BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CAO CẨM NHUNG
NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. TRẦN THỊ HUỆ
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
ví dụ trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Cao Cẩm Nhung
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. ....................................................................... 28
1.4.1. Pháp luật dân sự Nhật Bản. ............................................................................ 28
1.4.2. Pháp luật dân sự Pháp. ................................................................................... 30
1.4.3. Pháp luật dân sự Đức. .................................................................................... 31
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NĂNG
LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA
CÁ NHÂN. ................................................................................................................ 33
2.2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái
pháp luật của người chưa thành niên gây ra.............................................................. 33
2.2.1. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái
pháp luật của cá nhân dưới 15 tuổi gây ra. .............................................................. 36
2.2.2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái
pháp luật của cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. ............................................. 49
2.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây thiệt hại của người mất năng lực
hành vi dân sự. .......................................................................................................... 51
2.4. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng của cá nhân do tài sản gây ra. .................. 54
2.5. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. ..... 59
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH
NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN VÀ
ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN................................................................................ 62
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam hành về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. .......................................................... 62
3.1.1 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại trong trường hợp người đủ 18
tuổi trở lên gây thiệt hại chưa có tài sản bồi thường. ............................................... 62
3.1.2. Người phải bồi thường chết. ........................................................................... 64
3.1.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người giám hộ .................................... 65
3.1.4. Vấn đề xác định tài sản của con chưa thành niên để xác định trách nhiệm BTTH.
................................................................................................................................... 67
cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm bồi
thường, cách xác định thiệt hại, mức bồi thường, quy định về thời hạn thời hiệu và
các trường hợp BTTH cụ thể... Việc xác định người phải chịu trách nhiệm BTTH là
một nội dung rất quan trọng trong quan hệ bồi thường thiệt hại. Để xác định chủ thể
chịu trách nhiệm bồi thường thì vấn đề đặt ra là phải xác định chủ thể nào có hành
vi gây thiệt hại trên thực tế và chủ thể nào có “ khả năng” chịu trách nhiệm BTTH.
Ngoài ra, xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường còn liên quan đến việc xác
định tư cách tố tụng trước Tòa án.
2
Người gây thiệt hại là người bất kỳ: người đã thành niên, người đầy đủ năng
lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi, người mất năng lực hành vi, người
có năng lực hành vi chưa đầy đủ, người không có năng lực hành vi. Trong BLDS
còn quy định các loại tài sản cũng gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản. Tuy
nhiên, người chịu trách nhiệm bồi thường thì không đồng nhất với các chủ thể kể
trên, đặc biệt hiện nay tài sản gây thiệt hại BLDS mới dự liệu chủ sở hữu, người
chiếm hữu... phải chịu trách nhiệm bồi thường, nhưng một số trường hợp như tài
sản của vợ chồng, tài sản của người chưa thành niên gây thiệt hại thì chưa được xác
định cụ thể.
Như vậy, trong quan hệ BTTH chủ thể gây thiệt hại không phải lúc nào cũng
là chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Sau nhiều năm thực hiện các quy
định của BLDS về trách nhiệm BTTH cho thấy một số Tòa án vẫn đang còn lúng
túng trong việc xác định tư cách chủ thể trong vụ án BTTH ngoài hợp đồng, một số
Tòa án còn xác định sai chủ thể có trách nhiệm BTTH. Một mặt là do quy định của
pháp luật còn chưa cụ thể, mặt khác thực tế việc gây thiệt hại là hết sức đa dạng,
trong khi nhận thức và nghiệp vụ xác định của một số cán bộ tòa án vẫn còn những
hạn chế... Xuất phát từ lý do trên, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ quy định của
BLDS về năng lực chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng của cá nhân là vấn đề
trong một số trường hợp. Tuy nhiên các đề tài trên mới chỉ dừng lại ở mức khái quát
chung về năng lực chịu trách nhiệm BTTH hoặc đã có những phân tích cụ thể hơn
nhưng ở vào thời điểm BLDS 1995 đang có hiệu lực thi hành hoặc mới chỉ phân
tích một, một số trường hợp cụ thể trong năng lực chịu trách nhiệm BTTH, mà chưa
đề cập đến một cách toàn diện, hệ thống các mức độ năng lực chịu trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng của cá nhân.
3. Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu.
Thứ nhất, luận văn nghiên cứu lý luận về trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng, về năng lực chủ thể từ đó làm rõ các điều kiện về năng lực chịu trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng của cá nhân.
Thứ hai, luận văn nghiên cứu pháp luật thực định về năng lực chịu trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại của cá nhân
4
theo quy định của BLDS 2005. Đối với năng lực chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng của các chủ thể khác không thuộc phạm vi của luận văn.
Mục đích nghiên cứu.
Những nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về năng lực chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng của cá nhân thông qua
việc nghiên cứu lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật.
Từ những nghiên cứu về năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân, luận
văn đưa ra một số kiến nghị nhằm tháo gỡ một số khó khăn trong quá trình áp dụng
BLDS và văn bản liên quan về xác định năng lực chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng của cá nhân.
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu làm sáng tỏ năng lực chủ thể từ đó làm cơ sở cho việc nghiên
cứu sâu hơn về mặt lý luận năng lực chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng của cá
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về năng lực chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân và một số định hướng hoàn thiện.
6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC
CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN.
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng.
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
1.1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiêt hại
Khái niệm thiệt hại: Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Đại từ điển tiếng Việt,
thiệt hại được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của” [34; tr.1571].
Dưới góc độ khoa học pháp lý, theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của
Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt hại là “tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh
dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ” [35; tr.118]. Dưới
góc độ luật thực định, từ cách tiếp cận khái niệm “trách nhiệm bồi thường thiệt hại”
trong quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo Điều 310
BLDS 1995 thì “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường
thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần”. Tiếp theo đó
Điều 305 BLDS 2005 khẳng định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về
tinh thần”. Như vậy, về mặt khoa học và luật thực định thì quan niệm phổ biến hiện
nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm
danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì
phải bồi thường”. Theo quy định của điều luật này khi một người gây thiệt hại cho
người khác thì phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hay nói cách khác giữa
các chủ thể này phát sinh một quan hệ pháp luật, trong đó người bị thiệt hại có
quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường còn bên gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi
thường những thiệt hại đã gây ra. Quan hệ pháp luật đó gọi là nghĩa vụ phát sinh do
gây thiệt hại hay còn gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng [12;
tr.23]. Như vậy có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là
8
trách nhiệm pháp lý bao gồm trách nhiệm BTTH về vật chất và trách nhiệm BTTH
về tinh thần phát sinh khi người nào có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp
khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân và các chủ thể
khác mà gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm BTTH cho bên bị thiệt hại theo quy
định của pháp luật.
Bộ luật không đưa ra khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ quy định khi thiệt
hại xảy ra, người có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
về vật chất và bồi thường thiệt hại thiệt hại về tinh thần. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế tính được thành
tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn,
hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút. Trách nhiệm
BTTH về tinh thần là khi một người có hành vi gây thiệt hại về tinh thần cho người
khácdo xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người
đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính công khai còn phải bồi
thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại [3; Điều
307].
hộ, của pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, của trường học,
bệnh viện hoặc các tổ chức khác đối với người dưới 15 tuổi, người mất năng lực
hành vi trong trường hợp trường học bệnh viện, các tổ chức khác quản lý...
1.1.3. Ý nghĩa quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng.
Trong đời sống hàng ngày thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự,
uy tín, nhân phẩm của cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của tổ chức do hành vi trái
pháp luật của cá nhân diễn ra khá nhiều. Do vậy việc pháp luật quy định trách
nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói riêng là vô cùng
cần thiết. Không chỉ có pháp luật Việt Nam mà pháp luật hầu hết các nước trên thế
giới đều có chế định này. Khi có một hành vi xâm phạm tài sản, quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì tùy theo quan hệ bị xâm hại được pháp luật bảo
vệ hành vi của người gây thiệt hại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc dân sự.
10
Tuy nhiên, điều có ý nghĩa thiết thực hơn đối với người có tài sản hoặc quyền nhân
thân bị xâm phạm là phải làm thế nào để khắc phục được những hậu quả do hành vi
trái pháp luật ấy gây nên. Do vậy chỉ bằng những biện pháp hình sự để trừng phạt
người có hành vi trái pháp luật là chưa đủ. Trong nhiều trường hợp phải sử dụng
các biện pháp dân sự, đó là những biện pháp được áp dụng một cách độc lập không
phụ thuộc vào việc người gây thiệt hại có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không.
Để khắc phục những hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra, pháp luật nước ta quy
định các biện pháp trong cả Bộ luật hình sự và Bộ luật dân sự trong đó có biện pháp
buộc BTTH. Như vậy, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có các ý nghĩa cơ bản
sau đây:
Thứ nhất, Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng góp phần bảo vệ tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín
của tổ chức. Nếu hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản thì phải khôi phục lại
BTTH, năng lực chịu trách nhiệm BTTH, căn cứ để xác định thiệt hại, thời hiệu
khởi kiện yêu cầu BTTH, BTTH trong những trường hợp cụ thể....đây là cơ sở pháp
lý vững chắc để cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết các vấn đề tranh chấp liên quan
đến trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Xác định đúng chủ thể có trách nhiệm
BTTH, giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác bảo đảm nguyên tắc thiệt
hại gây ra phải được bồi thường “toàn bộ” và “kịp thời” cho người bị hại.
1.2. Khái quát chung về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng của cá nhân.
1.2.1. Cá nhân và năng lực chủ thể của cá nhân theo pháp luật dân sự
Việt Nam
Cá nhân là từ dùng để chỉ một con người cụ thể trong xã hội. Cá nhân, pháp
nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác là những chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.Trong
các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân mà pháp luật điều chỉnh thì cá nhân là chủ
thể nguyên sinh, đầu tiên và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự
cũng thông qua hành vi của cá nhân. Để tham gia vào quan hệ pháp luật nói chung
12
và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng thì cá nhân phải có năng lực chủ thể. Năng
lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân:
Điều 14 BLDS 2005 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là
khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”. Theo quy định này,
năng lực pháp luật của cá nhân là phạm vi các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã
quy định. Năng lực pháp luật có từ khi cá nhân đó sinh ra và chấm dứt khi người đó
chết và không bị hạn chế bởi bất kỳ lý do nào( độ tuổi, địa vị xã hội, giới tính, tôn
giáo,...). Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật theo khoản 2 Điều 14
BLDS 2005 “ Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau”. Nghĩa là
có khả năng hưởng quyền và gánh chịu nghĩa vụ như nhau. Pháp luật ghi nhận cá
Người có năng lực hành vi dân sự một phần:
Theo quy định tại Điều 20 BLDS 2005 người có năng lực hành vi dân sự một
phần là người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi. Khi họ xác lập, thực hiện các giao dịch
dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Ngoại trừ một số giao dịch
phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Tuy nhiên, đối với
người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu họ có tài sản riêng đủ để thực hiện nghĩa
vụ dân sự thì họ được quyền xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự và chịu trách
nhiệm trong phạm vi tài sản họ có.
Như vậy những người có năng lực hành vi dân sự một phần chỉ có thể xác
lập thực hiện quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do
pháp luật quy định.
Người không có năng lực hành vi dân sự:
Theo quy định tại Điều 21 BLDS 2005 những người chưa đủ 6 tuổi không có
năng lực hành vi dân sự và mọi giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi phải do
người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
Người mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự:
Mất năng lực hành vi dân sự là việc một người đã có năng lực hành vi dân sự
nhưng do họ bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác dẫn đến không thể nhận
thức, làm chủ được hành vi của mình và theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích
14
liên quan Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự trên
cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Như vậy, một người tuy mắc bệnh tâm thần
hoặc các bệnh khác dẫn đến không nhận thức làm chủ được hành vi của mình cũng
chỉ được coi là mất năng lực hành vi dân sự khi có quyết định có hiệu lực của Tòa
án. Đối với trường hợp này, giao dịch dân sự cũng như các nghĩa vụ vụ dân sự của
họ đều do người đại diện theo pháp luật thực hiện.
Hạn chế năng lực hành vi dân sự là trường hợp người nghiện ma túy, các
đại từ điển Tiếng Việt năng lực là khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc hay
những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì [34;1172]. Dưới góc độ thuật
ngữ pháp lý, từ điển luật học của Nxb từ điển Bách Khoa Hà Nội (1999) định nghĩa
năng lực thành năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự: Năng lực
pháp luật của cá nhân là khả năng có các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự, năng
lực pháp luật dân sự bao gồm quyền nhân thân không gắn với tài sản, quyền nhân
thân gắn liền với tài sản, các quyền tài sản, quyền tham gia quan hệ dân sự và có
nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó. Cá nhân có năng lực pháp luật từ khi họ sinh ra
cho đến khi chết [39; tr.315]. Năng lực hành vi dân sự được pháp luật quy định căn
cứ vào: độ tuổi, tức là đến một độ tuổi nào đốcn người mới có đủ nhận thức để
quyết định về hành vi của mình. Do đó bộ luật dân sự quy định người người thành
niên(đủ 18 tuổi) là người có đủ năng lực hành vi dân sự trừ trường hợp bị mất năng
lực hành vi. Nếu là người chưa thành niên thì tùy theo độ tuổi mà họ là người
không có năng lực hành vi hoặc chỉ có năng lực hành vi một phần...[39; tr.315].
Khái niệm trách nhiệm: Theo đại từ điển tiếng Việt định nghĩa trách nhiệm
là “trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc nhận lấy về mình” [34;
tr.1678]. Về mặt pháp lý tuy không có khái niệm về trách nhiệm nhưng thông qua
khái niệm trách nhiệm dân sự theo từ điển luật học của nxb từ điển Bách Khoa, Hà
Nội năm 1999: “trách nhiệm pháp luật dân sự là trách nhiệm của một người phải
khắc phục những thiệt hại mà mình gây ra cho người khác, do một sự kiện mà
người đó có trách nhiệm”[39; tr.529]. Có thể hiểu trách nhiệm như là điều mà một
16
cá nhân phải làm phải làm, phải gánh vác hoặc nhận lấy về mình. Khi có những hậu
quả bất lợi xảy ra thì cá nhân đó phải gánh chịu những hậu quả đó.
Hiện nay, BLDS cũng như các văn bản pháp luật khác chưa đưa ra khái niệm
như thế nào là năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá
nhân mà chỉ quy định cụ thể các mức độ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
- Năng lực hành vi (độ tuổi, khả năng nhận thức),
- Tình trạng tài sản,
- Mối quan hệ pháp lý giữa người gây thiệt hại và người chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại.
Điều kiện về độ tuổi
Căn cứ này xuất phát từ yêu cầu về năng lực chủ thể của cá nhân khi tham
gia bất kì một quan hệ pháp luật nào. Pháp luật dân sự và tố tụng dân sự quy định để
trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự thì cá nhân phải có đầy đủ năng lực
chủ thể( bao gồm cả năng lực pháp luật và năng lực hành vi). Năng lực pháp luật
của cá nhân có từ khi cá nhân được sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Năng lực
hành vi lại được chia thành các mức khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi của cá nhân
như đã phân tích ở mục 1.2.2. Đối với cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên không bị mất
năng lực hành vi dân sự có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì trách nhiệm
BTTH thuộc về họ. Đối với cá nhân là người chưa thành niên dưới 15 tuổi( bao
gồm người chưa có năng lực hành vi dân sự và người có năng lực hành vi dân sự
một phần) có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì cha mẹ, người giám hộ chịu
trách nhiệm BTTH( trừ trường hợp người giám hộ chứng minh được mình không có
lỗi trong việc quản lý người được giám hộ). Đối với cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa
đủ 18 tuổi (người có năng lực hành vi dân sự một phần) có hành vi trái pháp luật
gây thiệt hại thì trước hết họ phải chịu trách nhiệm BTTH, nếu tài sản của họ không
có hoặc không đủ để bồi thường mới đặt ra trách nhiệm của cha mẹ hoặc người
giám hộ. Việc căn cứ vào độ tuổi để quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng là hợp lý, chỉ khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định cùng với
một trình độ nhận thức nhất định thì mới có khả năng gánh chịu trách nhiệm dân sự
nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng.
18
Khả năng nhận thức của cá nhân
không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình và bị Tòa án tuyên bố bằng
quyết định có hiệu lực thì họ bị coi là người mất năng lực hành vi và họ không thể
trở thành chủ thể có thể đứng ra gánh vác trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng dù thiệt hại đó là do họ gây ra. Trường hợp người không có năng lực hành
vi dân sự cũng tương tự như vậy. Năng lực chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
của cá nhân căn cứ vào yếu tố này bởi một người nếu không thể nhận thức được
những việc mình đang làm thì không đặt ra trách nhiệm đối với họ, và trên thực tế
họ cũng không thể chịu trách nhiệm do chính hành vi của mình.
Theo PGS.TS Phùng Trung Tập xác định năng chịu trách nhiệm bồi thường
của cá nhân phải dựa trên tiêu chí khả năng nhận thức của cá nhân là cơ bản là hạt
nhân... căn cứ vào khả năng nhận thức của cá nhân gây thiệt hại để xác định năng
lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân là một căn cứ khoa học và
biện chứng phù hợp với bản chất của pháp luật quy định về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng [36; tr.96].
Tình trạng tài sản.
Có quan điểm cho rằng năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng của cá nhân dựa trên khả năng tạo dựng tài sản của cá nhân là chưa hợp lý
bởi bất kỳ cá nhân nào khi gây ra thiệt hại cho người khác đều phải có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại đã xảy ra mà không phụ thuộc vào việc cá nhân đó có tài sản
hay không. Quan điểm trên cũng có lý nếu xét trong trường hợp trách nhiệm bồi
thường sẽ do chính cá nhân đã gây thiệt hại gánh chịu. Tuy nhiên, trong trường hợp
thiệt hại do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thì họ
không phải gánh chịu hoặc không phải gánh chịu toàn bộ thiệt hại mà do cha mẹ
hoặc người giám hộ (trong trường hợp không chứng minh được mình không có lỗi)
gánh chịu. Vì vậy, pháp luật căn cứ vào tình trạng tài sản của cá nhân để quy định
năng lực chịu trách nhiệm BTTH. Xét về mặt câu chữ tại Điều 606 quy định trách
nhiệm BTTH của người chưa thành niên dưới 15 tuổi thuộc về cha mẹ, nếu tài sản
của cha mẹ không đủ để bồi thường mà người con chưa thành niên gây thiệt hại có
chính hành vi trái pháp luật của mình gây ra, cá nhân nào không phải chịu trách