BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ BÍCH HẠNH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮ NG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 5 TP.HCM
ĐẾN NĂM 2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
LÊ THỊ BÍCH HẠNH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮ NG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 5 TP.HCM
ĐẾN NĂM 2025
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số
: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. NGUYỄN MINH TUẤN
1.1.1. Nghèo ..........................................................................................................12
1.1.2. Nghèo đơn chiều...........................................................................................13
1.1.3. Nghèo đa chiều.............................................................................................13
1.1.4. Giảm nghèo bền vững .................................................................................13
1.2 Phương pháp xác định chuẩn nghèo..................................................................13
1.3. Phương pháp đo lường.......................................................................................14
1.3.1. Sự cần thiết chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ
đơn chiều sang đa chiều..........................................................................................14
1.3.2 Xu hướng chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo tại
Việt Nam.................................................................................................................16
1.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về
giảm nghèo ..........................................................................................................19
1.5. Kinh nghiệm của Quận 6 TP.HCM trong thực hiện hiệu quả
chương trình giảm nghèo....................................................................................24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1............................................................................................28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN 5 TP. HCM GIAI ĐOẠN 1992 – 2015.......................................29
2.1. Tổng quan về Quận 5 và tình hình xoá đói, giảm nghèo
trên địa bàn Quận................................................................................................29
2.1.1. Tổng quan về Quận 5....................................................................................29
2.1.2. Tổng quan tình hình xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn Quận.......................29
2.2. Thực trạng thực hiện chương trình giảm nghèo
trên địa bàn Quận 5 TP. HCM............................................................................31
2.2.1. Công tác triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo............................31
2.2.2. Thực trạng huy động nguồn lực và các giải pháp hỗ trợ cho hộ nghèo,
hộ cận nghèo...........................................................................................................32
2.2.3. Công tác giảm nghèo trên địa bàn Quận.......................................................39
2.2.4. Hoạt động giảm nghèo của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn
những chính sách và giải pháp nên trên………………....……..……………....60
3.5. Một số kiến nghị đối với Quận 5 .......................................................................68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3..............................................................................................70
KẾT LUẬN...................................................................................................................71
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CP: Chính phủ
CTr: Chương trình
ESCAP: Uỷ ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
GDP: Tổng thu nhập quốc nội
HĐND: Hội đồng nhân dân
MTV: Một thành viên
NĐ: Nghị định
QH: Quốc hội
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TP. HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TTg: Thủ tướng
TW: Trung ương
UBND: Uỷ ban nhân dân
UN: Tổ chức Liên hiệp quốc
UNDP: Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
WB: Ngân hàng Thế giới
XĐGN: Xoá đói, giảm nghèo
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Danh mục chiều nghèo và chỉ số đo lường nghèo và
ngưỡng nghèo thiếu hụt đa chiều cấp quốc gia .................................................17
Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch nguy hiểm; Đảm bảo bền vững môi
trường; Thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển. Trong 8 Mục
tiêu trên, Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn 3 mục tiêu, trong đó đặc biệt là
mục tiêu Xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói [26], đạt được những thành
tựu mới có ý nghĩa đột phá, hướng tới Mục tiêu phát triển bền vững – Vì một thế giới
không ai bị bỏ lại phía sau.
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên của Việt Nam khởi xướng
"Chương trình Xóa đói giảm nghèo" (nay là «Chương trình Giảm nghèo, tăng hộ
khá») từ đầu năm 1992 đến nay. Thành tựu của chương trình giảm nghèo, tăng hộ
khá của thành phố trong 24 năm qua rất quan trọng và có ý nghĩa trên nhiều mặt, góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, trực tiếp là người nghèo, hộ nghèo, hộ
cận nghèo theo từng giai đoạn của chương trình, góp phần phát triển kinh tế, giữ
vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, trong đó có sự nỗ lực của các Sở ngành,
quận huyện, đi đầu là Quận 5. Tính đến nay, Quận 5 đã hoàn thành mục tiêu không
còn hộ cận nghèo có mức thu nhập từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống theo chuẩn
thành phố giai đoạn 2014 - 2015, trước thời hạn 1 năm.
2
Tuy nhiên, kết quả chương trình giảm nghèo mang lại mới chỉ là bước đầu,
chưa thực sự bền vững do tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo và thực tiễn cho thấy cách xác
định chuẩn hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập đã không đo lường được thiếu hụt về
nhiều khía cạnh quan trọng trong đời sống con người như: giáo dục, y tế, nước sạch,
vệ sinh môi trường... Vì thế, «Chương trình giảm nghèo» của thành phố nói chung và
Quận 5 nói riêng chưa thật sự bền vững, đòi hỏi cần có phương pháp tiệm cận đo
lường chuẩn nghèo khoa học hơn, từ đó có thể nghiên cứu hoạch định các chính sách,
giải pháp cho giai đoạn mới 2016-2025 một cách toàn diện và bền vững.
«Chương trình xóa đói giảm nghèo», nay đươ ̣c đổ i tên là «Chương trình Giảm
nghèo, tăng hộ khá». Chương trình này đã triể n khai thực hiê ̣n đươ ̣c 24 năm và đã
hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn quận 5 TP. HCM đế n năm
2025”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát:
Phân tích một cách khoa học cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định mức chuẩn
hộ nghèo và hộ cận nghèo trên địa bàn Quận 5 TP. HCM giai đoạn 1992 – 2015.
Đề xuất những chính sách và giải pháp nhằm giảm nghèo tăng hộ khá, thực
hiện có hiệu quả “Chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá” với các chính sách, giải
pháp khuyế n khích hỗ trợ để người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn Quận
5 TP. HCM có điều kiện và cơ hội tiếp tục nâng dần thu nhập, đảm bảo tiếp cận được
các dịch vụ xã hội cơ bản, vượt qua ngưỡng nghèo mới, giảm nghèo bền vững.
Mục tiêu cụ thể:
-Nghiên cứu cơ sở lý luận về nghèo và nghèo đa chiều.
-Đánh giá thực trạng nghèo và chuẩn nghèo cũng như kết quả thực hiện
chương trình giảm nghèo Quận 5 qua các giai đoạn, đă ̣c biê ̣t là giai đoạn 2009 2015; xác định những vấn đề đạt ra và thách thức đối với các hoạt động giảm nghèo
bền vững của quận 5 trong giai đoạn 2016 - 2025.
-Đề xuất các giải pháp giảm nghèo bề n vững trên điạ bàn quận 5 giai đoạn
2016 – 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
Hộ nghèo và hộ cận nghèo có mã số do Ban Giảm nghèo – tăng hộ khá của
Quận 5 và 15 Phường thuộc Quận 5 hiện đang quản lý.
4
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: trên địa bàn Quận 5, TP.HCM.
Phạm vi về thời gian: nghiên cứu kết quả thực hiện Chương trình Giảm nghèo,
tăng hộ khá của Quận 5 trong từng giai đoa ̣n, tâ ̣p trung giai đoạn 2009 - 2015 và
hành đô ̣ng cho phù hơ ̣p [24]. Có thể nói, Amartya Sen là người có công mở ra trào lưu
xem xét vấ n đề bấ t biǹ h đẳ ng xã hô ̣i và tăng trưởng kinh tế từ góc đô ̣ xã hô ̣i ho ̣c kinh
tế liên ngành ở cuố i thế kỷ XX. Bởi vì ông đã nhấ n ma ̣nh tới quyề n của con người,
tới vai trò của viê ̣c mở rô ̣ng quyề n và nâng cao năng lực thực hiê ̣n các quyề n tự do
5
kinh doanh, ho ̣c tâ ̣p, chăm sóc sức khỏe và tham gia vào các quá trin
̀ h chin
́ h tri ̣ – xã
hô ̣i trong xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế và phát triể n xã hô ̣i.
Một số nhà kinh tế học nổi tiếng khác như Joseph Eugene Stiglitz, đã phát
triển hướng tiếp cận khi đưa ra thuyết phát triển toàn diện trong đó nhấn mạnh vai trò
của thông tin và sự tham gia của người dân trong các quá trình của xã hội. Không chỉ
người nghèo mà tất cả các tầng lớp xã hội đều cần được tham gia vào các quá trình
quản lý xã hội để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội. Tương tự như việc phát
triển năng lực con người là mục tiêu của sự phát triển bản thân, sự tham gia xã hội
cũng trở thành mục tiêu của sự phát triển xã hội. Tính cơ động và sự di động xã hội
sẽ tăng lên và các cơ hội phát triển sẽ mở ra nhiều hơn với sự tham gia chủ động và
tích cực của các cá nhân, gia đình, tổ chức, tầng lớp, giai tầng xã hội
[9],.
Do đó, việc
tôn trọng quyền con người trong quá trình phát triển xã hội và nhất là việc nâng cao
năng lực thực hiện các quyền đã được pháp luật qui định, việc thực hiện dân chủ hoá,
việc mở rộng các cơ hội tham gia vào quá trình xã hội là những yếu tố mới góp phần
xoá đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống của các giai tầng xã hội.
-Báo cáo “Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồ ng tại Thành phố Hồ
Chí Minh” Năm 2004 của Ngân hàng Thế giới cho thấ y thực tế chỉ xét người nghèo
trên khía ca ̣nh thu nhâ ̣p mà chưa nhìn về nhiề u khía ca ̣nh nên số lươ ̣ng hô ̣ nghèo ít
hơn so với thực tế . Đồ ng thời, Báo cáo đề câ ̣p đế n các nô ̣i dung như nhâ ̣n thức về
nghèo, đô ̣ng thái nghèo, viê ̣c làm, những rủi ro và tính dễ tổ n thương; tham gia và
tăng cường năng lực trong viê ̣c đưa ra các quyế t đinh
̣ ta ̣i điạ phương, vấ n đề cải cách
hành chiń h công và các vấ n đề đô thi ̣khác.
-Đề tài “Giảm nghèo ở Viê ̣t Nam: thành tựu và thách thức” năm 2006 của
Viê ̣n nghiên cứu xã hô ̣i Viê ̣t Nam cho thấ y nghèo thể hiê ̣n qua sự thiế u hu ̣t về thu
nhâ ̣p và viê ̣c khó tiế p câ ̣n với hê ̣ thố ng an sinh xã hô ̣i chính thức, cũng như sự thiế u
hu ̣t trong tiế p câ ̣n với chấ t lươ ̣ng và dich
̣ vu ̣ nhà ở.
-Công trình nghiên cứu“Cuộc chiế n chố ng nghèo đói – thực trạng và giải
pháp” (tác giả Nguyễn Hải Dũng Nxb Khoa ho ̣c Xã hô ̣i, năm 2009), cho rằ ng Nhà
nước cầ n nâng mức đầ u tư công vào viê ̣c đa da ̣ng hóa các hin
̀ h thức khám chữa bê ̣nh
cho người nghèo, khuyế n khích các tổ chức, cá nhân trong nước và quố c tế khám
chữa bê ̣nh nhân đa ̣o, miễn phí và mua bảo hiể m y tế cho người nghèo, đă ̣c biê ̣t là phu ̣
nữ và trẻ em.
-Dự án “Hỗ trợ đánh giá sâu về tình trạng nghèo đô thị ở Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 – 2011» do UNDP tài trợ, đề cập đến các khái
niệm nghèo kinh tế và nghèo đa chiều, trong đó các thiếu hụt mà hộ gia đình và các
cá nhân có thể phải chịu như giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, an ninh... Kết quả nghiên
cứu cho thấy Thành phố Hồ Chí Minh có tỉ lệ nghèo cao hơn so với Hà Nội đối với
tất cả các chiều thiếu hụt khía cạnh xã hội. Ngoài ra, thu nhập hoàn toàn không phải
là yếu tố quan trọng phản ánh tình trạng nghèo đói đa chiều ở Thành phố Hồ Chí
7
“Nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa
bàn Quận 5 TP. HCM” đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại
trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật,
8
hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới. Khi
phân tích chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5, không thể nghiên
cứu một cách đơn lẻ mà phải đặt trong tổng thể chính sách giảm nghèo bền vững của
TP.HCM. Những kết quả của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững của
Quận 5 như việc làm, thất nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nghèo, thực hiện
chính sách an sinh xã hội… có mối quan hệ tác động biện chứng qua lại lẫn nhau.
Nguyên lý của sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự
vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận
động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật). Luận văn nghiên cứu về nâng cao
hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5 TP. HCM, không phải
trong trạng thái đứng im mà nghiên cứu trong trạng thái luôn vận động và phát triển.
Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng của chính sách giảm nghèo trên địa bàn
Quận 5 trong thời gian qua, từ đó đề xuất những chính sách và giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận trong thời gian tới,
góp phần thực hiện có hiệu quả công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn TP. HCM.
Theo quan điểm Mác - xít thì, lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy của loài
người cũng bắt đầu từ đó, nhưng lịch sử thường xuất hiện những bước nhảy quanh co
khúc khuỷu, vì vậy cần phải vận dụng phương pháp logic kết hợp với lịch sử trong
nghiên cứu chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận 5, thấy được logic và
bản chất bên trong, đồng thời đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể để có những nhận định
đánh giá chính xác về chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quận.
5.2.
nghèo bền vững trên địa bàn Quận trong thời gian tới.
5.4.
Phương pháp nghiên cứu thống kê, mô tả
Được tác giả sử dụng để thu thập thông tin, các công trình nghiên cứu liên
quan đến luận văn, thu thập số liệu thứ cấp đáng tin cậy từ Cục Thống kê TP. HCM,
UBND Quận 5, các ban ngành trên địa bàn Quận, đặc biệt là từ Phòng Lao động Thương binh xã hội Quận…và các bộ phận liên quan, từ đó tác giả lựa chọn những
thông tin và tài liệu phù hợp làm cơ sở cho việc nghiên cứu luận văn.
5.5.
Phương pháp thu thập dữ liệu:
Thu thập dữ liệu thứ cấp:
+ Thu thập kết quả dữ liệu theo dõi tình hình nghèo qua các năm của Ban chỉ
đạo chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá Quận 5 (thông qua báo cáo của cơ quan
Thường trực Chương trình Giảm nghèo – tăng hộ khá: Phòng Lao động – Thương
binh xã hội Quận 5).
+ Thu thập các dữ liệu thứ cấp từ các nghiên cứu trước, số liệu liên quan từ
các sở ngành, quận huyện.
10
Thu thập dữ liệu sơ cấp:
+ Khảo sát mức sống hộ gia đình giai đoa ̣n 2014 – 2015, đă ̣c biê ̣t là năm 2016,
đồng thời đánh giá mức sống, điều kiện sống và những vấn đề liên quan đến các
nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo.
+ Có thể sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn sâu đối với các lãnh đạo quận,
phường am hiểu về chương trình giảm nghèo và khảo sát trực tiếp các hộ nghèo, hộ
+ Kết quả của chương trình? Những vấn đề tâm đắc?
+ Giải pháp thực hiện chương trình những năm tiếp theo?
5.7.
Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu:
Để thực hiện nội dung đánh giá tác động trực tiếp và hiệu quả của chương
trình giảm nghèo; nghiên cứu đặc điểm của các nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo, xác
định các nhân tố tích cực tác động đến giảm nghèo, nâng cao đời sống của các hộ gia
đình; đánh giá việc tiếp cận, thụ hưởng chính sách giảm nghèo của các hộ nghèo, hộ
cận nghèo; đề xuất các giải pháp giảm nghèo phù hợp
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghèo và giảm nghèo bền vững
Chương 2: Thực trạng công tác giảm nghèo trên địa bàn Quận 5 TP. HCM
giai đoạn 1992 - 2015
Chương 3: Mục tiêu và giải pháp thực hiện công tác giảm nghèo trên địa
bàn Quận 5 TP. HCM đến năm 2025.
12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Nghèo
Hiện nay có nhều quan niệm về nghèo đói đang được các quốc gia thừa nhận.
Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đạt giải Nobel Kinh tế) để tồn
tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu, dưới mức tối
thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn.
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á –
phương pháp đơn chiều.
1.1.3 Nghèo đa chiều
Khái niệm nghèo đa chiều là một cách tiếp cận nghèo mới đang được nghiên
cứu, xây dựng và áp dụng tại hơn 30 nước trên thế giới, theo đó thước đo đa chiều
xem xét mức sống của dân cư một cách đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Nó đo lường mức
sống cả mặt kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống theo các chiều khác nhau như: giáo dục,
y tế, an sinh xã hội, nhà ở, dịch vụ cơ bản, tình trạng dễ bị tổn thương, rủi ro [25]...
1.1.4. Giảm nghèo bền vững:
Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết
là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ,
toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông
thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.
1.2 Phương pháp xác định chuẩn nghèo
Việc đo lường mức độ nghèo là một yếu tố quan trọng cho biết tình trạng
nghèo ở cấp quốc gia và địa phương, từ đó giúp xác định các mục tiêu cụ thể và xây
dựng chính sách giảm nghèo. Cách phổ biến nhất để thiết lập chuẩn nghèo là tiếp cận
“Chi phí cho các nhu cầu cơ bản” được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, bao
gồm xác định trước tiên một rổ hàng lương thực, thực phẩm và phí lương thực, thực
phẩm thích hợp để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cơ bản của một hộ và sau đó tính chi
phí/ trị giá của rổ hàng này.
Về mặt khái niệm, chuẩn nghèo “Chi phí cho các nhu cầu cơ bản” đo lường
thu nhập tối thiểu cần thiết để các hộ mua rổ lương thực thực phẩm và các hàng hoá
14
khác phục vụ nhu cầu thiết yếu, để các thành viên trong hộ có đủ lương thực, thực
phẩm để duy trì sức khoẻ và sản xuất để tham gia đầy đủ vào xã hội.
Trong thực tế, chuẩn nghèo được xây dựng trước hết dựa vào một rổ lương
Trên cơ sở đánh giá, rút kinh nghiệm từ kết quả thực tiễn giảm nghèo của các
quốc gia và cụ thể là «Chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá» của Thành phố dựa
vào tiêu chí thu nhập bình quân đầu người để xác định chuẩn nghèo, cận nghèo đã
cho thấy cách tiếp cận nghèo thu nhập ngày càng bất cập, bộc lộ những mặt yếu và
không phù hợp nên kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo
cao. Những mặt yếu và bất cập đó là:
Thứ nhất, mức chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập được xác định theo từng
giai đoạn (có giai đoạn kéo dài 5 – 7 năm) nên không ổn định (do tác động bởi yếu tố
trượt giá hàng năm) và phải thường xuyên điều chỉnh nâng lên cho phù hợp với tình
hình phát triển kinh tế - xã hội, làm cho số lượng, danh sách, tỷ lệ hộ nghèo phải luôn
cập nhật, thay đổi; số hộ nghèo giai đoạn trước vừa thoát chuẩn nghèo, giai đoạn mới
điều chỉnh nâng mức chuẩn nghèo mới thì lại là hộ nghèo.
Thứ hai, mức chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập quy ra bằng tiền, nhưng có
một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy đổi ra tiền (như tham gia xã hội,
an ninh, vị thế xã hội...) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị
trường, môi trường, một số dịch vụ y tế, giáo dục công...).
Thứ ba, những hộ nghèo, hộ cận nghèo vừa thoát khỏi chuẩn nghèo theo thu
nhập thì đưa ra khỏi danh sách đối tượng nghèo tại địa phương và không được giải
quyết tiếp các chính sách hỗ trợ của chương trình, nên họ dễ gặp khó khăn, dễ tái
nghèo và không giảm nghèo bền vững.
Thứ tư, mặc dù các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đã và đang tác động được
nhiều mặt đời sống của người nghèo (các nhóm chính sách về tín dụng ưu đãi, đào
tạo nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo
dục, nhà ở, trợ giúp pháp lý, thông tin...), nhưng cách tiếp cận xác định hộ nghèo theo
phương pháp đo lường bằng thu nhập như hiện tại đã dẫn đến tình trạng bỏ sót đối
tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng nghèo chưa chính xác; ranh giới
chuẩn nghèo giữa hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ dân không thuộc đối tượng nghèo
rất monh manh. Tiêu chí thu nhập thường xác định theo chủ quan, không đảm bảo
chính xác nên việc thực hiện các chế độ chính sách chưa thực sự công bằng. Các hộ