ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM HƢƠNG
THẢO
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI SỬ DỤNG ĐẤT
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
HÀ NỘI - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM HƢƠNG
THẢO
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI SỬ DỤNG ĐẤT
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI
SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.3.
Một số vấn đề về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở
Việt Nam
Khái niệm về sở hữu và chế độ sở hữu đất đai
Vấn đề sở hữu đất đai trong lịch sử Việt Nam
Đặc điểm của chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt
Nam hiện nay
Vấn đề người sử dụng đất và quyền của người sử dụng đất
trong chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam
Vấn đề người sử dụng đất trong chế độ sở hữu toàn dân đối
với đất đai ở Việt Nam
Khái niệm và đặc điểm quyền của người sử dụng đất trong
chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam
Một số mô hình sở hữu đất đai trên thế giới và kinh nghiệm
trong việc ghi nhận quyền cho người sử dụng đất
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI
31
31
35
38
39
42
2.2.
Quy định của pháp luật hiện hành về quyền của người sử dụng đất
2.2.1. Thực trạng pháp luật về quyền chung của người sử dụng đất
2.2.2. Thực trạng pháp luật về quyền của tổ chức trong nước sử
dụng đất
2.2.3 Thực trạng pháp luật về quyền của hộ gia đình, cá nhân trong
nước sử dụng đất
2.2.4. Quy định về quyền của cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư sử
dụng đất
2.2.5. Quy định về quyền của tổ chức nước ngoài có chức năng
ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
2.3.
Bất cập của pháp luật hiện hành về quyền của người sử dụng đất
2.3.1. Bất cập trong quy định của pháp luật về quyền của người sử
dụng đất
2.3.2. Bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật về quyền của người
sử dụng đất
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ
45
45
106
107
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh
đạo đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, được đông đảo các tầng lớp nhân
dân ủng hộ và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Trải qua hơn 20 năm đổi mới, đất
nước ta ngày càng phát triển hướng đến mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh". Một trong những nhiệm vụ trọng tâm
trong thực hiện công cuộc đổi mới được Đảng xác định là đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế, với việc xác định lợi ích của người lao động là động lực quan
trọng của sự nghiệp phát triển đất nước. Nhằm mục tiêu giải phóng năng lực sản
xuất, phát huy tối đa tính năng động, sáng tạo của người lao động, Đảng đã lãnh
đạo việc đưa nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, trong đó xác định khâu quan trọng trong chính sách kinh tế là đổi mới
chế độ, chính sách về đất đai. Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Luật
Đất đai qua các thời kỳ đã không ngừng mở rộng và hoàn thiện các quy định
về quyền của người sử dụng đất. Nhà nước đã khẳng định và bảo đảm thực hiện
các quy định về địa vị pháp lý của người sử dụng đất, quy định việc thực hiện
giao đất, cho thuê đất cho người sử dụng đất, hoàn thiện quyền của người sử
dụng đất, đặc biệt là các quyền chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng
đất.
Nhờ các chính sách và quy định đúng đắn này đã làm cho người sử
dụng đất gắn bó hơn với đất đai, yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất, kinh
doanh để tăng hiệu quả sử dụng đất. Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam từ một
nước phải nhập khẩu lương thực đã vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo
hàng đầu thế giới. Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng
đất từng bước được tạo lập được cơ chế hoạt động đưa đất đai
góp một số vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với quy định về quyền của người sử
dụng đất.
7
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu các quy định của Luật Đất đai về
quyền của người sử dụng đất đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu lý luận, các luật gia và cán bộ thực tiễn, nhưng nhiều vấn đề lý luận và
thực tiễn liên quan đến công tác này vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau cần
được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ.
Hiện nay, ở các mức độ khác nhau đã có một số công trình nghiên cứu
được công bố như các giáo trình đại học giảng dạy về Luật Đất đai của
Trường Đại học luật Hà Nội... đã nghiên cứu khái quát các vấn đề về quyền
của người sử dụng đất.
Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyền của người sử dụng
đất phải kể đến: Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Quang Tuyến
với đề tài "Địa vị pháp lý của người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự,
thương mại về đất đai"; Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị
Hồng Nhung với đề tài "Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong
kinh doanh bất động sản ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả
Nguyễn Thị Thập với đề tài "Quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
dưới khía cạnh quyền tài sản tư theo quy định của pháp luật Việt Nam"; Luận
văn thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Doãn Cương với đề tài "Pháp luật về
chuyển nhượng quyền sử dụng đất"...
Một số bài báo nghiên cứu ở phạm vi hẹp về quyền của người sử dụng
đất đã được công bố như: bài viết của tác giả Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn
Xuân Trọng, "Bàn về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất"; bài viết của
tác giả Nguyễn Minh Thắng, "Không được hạn chế quyền của người sử dụng
động thực tiễn áp dụng Luật Đất đai liên quan đến quyền của người sử dụng đất.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền của người sử dụng đất
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền của người sử dụng đất ở
Việt Nam
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện và bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật
về quyền của người sử dụng đất ở Việt Nam.
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI SỬ DỤNG ĐẤT
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng và không thể thay thế
trong đời sống con người. Đất đai là môi trường sống và tiến hành các hoạt
động sản xuất của cải vật chất để tồn tại và duy trì nòi giống. Trải qua quá trình
lịch sử lâu dài, bằng lao động của mình con người đã sử dụng và cải tạo đất,
biến đất đai từ tài sản tự nhiên trở thành tài sản của cộng đồng, dân tộc. Luật
Đất đai năm 1993 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định:
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các
khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập,
bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay.
Do tính chất đặc biệt quan trọng của loại tài sản này mà vấn đề sở hữu
đối với đất đai có yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia.
giai đoạn lịch sử nhất định.
Với tư cách là một trong những quan hệ xã hội nền tảng, có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong xã hội, do vậy, từ rất lâu trong lịch sử quan hệ sở hữu đã
được thể chế hóa bằng pháp luật. Theo quan điểm của tác giả, về mặt pháp
lý, quan hệ sở hữu là các quyền năng pháp lý trong quá trình xác lập và vận
động của các quyền năng kinh tế đối với đối tượng sở hưu theo các quy định
của pháp luật. Toàn bộ các quy định của pháp luật về quan hệ sở hữu và cơ
chế vận hành các quan hệ sở hữu đó hợp thành chế độ pháp lý về sở hữu.
1.1.1.2. Khái niệm chế độ sở hữu đất đai
Chế độ pháp lý về sở hữu đất đai là toàn bộ các quy định pháp luật
trong việc xác lập và vận động của quan hệ sở hữu đất đai. Chế độ sở hữu đối
với đất đai bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu và các vấn
đề liên quan đến cơ chế vận hành của quan hệ sở hữu đối với đất đai.
12
Thông thường, chế độ sở hữu đất đai thường được hiểu là các quyền
năng sở hữu, các quyền năng này có thể được khái quát hóa dưới dạng quyền
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt (theo pháp luật các nước thuộc hệ thống civil
law) hoặc "bó quyền" các quyền tài sản đối với đất đai (theo pháp luật của các
nước thuộc hệ thống common law).
Quyền sở hữu nói chung và quyền sở hữu đối với đất đai nói riêng có thể
được chia nhỏ để trao cho những người không phải chủ sở hữu trên cơ sở thỏa
thuận và quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, cả quyền sở hữu của
chủ sở hữu và quyền năng của người không phải chủ sở hữu là quyền tài sản
đối với đất đai. Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật common law, quyền sở hữu
có thể phân chia theo nội dung các quyền năng để trao cho từng chủ thể. Ở các
nước thuộc hệ thống pháp luật common law cũng thừa nhận tính độc lập của
người không phải chủ sở hữu thông qua nhận chuyển giao các quyền năng của
sau khi giành thắng lợi quân xâm lược nhà Minh, vua Lê cho tiến hành thống
kê ruộng đất trong cả nước. Cùng với việc thống kê tình hình ruộng đất, năm
1429 nhà Lê đã tiến hành thu hồi ruộng đất của quan lại nhà Minh, ngụy quan,
ruộng đất của nhân dân bỏ hoang, ruộng đất của lính trốn để sung làm ruộng
đất của công. Bên cạnh đó, vua Lê còn ra lệnh cho các phủ làm sổ ruộng đất, sổ
hộ. Trên cơ sở thống kê và tịch thu đất đai, nhà nước phong kiến Việt Nam qua các
triều đại còn thực hiện quyền sở hữu tối cao của mình đối với đất đai bằng việc thi
hành chính sách lộc điền, quân điền, đặt ra tô thuế cho từng loại ruộng đất, quy
định cụ thể quyền sở hữu của mình trên ruộng đất công. Quốc triều hình luật
có quy định cấm dân không được bán ruộng đất của công cấp cho hay là ruộng
đất khẩu phần (Điều 342); trừng phạt người chiếm ruộng đất công quá số hạn định
(Điều 343).
Mặc dù chế độ sở hữu nhà nước đối với đất đai được xây dựng và
củng cố ngày càng vững chắc qua các triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt
trong triều đại Lê Sơ, tuy nhiên bên cạnh nó vẫn tồn tại hình thức sở hữu tư
nhân đối với ruộng đất. Hình thức sở hữu này bắt đầu xuất hiện từ thời Lý -
14
Trần, đến thời Lê Sơ, với chính sách cấp ruộng đất cho công thần, quan lại,
nhà nước cũng cho phép họ có quyền định đoạt (mua bán, chuyển nhượng, để thừa
kế) trừ khi họ phạm tội nên hình thức sở hữu ruộng đất tự nhân trở thành một
hình thức phổ biến. Hình thức sở hữu tư nhân về ruộng đất bao gồm: Sở hữu
của quan lại, quý tộc được nhà nước ban cấp ruộng đất; sở hữu của người lao
động do tự khai phá, mua lại ruộng đất. Nhà nước phong kiến cũng thừa nhận
và bảo hộ hình thức sở hữu này thông qua các biện pháp trừng phạt nghiêm
khắc đối với các hành vi xâm chiếm, bán trộm, tranh giành ruộng đất. Hình thức
sở hữu tư nhân về ruộng đất không ngừng phát triển qua các triều
đại phong kiến Việt Nam, tuy nhiên:
ruộng đất là một nội dung quan trọng của cách mạng dân tộc, dân chủ. Trong
Luận cương chính trị năm 1930 Đảng đã xác định chính sách đối với ruộng đất
là: "Quyền sở hữu ruộng đất thuộc về chánh phủ công nông" [11, tr. 2]. Chính
cương vắn tắt của Đảng cũng khẳng định: "Thu hết ruộng đất của đế quốc chủ
nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo" [11, tr. 3], mục tiêu này đã trở
thành động lực to lớn, thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc.
Sau cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
được thành lập. Ở Miền Bắc, các quy định về ruộng đất trước đây đều được bãi
bỏ, năm 1949 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giảm tô và ra chỉ thị chia lại ruộng
đất các đồn điền và ruộng đất vắng chủ cho nông dân sử dụng. Năm 1953, Quốc
hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua Luật cải cách ruộng đất theo
đó tịch thu ruộng đất của địa chủ, phong kiến, cường hào chia cho nông dân để
thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng" đồng thời xác lập quyền sở hữu của họ
trên những mảnh đất đó. Năm 1954, Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đất nước
tạm thời chia cắt thành hai miền. Thời kỳ này, ở miền Bắc và miền Trung tồn
tại cả hình thức quan điền (ruộng thuộc sở hữu nhà nước) và cả hình thức sở
hữu công của cộng đồng làng xã. Những diện tích đất thuộc sở hữu của cộng
đồng này xuất phát từ các cá nhân hiến, tiến cúng, do khai phá tập thể và cũng
có thể là quỹ đất trong làng được sử dụng theo
16
quy tắc trong hương ước của làng xã. Cùng với việc thực hiện cải cách ruộng
đất, tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày nghèo, vào thời kỳ này ở
Việt Nam tồn tại cả sở hữu nhà nước, sở hữu cá nhân và sở hữu của cộng
đồng dân cư đối với đất đai. Hiến pháp năm 1959 của nước ta cũng ghi nhận các
hình thức sở hữu đối với đất đai bao gồm: sở hữu nhà nước; sở hữu của hợp
tác xã (sở hữu tập thể) và tại Điều 14 ghi nhận: "Nhà nước chiểu theo pháp
- Việc tích tụ, tập trung đất đai sẽ mang lại năng suất lao động và hiệu
quả kinh tế cao hơn so với hình thức sở hữu tư nhân về đất đai. Điều này cũng
hoàn toàn phù hợp với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất
trong nông nghiệp với máy móc, phương thức canh tác hiện đại, áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách hiệu quả.
- Đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng con người, đồng thời cũng là
thứ tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong hoạt động kinh tế xã hội của con
người, do vậy mọi người đều có quyền sử dụng, không ai có quyền biến đất đai
thành tài sản riêng của mình. C.Mác đã khẳng định: "Quyền sở hữu ruộng đất là
hoàn toàn vô lý. Nói đến quyền tư hữu về ruộng đất chẳng khác gì nói đến
quyền sở hữu cá nhân đối với người đồng loại của mình. Trong chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất thì chế độ tư hữu về đất đai là vô lý nhất" [20, tr. 244-245].
- Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẩy nhanh quá trình kiệt quệ
hóa đất đai do mục tiêu của chủ đất và nhà tư bản kinh doanh trên đất là thu lợi
nhuận tối đa do vậy sẽ tìm mọi cách khai thác tối đa các thuộc tính có ích của
đất, giảm chi phí cải tạo đất đồng thời bóc lột sức lao động của người làm thuê
trên đất đó và cắt giảm tiền lương của họ. Do vậy, việc xóa bỏ hình thức sở hữu
tư nhân đối với đất đai của giai cấp tư sản cũng đồng nghĩa với việc giải phóng
người lao động thoát khỏi ách áp bức, bóc lột và xây dựng một xã hội công bằng
hơn.
- V.I. Lênin cũng chỉ ra rằng, quốc hữu hóa đất đai là một quy luật tất
yếu khách quan đối với bất kỳ quốc gia nào làm cách mạng vô sản nhưng
không nhất thiết phải tiến hành ngay lập tức sau khi giai cấp vô sản giành
chính quyền mà có thể dần dần từng bước từ thấp đến cao, từ tập thể hóa đến xã
hội hóa.
Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được tiếp tục được khẳng định tại
Điều 17 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,
là cơ sở ngày càng củng cố, hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
4. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở
hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo
quy định của pháp luật [30].
20
1.1.3.2. Đất đai không phải là đối tượng của quan hệ chuyển dịch
quyền sở hữu
Việc xác định đất đai chỉ thuộc một hình thức sở hữu duy nhất là sở hữu
của toàn dân do Nhà nước đại diện quyền sở hữu đồng nghĩa với việc Nhà
nước không thể chuyển dịch quyền sở hữu đối với đất đai cho bất cứ tổ chức, cá
nhân nào mà chỉ có thể trao "quyền sử dụng" đất cho người có nhu cầu sử dụng
đất thông qua các hình thức như giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử
dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định. Người sử dụng đất cũng
không có quyền chuyển giao quyền sở hữu đối với đất đai cho chủ thể khác khi
thực hiện các giao dịch về đất đai mà chỉ có quyền chuyển giao quyền sử dụng đất
được Nhà nước giao cho trên cơ sở pháp luật.
Khi đất đai tham gia giao dịch trên thị trường, thực chất đó là việc giao
dịch các quyền năng đối với đất mà cụ thể là quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
Thông qua việc phân chia từng bộ phận của quyền sở hữu, việc quy
định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai không làm ảnh hưởng đến việc vận
hành quan hệ đất đai theo cơ chế thị trường. Bằng việc Nhà nước với tư cách đại
diện chủ sở hữu trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình
thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất ổn định, người sử
dụng đất có quyền chuyển dịch quyền sử dụng đất đã được trao
thông quan quan hệ dân sự, kinh tế theo các quy luật của kinh tế thị trường.
1.1.3.3. Thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai phải đảm
bảo sự công bằng trong việc tiếp cận và khai thác quyền sử dụng đất của
1.2.1. Vấn đề ngƣời sử dụng đất trong chế độ sở hữu toàn dân đối
với đất đai ở Việt Nam
1.2.1.1. Khái niệm người sử dụng đất
Trong chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, người sử dụng đất là
một chủ thể không thể thiếu trong quan hệ đất đai. Người sử dụng đất là
người trực tiếp khai thác, sử dụng đất, đóng vai trò quyết định đến hiệu quả sử
dụng đất. Để xác định tư cách người sử dụng đất, người ta thường căn cứ vào
hai tiêu chí cơ bản như sau:
22
Thứ nhất: Căn cứ vào cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền sử dụng đất.
Điều này có nghĩa là một chủ thể chỉ được xác định là người sử dụng đất khi
được nhà nước cho phép sử dụng đất thông qua các hình thức pháp lý nhất
định như: giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, cho
phép nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Thứ hai: Căn cứ vào thực tế sử dụng đất, theo đó, người sử dụng đất là
những người đang trực tiếp khai thác, sử dụng, hưởng hoa lợi trên đất.
Cả hai tiêu chí này đều bộc lộ những hạn chế nhất định khi không thể
giải quyết thỏa đáng quyền lợi và trách nhiệm cho một bộ phận sử dụng đất
trên thực tế. Ví dụ đối với trường hợp căn cứ vào tiêu chí thứ nhất để xác định
người sử dụng đất, thì một số đối tượng thuê lại đất của người sử dụng đất
như các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nhận khoán của nông trường,
lâm trường không có tư cách người sử dụng đất, theo đó không được góp vốn,
thế chấp giá trị quyền sử dụng đất để đáp ứng nhu cầu sản xuất gây cản trở sự phát
triển kinh tế xã hội. Mặt khác, nếu sử dụng tiêu chí thứ hai để xác định tư cách
người sử dụng đất sẽ dẫn đến việc các trường hợp có được quyền sử dụng đất
thông qua lấn chiếm, chuyển nhượng trái phép đều được coi là người sử dụng đất
khoa học pháp lý Việt Nam tương đối thống nhất ở căn cứ xác định tư cách chủ
thể sử dụng đất. Căn cứ đó chính là việc nhà nước giao đất, cho thuê đất, công
nhận quyền sử dụng đất hợp pháp hoặc cho phép nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất.
Từ những phân tích trên, tác giả đồng ý với quan điểm xác định:
Người sử dụng đất là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được
nhà nước cho phép sử dụng đất bằng một trong các hình thức giao đất,
cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công
nhận quyền sử dụng đất; có quyền và nghĩa vụ theo quy định của
pháp luật trong thời gian sử dụng đất [42, tr. 184].
1.2.1.2. Người sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam
Khái niệm người sử dụng đất bắt đầu được đề cập từ Luật đất đai năm
1987. Điều 1 Luật đất đai 1987 quy định:
24
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý.
Nhà nước giao đất cho các nông trường, lâm trường, hợp tác
xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, xí nghiệp, đơn vị vũ
trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân - dưới
đây gọi là người sử dụng đất - để sử dụng ổn định, lâu dài
Nhà nước còn giao đất để sử dụng có thời hạn hoặc tạm thời [25].
Vào thời điểm này, người sử dụng đất bao gồm các tổ chức kinh tế nhà
nước, cơ quan nhà nước và các cá nhân. Cơ sở pháp lý để trở thành người sử
dụng đất đó là được nhà nước giao đất.
Luật đất đai cũng đề cập đến đối tượng sử dụng đất đặc biệt là tổ chức, cá
nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức liên doanh, hợp tác của Việt Nam
và nước ngoài, tuy nhiên, các chủ thể này không được coi là người sử dụng
đất.