ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ HẬU
N¡NG LùC HµNH VI D¢N Sù CñA C¸ NH¢N
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ HẬU
N¡NG LùC HµNH VI D¢N Sù CñA C¸ NH¢N
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HẢI AN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
1.1.1. Khái niệm năng lực chủ thể.................................................................. 7
1.1.2. Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của
người nước ngoài tại Việt Nam.......................................................... 19
1.1.3. Mối quan hệ giữa năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi
dân sự của cá nhân.............................................................................. 24
1.2.
Khái lược quy định của pháp luật Việt Nam về năng lực
hành vi dân sự của cá nhân ............................................................. 24
1.2.1. Quy định của pháp luật phong kiến về năng lực hành vi dân sự
của cá nhân ......................................................................................... 24
1.2.2. Quy định của pháp luật thời kì Pháp thuộc về năng lực hành vi
dân sự của cá nhân.............................................................................. 27
1.2.3. Quy định của pháp luật từ năm 1954 đến 1995 về năng lực hành
vi dân sự của cá nhân ......................................................................... 29
1.2.4. Quy định của pháp luật từ năm 1995 đến nay về năng lực hành
vi dân sự của cá nhân ......................................................................... 30
1.3.
Ý nghĩa của việc quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân..... 31
1.3.1. Bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham gia quan hệ
dân sự.................................................................................................. 31
1.3.2. Góp phần nâng cao trách nhiệm của các bên khi tham gia kí kết
hợp đồng............................................................................................. 31
1.3.3. Góp phần ngăn ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp luật ............. 32
1.3.4. Cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp khi vụ việc dân sự liên
Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về năng lực hành vi
dân sự của cá nhân ........................................................................... 57
3.1.1. Những bất cập trong quy định pháp luật về năng lực hành vi
dân sự của cá nhân.............................................................................. 57
3.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về năng lực hành vi dân sự của cá
nhân qua một số vụ án........................................................................ 60
3.2.
Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về năng lực hành vi
dân sự của cá nhân ........................................................................... 76
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật dân sự về năng lực
hành vi dân sự cá nhân ....................................................................... 77
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về năng lực hành
vi dân sự của cá nhân ......................................................................... 80
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 83
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS:
Bộ luật dân sự
BLTTDS:
Bộ luật tố tụng dân sự
lớn và đời sống sinh hoạt của mỗi cá nhân rất đa dạng, phức tạp kéo theo sự
phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực giao lưu dân sự. Việc giải quyết những
tranh chấp liên quan đến vấn đề năng lực hành vi dân sự của cá nhân khi tham
gia quan hệ pháp luật dân sự không phải bao giờ cũng thỏa đáng. Bởi vì, cá
nhân muốn là chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự cần phải đạt
đến một trình độ phát triển nhất định về thể lực và trí lực, trong khi đó, không ít
giao dịch dân sự diễn ra trên thực tế mà người tham gia không thỏa mãn
những điều kiện về năng lực chủ thể dẫn đến tranh chấp khi thực hiện. Chẳng
hạn, người tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự hoặc tình trạng lợi dụng người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự để tiến thành giao dịch dân
1
sự... Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản pháp luật có quy định liên quan đến
năng lực hành vi dân sự vẫn còn những mâu thuẫn, chồng chéo dẫn đến khó
khăn cho quá trình áp dụng luật như vẫn chưa có sự thống nhất về thuật ngữ
"trẻ em", "vị thành niên", "người chưa thành niên", hay quy định về các độ
tuổi tham gia quan hệ pháp luật dân sự còn chưa thống nhất giữa Bộ luật dân
sự, Luật Hôn nhân và Gia đình hay Bộ luật lao động… Chính sự thiếu đồng bộ
nêu trên cũng khiến cho các nhà làm luật khó khăn trong việc giải thích và áp
dụng pháp luật, dẫn đến tình trạng thực thi pháp luật kém hiệu quả, quyền lợi
hợp pháp của người dân khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự ít nhiều chưa
được đảm bảo.
Nghiên cứu năng lực chủ thể nói chung và năng lực hành vi dân sự của cá
nhân nói riêng trong quan hệ pháp luật dân sự là việc làm có ý nghĩa quan
trọng về mặt lý luận và thực tiễn nhằm xác định tư cách chủ thể cũng như
trách nhiệm tài sản của cá nhân khi xác lập, thực hiện quan hệ pháp luật dân
sự cụ thể. Do đó, tác giả chọn đề tài "Năng lưc hành vi dân sự của cá nhân
theo pháp luâṭ Viêṭ Nam" là đề tài luận văn thac sỹ
4
pháp lý và thực tiễn áp dụng . Đặc biệt, trong quá trình nghiên cứu luận văn,
những kiến thức tìm hiểu được sẽ phục vụ hiệu quả cho công việc của tác giả
sau này. Để đạt được mục đích này, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài được xác
định trên những khía cạnh sau:
- Làm rõ khái niệm năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
của cá nhân;
- Phân tích nội dung năng lực hành vi dân sự của cá nhân và các quy
điṇ h liên quan theo pháp luật Việt Nam hiện hành;
- Xem xét trách nhiệm, tư cách tố tụng của các chủ thể thông qua quy
định về năng lực hành vi dân sự.
- Thực tiễn áp dụng các quy định trên thực tế thông qua việc phân tích
những vụ án cụ thể , qua đó đề xuất kiến nghị góp hoàn thiêṇ vướng mắc , bất
câp của
c quy điṇ h pháp luâṭ.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là kết quả nghiên cứu khoa học, sự tìm tòi, học hỏi, hướng
dẫn của thầy cô và thực tiễn công tác xét xử về năng lực hành vi dân sự của cá
nhân, những đóng góp của luận văn được thể hiện cụ thể trên những phương
diện sau:
- Khái quát những vấn đề cơ bản về năng lực hành vi dân sự của cá
nhân trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật dân sự nói
riêng, giúp cho mọi người khi nghiên cứu về năng lực hành vi dân sự của cá
nhân có cách nhìn khái quát, toàn diện các vấn đề về năng lực hành vi dân sự của
cá nhân.
- Đánh giá thực tiễn thi hành các quy định về năng lực hành vi dân sự
của cá nhân thong qua một số vụ việc cụ thể.
- Phân tích những bất cập của các quy định pháp luật dân sự hiện hành
1.1. Khái quát chung về năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật
dân sự
1.1.1. Khái niệm năng lực chủ thể
Chủ thể là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc hình thành các quan
hệ pháp luật. Việc xác định chủ thể của một ngành luật và các điều kiện liên
quan đến năng lực chủ thể của ngành luật đó là do đặc thù của quan hệ xã hội
thuộc đối tượng điều chỉnh của một ngành luật. Xuất phát từ tính đa dạng và
phong phú của các quan hệ dân sự phát sinh trong đời sống của xã hội nên
chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng với đặc điểm riêng biệt của
từng loại chủ thể.
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm: cá nhân là công dân
Việt Nam, người nước ngoài và người không quốc tịch; pháp nhân; hộ gia
đình; tổ hợp tác và trong nhiều trường hợp Nhà nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự. Dưới góc độ
khoa học pháp lý, cá nhân, tổ chức đáp ứng được những điều kiện do pháp
luật quy định trong từng loại quan hệ nhất định là chủ thể của quan hệ pháp
luật. Vì vậy, để trở thành chủ thể quan hệ pháp luật thì cá nhân, tổ chức phải
có năng lực chủ thể đầy đủ.
Không phải mọi cá nhân đều có thể tự mình tham gia vào quan hệ pháp
luật dân sự. Khi cá nhân muốn tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự cần
đáp ứng điều kiện quan trọng đầu tiên về năng lực chủ thể. Vậy năng lực chủ thể
là gì? Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: năng lực chủ thể của cá nhân
là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu
7
cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó
đạt hiệu quả cao. Tâm lý học chia năng lực chủ thể của cá nhân thành các
dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn. Còn hiểu theo
điểm cá nhân được sinh ra. Tại BLDS Nhật Bản, quyền năng của một thể
nhân chính có từ khi con người sinh ra và không ai không có quyền năng.
Tương tự, Điều 15 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan cũng quy định:
"Năng lực pháp luật bắt đầu từ khi một đứa trẻ ra đời và kết thúc bằng cái
chết" [38, Điều 15]. Như vậy, theo pháp luật các nước, năng lực pháp luật dân
sự chỉ khả năng hưởng quyền của cá nhân sau khi được sinh ra. Trong khi đó,
BLDS Việt Nam năm 2005 đưa ra một khái niệm cụ thể về năng lực pháp luật
dân sự:"Năng lực pháp luật dân sự cá nhân là khả năng của cá nhân có
quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự" [10, Điều 14]. Quy định này của BLDS
dẫn đến cách hiểu là năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bao gồm khả năng
có cả quyền dân sự và cả nghĩa vụ dân sự, không phù hợp với cách hiểu chung về
năng lực pháp luật dân sự trong pháp luật dân sự của các nước trên thế giới.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được nhà nước ghi nhận trong
các văn bản pháp luật mà nội dung của nó phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã hội
tại mỗi thời điểm lịch sử nhất định. Điều này phụ thuộc vào đường lối, chính
sách của giai cấp thống trị trong xã hội trong từng thời kì lịch sử. C h ẳ n g h ạ n ,
t h e o p h á p l u ậ t n ư ớ c t a t r ư ớ c n ă m 1 9 8 0 , Nh à n ư ớ c c h o p h é p c á n h â n c ó q u yề
n t ư h ữ u v ề đ ấ t đ a i . S a u n ă m 1 9 8 0 v à đ ế n Hi ế n p h á p n ă m 1992 quy định:
"đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu" [44,
Điều 17], cá nhân có quyền chuyển dịch và sử dụng đất đai. Hiện nay, Nhà nước
ta không ngừng tạo ra những nền tảng vững chắc để đảm bảo năng lực pháp luật
của công dân được thực thi trên thực tế.
Các quốc gia có lịch sử phát triển, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khác
nhau thì quy định về năng lực chủ thể cũng khác nhau. Nhà nước của
9
mỗi quốc gia có quy định riêng về các quyền công dân được hưởng. Nếu như
Nhà nước tại Liên bang Mỹ, Cộng hòa liên bang Đức hay Cộng hòa Pháp
không thể tố tụng trước tòa án được. Luật pháp không can thiệp vào
sự thi hành các nghĩa vụ về luân lý cùng tôn giáo [20, Điều 642].
Khoản 1, khoản 3 Điều 14 BLDS năm 2005 quy định:
1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá
nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự….
3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó
sinh ra và chấm dứt khi người đó chết [10, Điều 14].
Như vậy, cá nhân không được phép tự hạn chế năng lực dân sự của
mình và của người khác. Một tuyên bố đơn phương về việc khước từ hay hạn
chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân đều không có hiệu lực pháp lý. Tuy
nhiên, Điều 16 BLDS năm 2005 quy định: "Năng lực pháp luật dân sự của cá
nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định" [10, Điều 16].
Quy định này cho thấy năng lực pháp luật dân sự của cá nhân mang tính chất
"vừa tĩnh vừa động". Điều này có thể hiểu: Năng lực pháp luật luôn luôn và
chỉ do Nhà nước quy định cho cá nhân trong các văn bản pháp luật, thể hiện
dưới dạng các quy định pháp lý, tự cá nhân không thể
thay đổi và cũng không thể bị hạn chế:
Thứ nhất: Nếu nhìn một cách tổng quan, nội dung năng lực pháp luật là
một phạm trù mở và không bị hạn chế về sự vận động và phát triển. Nó có thể được
bổ sung nếu điều kiện thực tế cho phép thay đổi. Nội dung của năng lực pháp luật
là thuộc tính không thể tách rời của pháp luật, chịu sự tác động của điều kiện kinh
tế, chính trị, văn hóa - xã hội.
Thứ hai: Năng lực pháp luật dân sự nếu xét về hình thức và cơ sở tồn
tại thực thế thì không thể nằm ngoài các quy định pháp luật cụ thể. Vì vậy,
năng lực pháp luật dân sự bị quy định bởi khả năng thực tế của quá trình xây
dựng pháp luật. Trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau mà nội dung năng lực
11
của các quốc gia. Tuy nhiên khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật một số
quốc gia còn quy định chính xác thời điểm cá nhân được sinh ra là thời điểm thai
nhi hoàn toàn tách ra khỏi cơ thể người mẹ: "Một đứa trẻ trong bụng mẹ có thể
được hưởng quyền miễn là nó sống, sau khi ra đời" [38, Điều 15]. Bên cạnh quy
định mang tính nguyên tắc chung về thời điểm bắt đầu năng lực pháp luật dân
sự, bộ luật dân sự hiện hành cũng đưa ra các trường hợp ngoại lệ, theo đó,
năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có hiệu lực hồi tố. Theo quy định tại
điều 635 BLDS năm 2005: "Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống
vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
nhưng đã thành thai trước khi người thừa kế để lại di sản
chết" [10, Điều 635] và khoản 1 Điều 685 BLDS năm 2005:
Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã
thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản
bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa
kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng, nếu chết trước khi sinh ra
thì những người thừa kế khác được hưởng [10, Điều 685].
Cả hai điều luật cho thấy cá nhân được xem là đã có năng lực pháp luật
dân sự kể từ thời điểm thành thai nếu được sinh ra và còn sống. Tuy nhiên, bộ
luật dân sự Việt Nam mới chỉ dừng lại ở hai quy định cụ thể nêu trên, chưa có
quy định mang tính nguyên tắc chung trong việc bảo vệ quyền của thai nhi.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chấm dứt khi người đó chết.
Việc xác định thời điểm chết của một người rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến
tư cách pháp lý trong việc phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp
luật dân sự. Chết có thể hiểu là chết về mặt sinh học hoặc chết theo tuyên bố
của Tòa án và theo quy định của pháp luật người đã chết phải được khai tử. Bộ
luật dân sự Việt Nam không đưa ra khái niệm về cái chết. Để xác định thời
điểm chết của một cá nhân rất khó khăn, nhất là trong trường hợp
13
14
Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề khai sinh, khai tử cho một người được
sinh ra hoặc khai tử cho một người chết không được nhất quán, triệt để. Thời
gian tồn tại năng lực pháp luật dân sự của cá nhân từ lúc sinh ra cho đến lúc
chết so với thời gian được pháp luật xác nhận năng lực pháp luật từ thời điểm có
giấy khai sinh đến thời điểm có giấy khai tử không trùng nhau, dẫn đến việc
xác định thời điểm chấm dứt các quan hệ pháp luật trên thực tế rất khó khăn.
Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của
Chính Phủ ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch: "Trong
thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho
con, nếu không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích
khác đi khai sinh cho trẻ em" [15, Điều 14], như vậy khoảng thời gian thực
hiện trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ em có thời hạn là 60 ngày, đây là một
khoảng thời gian tương đối dài và có thể phát sinh rất nhiều sự kiện pháp lý. Nếu
những người có trách nhiệm chưa thực hiện nghĩa vụ đăng ký khai sinh thì rõ
ràng năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chưa được xem là bắt đầu (thời
điểm sinh), đồng nghĩa với quyền và lợi ích của trẻ sơ sinh cũng như những
người có quyền, nghĩa vụ liên quan không được đảm bảo.
1.1.1.2. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Khả năng hưởng quyền của cá nhân là quyền khách quan mà pháp luật
quy định sẵn cho các chủ thể. Để khả năng ấy có thể biến thành hiện thực cần phải
có những điều kiện khách quan cũng như chủ quan nhất định. Điều kiện khách
quan chính là chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, điều
kiện kinh tế - xã hội chính là yếu tố khách quan giúp cho các quyền và nghĩa vụ
mà pháp luật quy định được thực thi. Hiện nay với nền tảng kinh tế và xã hội
ngày càng phát triển sẽ là cơ sở vững chắc để nhà nước đảm bảo năng lực
hành vi dân sự của cá nhân được triển khai trên thực tế.
Năng lực của con người là điều kiện chủ quan để thực hiện quyền và
16
Trong khi đó, BLDS Việt Nam năm 2005 đã đưa ra khái niệm năng lực hành
vi thông qua quy định tại điều 17: "Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là
khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ
dân sự" [10, Điều 17]. Khả năng ở đây có thể hiểu là tố chất của một cá nhân có
thể hưởng quyền và gánh vác được nghĩa vụ khi tham gia các quan hệ pháp luật
trong hạn mức pháp luật cho phép. Mặt khác, khả năng còn được hiểu là năng
lực chịu trách nhiệm dân sự của cá nhân khi cá nhân đó vi phạm nghĩa vụ đối với
chủ thể mang quyền.
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nhiều nước lấy độ tuổi làm tiêu
chí xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Tuy nhiên, đây không phải là
tiêu chí duy nhất để làm điều kiện công nhận năng lực hành vi dân sự của một
cá nhân cho tất cả các loại quan hệ pháp luật. Nếu như độ tuổi cho thấy sự
phát triển về thể chất thì khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân
thể hiện sự phát triển về tinh thần. Cả hai yếu tố trên là cơ sở cần thiết để nhà
nước quy định năng lực hành vi dân sự. Bởi vì quá trình hình thành nhân
cách, khả năng nhận thức phải trải qua thời gian. Chỉ khi cá nhân đạt đến một
độ tuổi nhất định thì cá nhân mới hoàn thiện và đủ khả năng kiểm soát hành vi
của mình, chịu trách nhiệm pháp lý do hành vi mình gây ra.
Không giống như năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người
đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Năng lực hành vi của cá nhân không tự
nhiên có từ khi sinh ra, mà chỉ xuất hiện khi đạt đến độ tuổi nhất định. Thông
thường, để xác định khả năng của cá nhân trong việc xác lập, thực hiện quyền,
nghĩa vụ dân sự ngoài việc căn cứ vào độ tuổi còn phải căn cứ vào khả năng nhận
thức, điều khiển hành vi (tùy thuộc vào bản chất của mỗi quan hệ pháp luật cá
nhân đó tham gia mà đòi hỏi khả năng trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của cá
nhân xuất hiện ở những độ tuổi khác nhau). Chẳng hạn, để có năng lực hành vi