ý thức,

ước Geneva 1864, 1906, 1929, bốn công ước Geneva năm 1949 và hai nghị
định thư bổ sung năm 1977.
Luật Geneva hiện đang có hiệu lực bao gồm bốn công ước: Công ước
Geneva (I) về bảo vệ những người bị thương và bị bệnh trong lực lượng vũ
trang trên đất liền 1949; Công ước Geneva (II) về bảo vệ những người bị
thương, bị ốm, bị đắm tàu thuộc các lực lượng vũ trang trên biển 1949; Công
ước Geneva (III) về việc đối xử với tù binh 1949; Công ước Geneva (IV) về
bảo hộ thường dân trong thời gian chiến tranh 1949 và hai Nghị định thư bổ
sung năm 1977 bao gồm: Nghị định thư (I) về bảo vệ các nạn nhân trong các
cuộc xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế; Nghị định thư (II) về bảo vệ
các nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế.
Bốn công ước và hai Nghị định thư đã thiết lập các tiêu chuẩn của luật pháp
quốc tế về các quy tắc cư xử nhân đạo trong chiến tranh.
Công ước Geneva đầu tiên năm 1864 được thông qua tại Hội nghị
ngoại giao tổ chức tại Geneva và dưới sự tổ chức, chỉ đạo của Ủy ban quốc tế
giúp đỡ thương binh – tổ chức phi chính phủ quốc tế đầu tiên trên lĩnh vực
này và là tiền thân của Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế hiện nay – bao gồm 10
Điều với sự tham gia từ 16 quốc gia châu Âu. Sau đó, Công ước này tiếp tục
được sửa đổi, bổ sung và phát triển đến năm 1949 bao gồm “600 Điều với sự
tham gia của 196 quốc gia” [52].
17


1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của bốn Công ước Geneva
Năm 1859, một công dân Thụy Sĩ – Hăngri Đuynăng đã tận mắt chứng
kiến hậu quả kinh hoàng, hàng ngàn binh sỹ bị thương nằm bất lực và bị bỏ
rơi mà không có ai chăm sóc trong trận Solferino (miền Bắc nước Ý). Trải
nghiệm đó đã gợi ý cho ông một ý tưởng thành lập tổ chức cứu trợ quốc tế,
những người trong tổ chức này có thể được đào tạo trong thời bình để khi
chiến sự xảy ra có nghĩa vụ chăm sóc những người bị thương, bị ốm.

thuê, tù binh, những người bị thương, bị ốm, bị đắm tàu trên bộ và trên biển,
dân thường bao gồm cả người dân sống trên lãnh thổ xảy ra xung đột hoặc
trong tình trạng bị chiếm đóng, các phóng viên, nhiếp ảnh gia, cán bộ tôn giáo
và y tế… Sau cuộc đàm phán những hậu quả của chiến tranh thế giới lần thứ
hai (1939-1945) thì bốn Công ước Geneva 1949 với 600 điều luật chính thức
được ra đời cụ thể như sau:
Thứ nhất, Công ước Geneva (I) về bảo vệ những người bị thương và
bị bệnh trong lực lượng vũ trang trên đất liền 1949 diễn ra tại hội nghị
Geneva – được thông qua đầu tiên năm 1864 và được sửa đổi, bổ sung qua
các Công ước 1906, 1929 và sau đó là Công ước Geneva 1949. Công ước
Geneva (I) quy định đối tượng được bảo vệ theo Công ước này là những
người bị thương và bị bệnh trong lực lượng vũ trang trên đất liền; những
người bị thương, bị ốm sẽ được bảo vệ trong mọi trường hợp và pháp luật
quy định họ không được từ bỏ quyền của mình; công ước còn quy định một
số cơ quan giữ vai trò cộng tác và kiểm soát các hoạt động của các quốc gia
bảo hộ đối với các bên xung đột; hoạt động cứu trợ của Ủy ban chữ thập đỏ
quốc tế cũng như bất cứ tổ chức nhân đạo phải được tôn trọng và các quốc
gia phải tạo điều kiện thuận lợi có thể để hỗ trợ cũng như giúp đỡ việc thực
hiện nghĩa vụ nhân đạo này; vai trò quan trọng của Phòng thông tin cũng
như Cơ quan thông tin trung ương; các đơn vị và cơ sở y tế, nhân viên y tế
đều không bị tấn công trừ trường hợp sử dụng sai mục đích, cách nhận dạng
biểu tượng phân biệt, cách xử lý vi phạm…

19


Trích đoạn Bảo vệ tù binh Lính đánh thuê Bảo vệ các nhân viên tôn giáo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status